Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Proxy Vote / Phiếu Bầu Thay

Phiếu bầu thay là phiếu được một thực thể bầu thay cho thực thể khác. Trong các công ty, cổ đông thường trao quyền cho đội ngũ quản lí của công ty để bỏ phiếu thay mặt cho họ trong cuộc họp cổ đông.

Phiếu bầu thay là phiếu được một thực thể bầu thay cho thực thể khác. Trong các công ty, cổ đông thường trao quyền cho đội ngũ quản lí của công ty để bỏ phiếu thay mặt cho họ trong cuộc họp cổ đông.

Prudence Concept / Nguyên Tắc Thận Trọng

Thông tin kế toán được cung cấp cho người sử dụng cần đảm bảo sự thận trọng thích đáng, để người sử dụng không hiểu sai hoặc không đánh giá quá lạc quan về tình hình tài chính của đơn vị. Do đó, kế toán: + Chỉ ghi tăng nguồn vốn sở hữu khi có chứng cứ chắc chắn + Ghi giảm nguồn vốn sở hữu khi có chứng cứ có thể.

Personal Finance / Tài Chính Cá Nhân

Tài chính cá nhân là sự áp dụng các nguyên tắc kinh tế vào các quyết định chi tiêu của một cá nhân hay một hộ gia đình. Trong đó bao gồm cách thức mà cá nhân hay hộ gia đình có được thu nhập, cân đối thu chi, tiết kiệm hoặc sử dụng nguồn tiền của mình qua thời gian, có tính toán đến các rủi ro về mặt tài chính và các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai. Các thành tố của tài chính cá nhân bao gồm việc quản lý các tài khoản gửi tiết kiệm, thẻ tín dụng, các khoản mua chịu, các khoản đầu tư vào thị trường chứng khoán, kế hoach hưu trí, các khoản phúc lợi xã hội, hợp đồng bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân. Một bộ phận rất quan trọng trong rài chính cá nhân đó là lập các kế hoạch tài chính. Đây là một quá trình động, đòi hỏi có sự điều chỉnh và đánh giá lại thường xuyên. Nhìn chung quá trình này có 5 bước: Tiến hành định giá: một tình huống liên quan đến tài chính cá nhân có thể được đánh giá thông qua các "bảng cân đối kế toán" và "báo cáo thu nhập" đã được đơn giản hoá. Bảng cân đối kế toán của mỗi cá nhân sẽ liệt kê giá trị các khoản tài sản của cá nhân (hộ gia đình ) đó ví dụ như: ôtô, nhà cửa, khoản vay ngân hàng, khoản cầm cố... Báo cáo dòng tiền của cá nhân sẽ liệt kê các khoản thu nhập và chi tiêu của người đó. Thiết lập mục tiêu: xác lập mục tiêu sẽ hỗ trợ cho việc lên kế hoạch tài chính của mỗi người. Mục tiêu có thể là nghỉ hưu khi 50 tuổi với mức thu nhập ròng là 800.000$ hoặc mua một ngôi nhà trong vòng 3 năm mà chỉ phải trả chi phí lãi vay mỗi tháng không quá 25% tổng thu nhập...Bạn nên xác lập mục tiêu dài hạn cũng như mục tiêu ngắn hạn để có định hướng rõ ràng. Lập kế hoạch: lập các kế hoạch tài chính, cụ thể hoá các bước cần phải làm để đạt được mục tiêu. Trong kế hoạch chi tiết này nên đề ra các biện pháp nhằm giảm bớt các khoản chi phí không cần thiết, tăng doanh thu hoặc kế hoạch tìm kiếm lợi nhuận thông qua đầu tư vào thị trường chứng khoán. Thực hiện kế hoạch: để có thể thực hiện được kế hoạch đề ra thì bạn cần phải tuân thủ một số quy tắc và cũng cần có sự kiên trì nhất định. Bạn có thể xin hỗ trợ từ các chuyên gia tư vấn tài chính hay luật sư của mình. Quản lý và đánh giá lại: vì qua thời gian, các kế hoạch tài chính cá nhân đều có thể có những khác biệt so với điều kiện và hoàn cảnh hiện tại, vì thế bạn cần quản lý tốt kế hoạch tài chính của mình để có những sự điều chỉnh và đánh giá lại cho phù hợp.

Tài chính cá nhân là sự áp dụng các nguyên tắc kinh tế vào các quyết định chi tiêu của một cá nhân hay một hộ gia đình. Trong đó bao gồm cách thức mà cá nhân hay hộ gia đình có được thu nhập, cân đối thu chi, tiết kiệm hoặc sử dụng nguồn tiền của mình qua thời gian, có tính toán đến các rủi ro về mặt tài chính và các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai. Các thành tố của tài chính cá nhân bao gồm việc quản lý các tài khoản gửi tiết kiệm, thẻ tín dụng, các khoản mua chịu, các khoản đầu tư vào thị trường chứng khoán, kế hoach hưu trí, các khoản phúc lợi xã hội, hợp đồng bảo hiểm và thuế thu nhập cá nhân. Một bộ phận rất quan trọng trong rài chính cá nhân đó là lập các kế hoạch tài chính. Đây là một quá trình động, đòi hỏi có sự điều chỉnh và đánh giá lại thường xuyên. Nhìn chung quá trình này có 5 bước: Tiến hành định giá: một tình huống liên quan đến tài chính cá nhân có thể được đánh giá thông qua các "bảng cân đối kế toán" và "báo cáo thu nhập" đã được đơn giản hoá. Bảng cân đối kế toán của mỗi cá nhân sẽ liệt kê giá trị các khoản tài sản của cá nhân (hộ gia đình ) đó ví dụ như: ôtô, nhà cửa, khoản vay ngân hàng, khoản cầm cố... Báo cáo dòng tiền của cá nhân sẽ liệt kê các khoản thu nhập và chi tiêu của người đó. Thiết lập mục tiêu: xác lập mục tiêu sẽ hỗ trợ cho việc lên kế hoạch tài chính của mỗi người. Mục tiêu có thể là nghỉ hưu khi 50 tuổi với mức thu nhập ròng là 800.000$ hoặc mua một ngôi nhà trong vòng 3 năm mà chỉ phải trả chi phí lãi vay mỗi tháng không quá 25% tổng thu nhập...Bạn nên xác lập mục tiêu dài hạn cũng như mục tiêu ngắn hạn để có định hướng rõ ràng. Lập kế hoạch: lập các kế hoạch tài chính, cụ thể hoá các bước cần phải làm để đạt được mục tiêu. Trong kế hoạch chi tiết này nên đề ra các biện pháp nhằm giảm bớt các khoản chi phí không cần thiết, tăng doanh thu hoặc kế hoạch tìm kiếm lợi nhuận thông qua đầu tư vào thị trường chứng khoán. Thực hiện kế hoạch: để có thể thực hiện được kế hoạch đề ra thì bạn cần phải tuân thủ một số quy tắc và cũng cần có sự kiên trì nhất định. Bạn có thể xin hỗ trợ từ các chuyên gia tư vấn tài chính hay luật sư của mình. Quản lý và đánh giá lại: vì qua thời gian, các kế hoạch tài chính cá nhân đều có thể có những khác biệt so với điều kiện và hoàn cảnh hiện tại, vì thế bạn cần quản lý tốt kế hoạch tài chính của mình để có những sự điều chỉnh và đánh giá lại cho phù hợp.

Pseudo-Demand Schedule / Biểu Cầu-Giả

Mối quan hệ hàm số cho biết số tiền một cá nhân muốn thanh toán cho một loạt các đơn vị kế tiếp của một hàng hoá công cộng hoặc cho các đơn vị tiêu dùng kế tiếp của hàng hoá đó bởi các cá nhân khác (như kết quả sự tồn tại của một ngoại ứng có lợi).

Public Choice / Sự Lựa Chọn Công Cộng

Một ngành kinh tế học liên quan đến việc áp dụng kinh tế học vào việc phân tích sự quyết định "Phi thị trường".

