Prior Distribution / Phân Phối Trước
Phân phối xác xuất của một biến số hoặc thống kê, là đặc trưng của của thông tin tiên nghiệm cần kết hợp với thông tin mẫu trong các kỹ thuật Bayes.
Point Estimation / Ước Lượng Điểm
Sự ước lượng của giá trị thực tế của một thông số, khác biệt với ƯỚC LƯỢNG KHOẢNG CÁCH, nó bao gồm việc tính toán các khoảng tin cậy (thông thường) đối với giá trị thực của thông số.
Prisoner's Dilemma / Thế Lưỡng Giải Của Người Tù; Thế Tiến Thoái Lưỡng Nan Của Người Tù
Cụm thuật ngữ này xuất hiện từ một sự xem xét các vấn đề về quyết định của những tội phạm bị bắt gĩư và thẩm vấn riêng rẽ. Mô hình này cho thấy một cách xử sự hợp lý ở tầng vi mô sẽ dẫn đến một hậu qủa vĩ mô bất hợp lý.
Plurality / Quy Tắc Đa Số
Một hệ thống giữa sự lựa chọn tập thể trong đó giải pháp được chọn là giải pháp xếp đầu tiên do có số người bỏ phiếu lớn nhất.
Plato / 427-347BC
Nhà triết học Hy Lạp đã phản ứng lại thời kỳ rối ren trước đay và ông cho rằng chính sự tăng trưởng kinh tế chịu một phần trách nhiệm về sự rối ren đó, nên ông đã đề xuất ý kiến rằng nhà nước lý tưởng phải là một nhà nước vững vàng dựa trên một hệ thống đẳng cấp và giai cấp thống trị thực hiện một cách sống mang tính cộng đồng. Thành tựu kinh tế của ông bao gồm sự phân tích sự phân công lao động và phân tích vai trò của tiền quy ước.
Private Company / Privately Held Company / Công Ty Tư Nhân
Thuật ngữ Công ty tư nhân được hiểu theo hai cách: Thứ nhất: Đó là công ty không thuộc quyền sở hữu của nhà nước Thứ hai: Đó là những công ty có cổ phần được nắm giữ bởi một số ít các cổ đông và các cổ đông đó không bán cổ phiếu trên thị trường. Công ty tư nhân có hai nghĩa khác nhau như vậy, nên việc sử dụng thuật ngữ cần thận trọng vì có thể gây hiểu nhầm. Ở nước xã hội chủ nghĩa như nước ta, công ty tư nhân được hiểu là công ty không thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Còn ở Mỹ, công ty tư nhân thường là những công ty kinh doanh có cổ phiếu không được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Chính vì những nghĩa trên, công ty tư nhân có thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, tờ-rớt (trust), hoặc những tên khác.
Plant Bargaining / Sự Thương Lượng Ở Một Nhà Máy
THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ giữa người chủ của một nhà máy với các đại diện của công nhân viên để thiết lập các mức lương và điều kiện làm việc ở nhà máy đó.
Private Equity / Góp Vốn Tư Nhân
Private Equity (Góp vốn tư nhân) được định nghĩa theo nhiều cách và thay đổi theo từng quốc gia. Tuy nhiên, theo cách định nghĩa phổ biến nhất Private Equity được xem như một loại tài sản bao gồm các phần vốn góp vào các doanh nghiệp chưa niêm yết trong khoảng thời gian trung hạn hoặc dài hạn đề giúp doanh nghiệp đó phát triển và thành đạt. Một số nhà đầu tư lại cho rằng Private Equity chỉ đơn thuần là đầu tư bằng việc mua lại cổ phần công ty, một số khác thì cho rằng Private Equity bao gồm tất cả các loại như mua lại bằng vốn vay nợ (Leverage Buy-out), đầu tư vốn mạo hiểm (Venture Capital), hay vốn phát triển (Growth Capital). Ở Anh, Private Equity ra đời vào giai đoạn cuối thế kỷ 18 với sự có mặt ban đầu của một số nhà đầu tư tư nhân lành mạnh, họ góp vốn vào các dự án đầu tư giúp chúng trở nên thành công. Vào những năm 70 – 80 của thế kỷ trước, Private Equity trở thành một ngành công nghiệp với sự ra đời của hàng loạt các công ty Private Equity. Khoảng hơn 80% các công ty này đang nằm ở Anh, hàng năm cung cấp hàng tỉ Bảng Anh cho các doanh nghiệp chưa niêm yết. Để đơn giản hóa, có thể hiểu Private Equity là một công cụ hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, thuộc phần vốn chủ sở hữu, do một nhà đầu tư (phần lớn trong các trường hợp là một định chế tài chính) mua tạm thời một phần vốn của doanh nghiệp (đóng vai trò như một chủ sở hữu tạm thời). Các doanh nghiệp này thường là các doanh nghiệp chưa niêm yết, có tiềm năng lớn, năng động trong cách ngành có nhiều hứa hẹn với mục đích là kiếm lời bằng việc tham gia vào vốn của doanh nghiệp trong khoảng thời gian trung và dài hạn. Ưu điểm của loại hình huy động vốn này là thông thường các chủ doanh nghiệp không phải lo đến việc mất quyền làm chủ của mình (mặc dù tham gia vào vốn chủ sở hữu và đứng vai trò như một chủ sở hữu doanh nghiệp nhưng chỉ trong một thời gian quy định bởi hợp đồng giữa chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư này, các chủ doanh nghiệp có quyền đặt ra các giới hạn về quyền lực trong doanh nghiệp), chi phí ban đầu không quá cao, không yêu cầu trả theo kỳ hạn và quy mô thông thường là đủ mức độ lớn theo nhu cầu của doanh nghiệp, nhằm giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về vốn cho các dự án đang chuẩn bị bắt đầu thực hiện hoặc các dự án tương lai. Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể tận dụng sự hỗ trợ về các mặt khác của bên góp vốn như quản lý, kế toán, công nghệ mới. Đây có thể coi như là một công cụ tài chính huy động vốn phái sinh mà nhược điểm của nó là nhà đầu tư Private Equity không sẵn sàng tham gia vào tất cả các doanh nghiệp, đồng thời có thể đặt ra các điều kiện không có lợi cho DN hoặc nếu nhà đầu tư đã từng tham gia vào các doanh nghiệp khác không thành công trong quá khứ thì cũng có thể làm ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Planometrics / Kế Hoạch Lượng
Một ngành kinh tế học đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các kế hoạch kinh tế vĩ mô tối ưu.
Private Equity Fund / Quỹ Cổ Phần Riêng
Quỹ cổ phần riêng là các nhóm, hội sở hữu một lượng vốn do các công ty cổ phần riêng đầu tư vào. Mặc dù có thể tồn tại dưới các hình thức khác, nhưng nhìn chung các quỹ cổ phần riêng thường được thành lập dưới dạng các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các công ty giao vốn và được kiểm soát bởi các công ty cổ phần riêng, đóng vai trò là các thành viên hợp danh. Các công ty giao vốn (limited partnership) thường được gọi là quỹ (fund), và các thành viên hợp danh đôi khi được chỉ định đóng vai trò làm công ty giám sát (Management Company). Các quỹ này sẽ huy động được vốn từ một số nhà đầu tư có khả năng đáp ứng được các tiêu chuẩn đề ra, ví dụ như: các quỹ hưu trí (pension fund), các tổ chức tài chính và các cá nhân có tiềm lực tài chính lớn_các nhà đầu tư này sẽ cam kết lượng đóng góp của họ vào quỹ. Khi đó, họ sẽ trở thành các thành viên góp vốn của quỹ, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình. Khi thành viên hợp danh xác định được cơ hội đầu tư phù hợp, thì quỹ sẽ yêu cầu các thành viên góp vốn đóng góp lượng vốn cổ phần bắt buộc theo tỉ lệ vốn mà họ đã cam kết đóng góp. Tất cả các quyết định đầu tư sẽ do thành viên hợp danh quyết định, đây đồng thời cũng là người sẽ quản lý danh mục đầu tư của quỹ. Trong suốt thời gian tồn tại (thường kéo dài khoảng 10 năm) quỹ này sẽ tiến hành từ 15 đến 25 hoạt động đầu tư riêng lẻ và thường không có hoạt động nào được phép chi quá 10% tổng số vốn cam kết. Thành viên hợp danh thường được bù đắp bằng các khoản như: chi phí quản lý (tính bằng tỉ lệ phần trăm trên tổng vốn cổ phần của quỹ), chi phí điều hành (chi phí do các công ty nằm trong danh mục đầu tư trả cho thành viên hợp danh) và các chi phí giao dịch (là chi phí trả cho thành viên hợp danh do khả năng tư vấn của họ trong các vụ M&A). Thường thì thành viên hợp danh sẽ nhận được phí quản lý hàng năm là từ 1% đến 2% của vốn cam kết, hưởng 20% trên số lãi vượt trội so với mục tiêu đề ra_thường mục tiêu lợi nhuận nằm trong khoảng từ 8% đến 10% (được gọi là ngưỡng lợi suất). Tổng thu nhập của quỹ có thể lên trên mức 20% một năm. Mức sinh lợi cao trong trường hợp sử dụng đòn bẩy nợ để mua lại chủ yếu là do mức vay nợ quá cao của các công ty nằm trong danh mục đầu tư, hoặc là do công ty đã tiến hành các hoạt động đầu tư có mức độ mạo hiểm hơn từ trước đó (rủi ro càng cao thì mức sinh lời càng lớn). Các công ty cổ phần riêng thường thu lợi từ hoạt động đầu tư của mình thông qua ba con đường: Thứ nhất: tiến hành IPO Thứ hai: tiến hành bán hoặc sáp nhập công ty mà họ kiểm soát Tiến hành tái vốn hóa Các chứng khoán chưa được niêm yết trên thị trường có thể được công ty bán trực tiếp cho các nhà đầu tư hoặc các quỹ đầu tư riêng (thường gọi là chào phát hành riêng lẻ_private offering), do đó có thể gọi thêm vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nhỏ, tạo ra một quỹ đầu tư (capital pool). Việc cân nhắc lựa chọn giữa đầu tư vào một quỹ cổ phần riêng và đầu tư dưới các hình thức khác bao gồm các điểm sau đây: - Phần lớn các quỹ cổ phần riêng đều đòi hỏi lượng đầu tư ban đầu lớn (thường là từ 100,000$ trở lên) cộng thêm các khoản đầu tư khác trong năm đầu tiên hoạt động, được gọi bằng thuật ngữ "drawdown"- Các khoản đầu tư vào công ty giao vốn (là dạng đầu tư chủ yếu của các công ty cổ phần riêng) thường được coi là các khoản đầu tư không có tính lỏng. Một khi đã đầu tư rồi thì sẽ rất khó có thể sử dụng được dòng tiền này bởi chúng bị khóa chặt trong các khoản đầu tư dài hạn, có thể kéo dài tới 12 năm. Việc phân phối lợi nhuận chỉ được thực hiện khi mà các khoản đầu tư này đã được chuyển sang dạng tiền mặt, thường thì các thành viên góp vốn sẽ không có quyền yêu cầu bán các tài sản tài chính khác để quy ra tiền. - Nếu các công ty cổ phần riêng không thể tìm thấy cơ hội tốt để đầu tư, họ sẽ không viện tới cam kết góp vốn của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, trong trường hợp các quỹ đầu tư tiến hành đầu tư vào các công ty làm ăn thất bại, nhà đầu tư sẽ có nguy cơ bị trắng tay. Điều này đặc biệt đúng đối với các quỹ đầu tư mạo hiểm. Cùng với các rủi ro trên đây, thì các quỹ cổ phần riêng có thể mang lại thu nhập cao hơn, với đội ngũ quản trị viên tốt hơn hẳn thị trường đại chúng (public market). Nhìn chung, đầu tư vào các quỹ cổ phần riêng là hoạt động dành cho những người có khả năng để vốn của mình bị đóng băng trong thời gian dài, sẵn sàng chấp nhận rủi ro bị mất trắng cả cơ nghiệp. Nhưng bù lại, họ có thể được hưởng mức lợi suất hàng năm lên tới 30% nếu quỹ làm ăn thành công. Phần lớn các quỹ cổ phần riêng chỉ chào đón các nhà đầu tư là tổ chức và các cá nhân có tiềm lực tài chính mạnh. Luật pháp cũng có những quy định nghiêm ngặt bởi quỹ cổ phần riêng sẽ ít chịu sự kiểm soát của cơ quan chức năng hơn các quỹ tương hỗ khác. Ví dụ, ở Mỹ, phần lớn các quỹ cổ phần riêng yêu cầu nhà đầu tư tiềm năng phải có tài sản ròng từ 1 triệu $ trở lên, với cá nhân phải có thu nhập từ trên 200.000$, hoặc tổng thu nhập của cả hai vợ chồng là từ 300.000$ trong hai năm liên tiếp gần đây (phải có bằng chứng xác thực) và dòng thu nhập đó là liên tục và ổn định.