Public Company / Công Ty Đại Chúng

Công ty đại chúng là công ty cổ phần đã phát hành chứng khoán ra công chúng. Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành trở thành công ty đại chúng (có đăng ký). Công ty đại chúng có nghĩa vụ phải công khai thông tin về hoạt động của mình theo quy định của pháp luật, Ủy ban Chứng khoán Nhà nuớc và Sở Giao dịch chứng khoán nhằm đảm bảo cho nhà đầu tư có đuợc thông tin đầy đủ về hoạt động thuờng xuyên cũng như những sự kiện bất thuờng của công ty. Ưu điểm của hình thức tổ chức công ty đại chúng: - Công ty được xã hội biết đến do có tên tuổi xuất hiện công khai trên thị trường chứng khoán, trên báo chí, công ty đã khẳng định được danh tiếng uy tín thì khi cần huy động vốn ngoài xã hội, công ty dễ dàng có thể tiếp tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu với chi phí phát hành thấp hơn lần phát hành truớc. - Công ty phải báo cáo công khai hoạt động của mình cho công chúng, nên chịu sự giám sát của công chúng, xã hội. Thêm vào đó, Hội đồng Quản trị và Ban giám đốc phải công khai các hoạt động quản lý và điều hành công ty. Ban giám đốc phải chăm lo việc phát triển công ty cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý, cơ cấu hợp lý vốn, nếu không thì các giám đốc sẽ bị sa thải; nhu vậy hoạt động công ty đại chúng đã ràng buộc các giám đốc phải tuân thủ pháp luật, điều hành công ty theo đúng luật công ty. - Nhà nước bớt đuợc gánh nặng phải trợ giúp vốn ngân sách cho công ty, và như vậy Nhà nuớc có thể tập trung sức lực vào nhiệm vụ trọng đại của mình là đầu tư cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên hình thức công ty đại chúng cũng tồn tại một số nhược điểm: - Sau khi hoàn tất việc phát hành công ty sẽ chịu áp lực giám sát của xã hội, chịu áp lực phải duy trì đuợc giá cổ phiếu của mình trên thị trường chứng khoán để thu hút nhà đầu tư. - Trong hoạt động của mình, công ty sẽ phải bỏ ra nguồn lực lớn về tài chính và con người để chuẩn bị các báo cáo tài chính thường niên, báo cáo các sự kiện bất thường xảy ra đối với công ty, báo cáo khi Uỷ ban Chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán (Trung tâm giao dịch chứng khoán) yêu cầu. - Khi phát hành, công ty sẽ phải chịu các chi phí đợt phát hành: chi phí thuê hãng kiểm toán độc lập để lập báo cáo kiểm toán hoạt động của công ty, chi phí thuê người bảo lãnhphát hành, chi phí chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ để xin phép phát hành, chi phí quảng cáo cho đợt phát hành. - Cơ cấu cổ đông thuờng xuyên thay đổi dẫn đến sự biến đổi và bất ổn định trong quá trình quản lý công ty, và có thể đe doạ đến quyền kiểm soát của các cổ đông lớn.

Public Expediture / Chi Tiêu Công Cộng

Nói một cách rộng rãi, chi tiêu của các cơ quan chính quyền địa phương và quốc gia được phân biệt với chi tiêu tư nhân, những tổ chức hoặc doanh nghiệp tư nhân.