Planned Economy / Nền Kinh Tế Kế Hoạch Hoá
Một nền kinh tế trong đó các quá trình kinh tế chủ yếu được quyết định ở một mức độ lớn không phải do các tác nhân thị trường, mà do một cơ quan kế hoạch hoá kinh tế, cơ quan này thực hiện các mục tiêu kinh tế chủ yếu của xã hội.
Plagiarism / Đạo Văn
Plagiarism (theo tiếng Latin lấy ý từ từ "kidnap" - bắt cóc trong tiếng Anh) là một từ mô tả việc tuyên bố, ngụ ý quyền tác giả gốc hoặc, toàn bộ hoặc một phần, tài liệu sử dụng từ sản phẩm viết hoặc kết quả lao động sáng tạo của một (một số) người khác là của mình nhưng không có ghi chú hoặc một hình thức tương tự để ghi nhận về công lao của tác giả gốc. Plagiarism không giống với giả mạo (giấy tờ hay chữ ký), trong trường hợp giả mạo, tính xác thực của chữ ký, tài liệu hay một dạng tương tự đã bị đặt câu hỏi còn với plagiarism vấn đề liên quan đến sự không thành thực trong quy kết và sở hữu giá trị tác phẩm. Plagiarism đôi khi có thể được thực hiện một cách vô thức, do trong từng môi trường văn hóa, một số hành động về nguyên lý là vi phạm nhưng lại được xã hội nhìn nhận theo cách khác. Như thế, khái niệm plagiarism nếu hiểu đơn giản trong tiếng Việt có thể gần với từ "đạo văn" hoặc thông tục hơn là "ăn cắp ý" Trong lĩnh vực học thuật, việc sinh viên, giáo sư, hoặc các nhà nghiên cứu thực hiện "đạo văn" được coi là một hành vi phản khoa học, dối trá và sẽ phải chịu nhiều hình thức chỉ trích, phê bình khoa học. Trong ngành báo chí, "đạo văn" được coi là một hình thức vi phạm các giá trị đạo đức hành nghề báo chí, phóng viên thực hiện "đạo văn" sẽ chịu các hình thức kỉ luật từ cảnh cáo cho đến buộc thôi việc. "Đạo văn" trong khoa học và báo chí là vấn đề được đề cập và thẳng thắn phê phán từ nhiều thế kỷ. Tuy nhiên với sự phát triển của Internet, trong môi trường văn bản điện tử, việc thực hiện "đạo văn" trở lên dễ dàng hơn bao giờ hết.
Placing / Nghiệp Vụ Bày Bán
Một phương pháp thực hiện một cuộc phát hành mới về CHỨNG KHÓAN, CỔ PHẦN HOẶC TRÁI PHIẾU CÔNG TY, bằng phương pháp này các chứng khoán đầu tiên được một nhà phát hành mua, sau đó được bán thông qua thoả thuận tư nhân, cho các thể chế, các chủ đầu tư tư nhân và cũng cho những người buôn bán cổ phần ở sở giao dịch chứng khoán London.