Perpetual Bond / Trái Phiếu Vĩnh Viễn

Trái phiếu vĩnh viễn (perpetual bond hay Perpetual hay gọi ngắn gọn chỉ là Perp) là trái phiếu không có ngày đáo hạn. Loại trái phiếu này không phổ biến ở Mỹ, nhưng cũng phổ biến ở một số nước như Anh Quốc (công trái hợp nhất - Consols), ở Pháp (Công trái thực lợi - Rentes). Do không có ngày đáo hạn nên tổ chức phát hành này sẽ không thu hồi trái phiếu này, và coi như người nắm giữ trái phiếu sẽ sở hữu một "khoản cho vay" có thể coi là vĩnh viễn, chính vì vậy họ cũng sẽ được hưởng lãi suất mãi mãi. Đa phần trái phiếu vĩnh viễn mà công ty phát hành hiện nay thuộc loại trái phiếu bổ sung, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho tổ chức đó mà việc thanh toán những khoản nợ này không qui định quá nghiêm ngặt. Trên thực tế những trái phiếu loại này có thể thanh toán được, tức là người cầm giữ chúng vẫn có thể thu hồi lại khoản tiền của mình, nhưng lần yêu cầu trả nợ đầu tiên ít nhất phải là 10 năm kể từ ngày phát hành. Có thể công ty sẽ thực hiện việc trả nợ trái phiếu này vào lúc làm ăn hiệu quả, lợi nhuận cao nhưng việc trả nợ này hoàn toàn phụ thuộc vào công ty phát hành. Ngược lại nếu công ty vỡ nợ thì việc trả nợ trái phiếu này sẽ là nghĩa vụ sau cùng của công ty, và khả năng người cầm giữ trái phiếu mất trắng hoặc chỉ thu hồi được tiền một phần là rất cao. Và nếu xét về bản chất thì trái phiếu vĩnh viễn là "vốn loại 1". Vốn loại 1 là những nguồn vốn bắt nguồn từ những chứng khoán mà chủ sở hữu (cổ đông) không thể thu hồi lại bằng cách đòi tiền trực tiếp từ tổ chức phát hành, ví dụ như cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu bổ sung. Đây là những nguồn vốn "chặt" của một công ty, có thể hiểu là không bao giờ bị suy giảm. Trái phiếu vĩnh viễn là một trong loại trái phiếu bổ sung nên nó thuộc "Vốn loại 1", một khi công ty đã phát hành trái phiếu này có thể coi công ty sẽ sở hữu khoản vốn này một cách mãi mãi, tất nhiên sẽ phải trả lãi suất cho người cầm giữ mãi mãi. Chính vì vậy tương tự như trái phiếu bổ sung, công ty sẽ phát hành trái phiếu vĩnh viễn khi nhu cầu vốn lên cao nhưng không muốn chia sẻ quyền quản lý, và muốn giữ nguồn vốn từ loại trái phiếu này ổn định. Trái phiếu vĩnh viễn thích hợp với những người có khoản tiền nhàn rỗi ưa hưởng lãi suất cố định hàng năm và không muốn đầu tư chứng khoán mạo hiểm.

Permanent Income Hypothesis / Giả Thuyết Thu Nhập Thường Xuyên

Giả thiết cho rằng tiêu dùng của cá nhân hoặc hộc gia đình phụ thuộc vào thu nhập thường xuyên của cá nhân ấy hoặc hộ ấy.

Permanent Income / Thu Nhập Thường Xuyên

Thu nhập thường xuyên cũng có nghĩa là thu nhập bình thường và thu nhập dự kiến trung bình. Nó là thu nhập trung bình mà cá nhân hoặc hộ gia đình dự kiến nhận được trong một số năm trong khi vẫn giữ nguyên của cải của mình.

Permanent Consumption / Mức Tiêu Dùng Thường Xuyên

Mức tiêu dùng trung bình mà một cá nhân hoặc hộ gia đình dự định thực hiện trong một số năm.

Mức Tiêu Dùng Thường Xuyên (Permanent Consumption) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Mức Tiêu Dùng Thường Xuyên (Permanent Consumption) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Periodic Inventory Method / Phương Pháp Kiểm Kê Định Kỳ

Hệ thống kiểm soát hàng tồn kho trong đó ghi chép lại những thay đổi không liên tục theo chu kỳ của hàng hóa được lưu giữ ( biên lai và các vấn đề của hàng tồn kho). Khi kết thúc kỳ kế toán, việc kết thúc đợt kiểm kê hàng tồn kho sẽ được xác định bởi một số lượng (vật lý) thực tế của hàng còn trong kho và chi phí của nó được tính toán bằng cách sử dụng một phương pháp phù hợp như FIFO, LIFO, trung bình trọng.v.v… Số tiền này được trừ vào số tiền mua hàng ( hoặc chi phí của hàng hóa đầu vào) và thời điểm ban đầu của kê khai hàng tồn kho của một kỳ kế toán mới cho đến chi phí của hàng bán.