Pivot Point / Điểm Giới Hạn
Pivot point là chương trình tính toán được sử dụng cho các nhà kinh doanh ngoại hối để kiểm soát sự dao động giá. Các nhà kinh doanh ngoại hối thường xuyên sử dụng những điểm giới hạn như một phương tiện để tính toán các mức hỗ trợ và kháng cự. Các mức hỗ trợ và kháng cự này lần lượt đuợc sử dụng như những chỉ dẫn trực quan để thực hiện các giao dịch. Khác với phân tích cơ bản dựa trên những chỉ dẫn kinh tế như tình hình tỉ lệ thất nghiệp quốc gia, sự tăng giảm lãi suất, cán cân thanh toán và khối lượng hàng hóa bán lẻ của quốc gia. Những tính toán về điểm giới hạn cung cấp cho nhà kinh doanh những điểm chuẩn trực quan mà từ đó có thể tiên đoán được sự thay đổi về giá. Phân tích điểm giới hạn Pivot trading (giao dịch trong giới hạn) bắt đầu với những tính toán của điểm giới hạn. Điểm giới hạn là trung bình của giá cao, giá thấp và giá đóng cửa ngày hôm trước. Điểm giới hạn =( H+L+C)/3 Với: H biểu thị cho giá cao ngày hôm trước L biểu thị cho giá thấp ngày hôm trước C biểu thị cho giá đóng cửa ngày hôm trước Tính toán các mức hỗ trợ và mức kháng cự Khi điểm giới hạn của một ngày nào đó đã được tính toán, các nhà kinh doanh sẽ chuyển thành mức kháng cự (R1) và mức hỗ trợ ban đầu (S1) với giả định là các giao dịch sẽ được tiến hành với cùng phạm vi như ngày hôm trước: R1 = (2 x PP) - L S1 = (2 x PP ) - H Mức hỗ trợ và kháng cự thứ hai được sử dụng khi có sự kiện giá bị phá vỡ trong suốt phạm vi giao dich của ngày hôm trước và tiếp tục cho đến khi nó gặp phải một mức kháng cự cao hơn hoặc một mức hỗ trợ thấp hơn: R2 = (PP-S1) + R1 S2 = PP - (R1 - S1) Nền tảng hợp lý Một số nhà kinh doanh tin rằng có hai khuynh hướng phổ biến trong sự dao dộng giá. Nếu giá bắt đầu của một ngày ở phía trên điểm giới hạn, thì nó sẽ có khuynh hướng tiếp tục ở cao hơn điểm đó cho đến khi nó gặp phải điểm kháng cự. Ngược lại, nếu giá bắt đầu của một ngày ở phía dưới điểm giới hạn thì nó cũng sẽ có khuynh hướng tiếp tục ở phía dưới điểm đó cho đến khi nó gặp được điểm hỗ trợ. Mức kháng cự là mức giá có khuynh hướng chống lại sự chuyển động giá lên cao hơn nữa. Tương tự, mức hỗ trợ là mức giá có khuynh hướng chống lại sự chuyển động giá xuống thấp hơn nữa. Nên chú ý rằng các mô hình thị trường tiêu chuẩn không ủng hộ bất cứ sự tin tưởng nào cả. Điển hình như một nhà kinh doanh , khi giá đang đến gần đến vị trí cao hơn điểm giới hạn, anh ta sẽ đợi cho đến khi bắt đầu xuất hiện sự đảo ngược tại điểm đó rồi bán. Ngược lại, khi giá đang xuống, anh ta đợi cho đến lúc xuất hiện sự bật lên khỏi điểm hỗ trợ để đặt mua.