Phương Pháp Kiểm Kê Định Kỳ (Periodic Inventory Method) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phương Pháp Kiểm Kê Định Kỳ (Periodic Inventory Method) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Public Finance / Tài Chính Công

Trên thực tế, có nhiều ý kiến khác nhau về phạm trù tài chính công - có ý kiến cho rằng tài chính công đồng nghĩa với tài chính nhà nước, nhưng có ý kiến khác lại cho rằng tài chính công là một bộ phận tài chính nhà nước. Nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của tài chính có thể thấy, khi nhà nước xuất hiện thì đồng thời cũng xuất hiện các khoản chi tiêu về quản lý hành chính, tư pháp, quốc phòng nhằm duy trì quyền lực chính trị của nhà nước và những khoản chi tiêu này được tài trợ từ các nguồn lực đóng góp của xã hội như: thuế, công trái, vay nợ, tiền lãi phát hành tiền - đó là nguồn tài chính để phục vụ các chi tiêu của Chính phủ. (Nếu có sự chênh lệch giữa khoản thu vào và chi ra thì được gọi là thặng dư hoặc thâm hụt ngân sách.) Và thuật ngữ tài chính nhà nước đã bắt đầu xuất hiện. Đây là một khái niệm dùng để phản ảnh những hoạt động tài chính gắn liền với chủ thể nhà nước. Tài chính công (hay còn gọi là kinh tế công hoặc tài chính nhà nước, tài chính chính phủ) là một thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế học, dùng để nghiên cứu về chi phí hoạt động của Chính phủ và các tổ chức tự nguyện, tập trung kiểm soát và thiết kế hoạt động đó. Trong đó các vấn đề cần ưu tiên giải quyết là Chính phủ nên làm gì - đang làm gì - làm thế nào - để có tiền chi trả cho các hoạt động đó. Chính phủ được xác định có 3 loại chi tiêu chính: Tiêu dùng: Chính phủ mua hàng hoá và dịch vụ để sử dụng; Đầu tư: Chính phủ mua hàng hoá và dịch vụ với mục đích tạo ra lợi nhuận trong tương lai; Phân phối phúc lợi: chi phí không dùng để mua sắm hàng hoá, dịch vụ mà chi tiêu vào các hoạt động phúc lợi xã hội.

Tài Chính Công (Public Finance) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tài Chính Công (Public Finance) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Performance Bond / Trái Phiếu Bảo Đảm

1. Trái phiếu đòi hỏi thanh toán khoản tiền cho người vay thụ hưởng, nếu người mua hay người ký phát không thực hiện điều gì đó hay vi phạm hợp đồng. Nó có thể là trái phiếu bảo đảm được mua từ công ty bảo hiểm, hay tiền mặt được giữ trong tài khoản giám hộ bởi ngân hàng hay bên thứ ba.  2. Thư tín dụng hỗ trợ được phát hành bởi một ngân hàng, bảo đảm cho một ngân hàng phát hành sẽ trả cho người thụ hưởng là bên thứ ba, trong trường hợp khách của ngân hàng không đáp ứng nghĩa vụ hợp đồng. Ví dụ. một nhà thầu có thể đề nghị công ty bảo hiểm phát hành một giấy bảo chứng vì quyền lợi của khách hàng mà nhà thầu này kí hợp đồng xây dựng một toà nhà. Nếu nhà thầu này không hoàn thành công trình theo như thiết kế đã nêu lên trong hợp đồng (thường là do phá sản) thì khách hàng sẽ được đảm bảo bồi thường mọi tổn thất về mặt tài chính trong phạm vi số tiền của giấy bảo chứng. Giấy bảo chứng thường được sử dụng phổ biến trong phát triển các dự án bất động sản, trong đó nhà đầu tư hoặc chủ công trình có thể yêu cầu nhà phát triển dự án(developer) đảm bảo các nhà thầu hay các nhà quản lý dự án có mua những bảo lãnh kiểu như vậy để chắc chắn rằng giá trị công trình sẽ không bị tổn thất trong trường hợp cố sự cố bất ngờ. Ngoài ra giấy bảo chứng cũng được sử dụng để đảm bảo thực hiện các hợp đồng kì hạn, nếu đến kì hạn mà bên kí hợp đồng không mua hàng (nếu giá bất lợi chẳng hạn) thì bên kia sẽ được bồi thường bằng số tiền như trong giấy bảo chứng. Trong lĩnh vực ngoại thương người mua có thể yêu cầu người bán phải có giấy bảo chứng của ngân hàng, đảm bảo rằng người bán sẽ giao hàng đúng hẹn. Đến thời hạn giao hàng, nếu người mua đã chỉ định một con tàu đến cảng bốc để nhận hàng mà người bán không có hàng để giao thì người mua sẽ nhận được số tiền bồi thường từ phía ngân hàng bảo lãnh cho người bán. Số tiền này giúp người mua bù đắp một phần hoặc toàn bộ các chi phí đã bỏ ra để chuẩn bị cho việc thực hiện hợp đồng như tiền thuê tàu, các loại chi phí lệ phí liên quan khi vào cảng.

1. Trái phiếu đòi hỏi thanh toán khoản tiền cho người thụ hưởng, nếu người mua hay người ký phát không thực hiện điều gì đó hay vi phạm hợp đồng. Nó có thể là trái phiếu bảo đảm được mua từ công ty bảo hiểm, hay tiền mặt được giữ trong tài khoản giám hộ bởi ngân hàng hay bên thứ ba. 2. Thư tín dụng hỗ trợ được phát hành bởi một ngân hàng, bảo đảm cho ngân hàng phát hành sẽ trả cho người thụ hưởng là bên thứ ba, trong trường hợp khách hàng của ngân hàng không đáp ứng nghĩa vụ hợp đồng.

Public Good / Hàng Hóa Công Cộng

Một hàng hoá hoặc dịch vụ mà nếu đã cung cấp cho một người nào đó thì đối với những người khác cũng được cung cấp như vậy mà không phải chịu bất cứ chi phí nào thêm.

Public Issue / Phát Hành Công Cộng

Phương pháp thực hiện một sự phát hành mới về CHỨNG KHOÁN trong đó cơ quan phát hành, chẳng hạn một công ty hoặc một chính quyền địa phương bán các chứng khoán một cách trực tiếp cho công chúng với mức giá ấn định.

Perfect Market / Thị Trường Hoàn Hảo

Thị trường hoàn hảo là thị trường đặc trưng bởi rất nhiều người mua và người bán với những sản phẩm đồng nhất. Việc tham gia vào và rút ra vào trong một ngành là không (hoặc gần như không) tạo thêm chi phí. Thông tin được cung cấp đầy đủ và miễn phí cho các thành viên tham gia trên thị trường, không có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp trong ngành.

Public Relation / Quan Hệ Công Chúng

Tìm hiểu một định nghĩa đầy đủ về PR (Public Relation) trong bối cảnh hiện nay là điều khá khó khăn vì theo thống kê chưa đầy đủ hiện nay có đến khoảng gần 500 định nghĩa khác nhau về PR. Theo Tổ chức Nghiên cứu và Đào tạo PR Mỹ (Foundation of PR Research and Education) có định nghĩa PR được tổng hợp từ 472 định nghĩa khác nhau: “PR là một chức năng quản lý giúp thiết lập và duy trì các kênh truyền thông, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác lẫn nhau giữa một tổ chức với các nhóm công chúng có liên quan. PR bao gồm việc quản lý sự việc và vấn đề; giúp thông tin cho ban lãnh đạo để đáp ứng kịp thời trước ý kiến công chúng; xác định và nhấn mạnh trách nhiệm của ban lãnh đạo là phục vụ quyền lợi của các nhóm công chúng. PR giúp ban lãnh đạo bắt kịp và vận dụng hiệu quả các thay đổi, hoạt động như một hệ thống dự báo để tiên đón các xu hướng; sử dụng việc nghiên cứu và những kỹ thuật truyền thông hợp lý và có đạo đức làm công cụ chính.” Ở Việt Nam, PR được hiểu như một nối kết với truyền thông trong việc quảng bá hoạt động kinh doanh và giới thiệu sản phẩm, con đường nhanh và hiệu quả nhất trong kinh doanh hiện đại. Thay cho các hoạt động đăng quảng cáo cổ điển, các công ty PR tạo ra các hoạt động dễ gây chú ý đến hệ thống truyền thông và lồng vào đó các sản phẩm của mình. Hiệu ứng của nó trong giới tiêu dùng được xem là hiệu ứng cấp hai đối với hệ thần kinh tâm lý, khác hoàn toàn với thủ pháp “nhắc đi nhắc lại” trên các trang báo hay chương trình quảng cáo, tiếp thị tẻ nhạt, kích thích chủ yếu hệ thần kinh tâm lý quán tính.