Private Equity Fund / Quỹ Đầu Tư Vốn Cổ Phần Cá Nhân
Quỹ đầu tư vốn cổ phần cá nhân là một dạng quỹ đầu tư vào các công ty và/hoặc tổ chức kinh doanh với mục đích nắm giữ lợi ích kiểm soát (thường là trở thành cổ đông lớn, trong một số trường hợp là cổ đông lớn nhất và do vậy, đảm nhiệm vị trí tái cấu trúc đối tượng nhận đầu tư cả về vốn, quản lý, hạ tầng tổ chức... Các đối tượng nhận đầu tư thông thường chuyển sang hoạt động với hình thức không đại chúng trong thời gian từ 3-7 năm, trước khi được chuyển sang đại chúng thông qua IPO. Quá trình tái cấu trúc có thể được thực hiện thông qua: Leverage buyout, LBO hoặc Buyout: chiến lược đầu tư cổ phần cá nhân trong quỹ đầu tư cổ phần cá nhân sử dụng nguồn tài chính huy động (vay nợ) để mua lại một phần lớn hoặc toàn bộ cổ phần của các cổ đông hiện hữu tại đối tượng đầu tư. Công ty/đối tượng nhận đầu tư thường đã bước vào giai đoạn phát triển và có dòng tiền mặt ổn định. Đầu tư mạo hiểm: đầu tư vào các doanh nghiệp mới thành lập, bắt đầu dấu hiện tăng trưởng, hoặc đang mở rộng. Có thể chia thành công ty ở giai đoạn phát triển sớm (sử dụng vốn đầu tư để bắt đầu vận hành kinh doanh) và giai đoạn phát triển muộn (sử dụng vốn đầu tư để mở rộng qui mô sản xuất hiện tại, có tiềm năng nhưng chưa vượt qua ngưỡng hòa vốn và thu lợi nhuận cao). Vốn tăng trưởng: đầu tư vào các công ty đã phát triển tốt, có nhu cầu huy động một tỷ lệ vốn nhỏ để mở rộng, tái cấu trúc vận hành, hoặc tham gia thị trường mới. Trong trường hợp này, quỹ đầu tư cổ phần cá nhân không nắm quyền kiểm soát kinh doanh. Một số tên tuổi: Goldman Sachs Private Equity Group, KKR (Kohlberg, Kravis, Roberts & Co.), Apollo Management, Bain Capital, Blackstone Group, Hellman & Friedman, Carlyle, and Texas Pacific Group.
Private Good / Hàng Hóa Riêng Tư
Một hàng hoá sẽ thể hiện sự cạnh tranh trong tiêu dùng và là loại hàng hoá mà người sản và người tiêu dùng đều có khả năng thực hiện được sự loại trừ.
Private Offering (Private Placement) / Phát Hành Riêng Lẻ
Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định, thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài, như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí... với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Tức là ngân hàng đầu tư sẽ đứng ra mua trọn gói số chứng khoán phát hành và phân phối lại cho các nhà đầu tư. Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, còn việc phát hành cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này bởi lẽ cổ phiếu là một mặt hàng hấp dẫn và phổ biến trên thị trường chứng khoán, công ty thường phát hành rộng rãi cổ phiếu ra công chúng như một hình thức huy động vốn hiệu quả. Ngược với phát hành riêng lẻ, phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng và được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định. Chính vì vậy thủ tục phát hành công chúng thường phức tạp hơn là phát hành riêng lẻ, thường phải đi kèm với một số điều kiện về tình hình kinh doanh công ty và khối lượng phát hành có sự thẩm định của Ủy ban chứng khoán nhà nước. Việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng có ý nghĩa rất lớn. Việc phân biệt này là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán hướng tới mục tiêu an toàn, công khai và có hiệu quả cho mọi nhà đầu tư. Quỹ thành viên (Quỹ đầu tư cá nhân) là ví dụ điển hình cho phương thức phát hành riêng lẻ. Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Bởi lẽ mục tiêu của Quỹ này là nhằm tập hợp một số nhà đầu tư có tiềm lực tài chính để tham gia đầu tư mạo hiểm triển vọng đem lại lợi nhuận rất cao nhưng rủi ro vô cùng lớn. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ.
Privatization / Tư Nhân Hóa
Chính sách chuyển đổi sở hữu công cộng của một tài sản thành sở hữu tư nhân hoặc cho phép một tổ chức kinh doanh ở khu vực tư nhân hực hiện một hoạt động nào đó cho đến lúc ấy vẫn được tiến hành bởi một tổ chức công cộng.
Privatization In Eastern Europe / Tư Nhân Hóa Ở Đông Âu
Là việc chuyển hoạt động từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân ở Đông Âu với niềm tin rằng sự kiểm soát và sở hữu tư nhân sẽ có hiệu quả hơn về việc phân bố nguồn lực so với sở hữu nhà nước.
Pivot Effect Hypothesis / Giả Thuyết Về Hiệu Ứng Quay
Lập luận cho rằng CHÍNH SÁCH THU NHẬP không những tạo nên các hiệu ứng dịch chuyển trong quá trình điều chỉnh tiền lương mà còn có thể làm thay đổi độ dốc của đường cong Phillips, hoặc nói một cách chuyên môn hơn, làm thay đổi độ lớn của sự phản ứng của tỷ lệ thay đổi về lương đối với các yếu tố quyết định gây ra sự thay đổi đó.