Perfect Hedge / Phòng Ngừa Hoàn Hảo

Phòng ngừa hoàn hảo ý muốn nói đến vị thế nhà đầu tư đang nắm giữ có thể hạn chế được rủi ro của vị thế hiện tại hoặc là một vị thế có thể giúp danh mục hạn chế tất cả rủi ro thị trường. Nhằm mục tiêu phòng ngừa hoàn hảo, một vị thế cần có tương quan nghịch 100% với vị thế ban đầu. Vì thế, mà phòng ngừa hoàn hảo hiếm khi nào xảy ra. Ví dụ thường thấy cho một chiến lược phòng ngừa gần như hoàn hảo là một nhà đầu tư sử dụng một kết hợp giữa các cổ phiếu đang nắm giữ và thực hiện đối lập các vị thế quyền chọn để tự bảo vệ, chống các khoản lỗ trong vị thế cổ phiếu của mình.

Public Relations (PR) / Quan Hệ Công Chúng

Một trong những khái niệm ra đời sớm nhất về PR được khởi xướng bởi Edward Bernays. Theo ông: "Quan hệ công chúng là một chức năng của quản lý nhằm tìm hiểu thái độ của công chúng, xác định chính sách, quy trình kinh doanh và lợi ích của tổ chức, theo đó là việc thực hiện một chương trình hành động nhằm tạo ra sự hiểu biết về sản phầm cho công chúng và đi đến chấp nhận". Theo 2 chuyên gia về PR người Mỹ là Scott M. Cutlips và Allen H. Center "PR là một nỗ lực có kế hoạch nhằm tác động đến quan điểm của công chúng thông qua sản phẩm tốt và kinh doanh có trách nhiệm dựa trên giao tiếp 2 chiều đôi bên cùng có lợi" Ngoài ra PR còn được hiểu là nghệ thuật và khoa học của quản lý truyền thông giữa tổ chức và các phần tử then chốt của công chúng nhằm xây dựng, quản lý, và giữa vững hình ảnh tốt đẹp của tổ chức. Qua các khái niệm trên có thể rút ra mục đích cao nhất của PR là xây dựng được một hình ảnh tốt đẹp về công ty và sản phẩm trong lòng công chúng từ đó công ty nhằm tới các chiến lược phát triển riêng của mình. PR gồm:a. Đánh giá quan điểm và thái độ của công chúngb. Xây dựng công thức và tiến hành quy trình và chính sách liên quan đến giao tiếp với công chúng.c. Kết hợp tất cả các chương trình truyền thôngd. Phát triển mối quan hệ tốt và thiện chí của khách hàng thông qua giao tiếp 2 chiều.e. Bồi dưỡng mối quan hệ tốt đẹp giữa tổ chức và các nhóm công chúng. Ngày nay PR thường bị hiểu nhầm, và có lẽ đó là lỗi của ngành công nghiệp PR. Mọi người thường bị lẫn lộn không biết PR dừng lại ở giai đoạn nào và khi nào thì sẽ được gọi là Marketing, quảng cáo, xây dựng thương hiệu .v.v.. Tất nhiên các công ty PR có một đội bao gồm các cá nhân đến từ các lĩnh vực khác nhau của truyền thông và có khả năng ung cấp tất cả các dịch vụ liên quan đến PR như lập thương hiệu, marketing, quảng cáo... Chính điều này càng làm cho khái niệm PR dễ bị nhầm lẫn.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55