Poverty / Sự Nghèo Khổ
Sự nghèo khổ có thể được xem xét với một quan niệm tuyệt đối hoặc tương đối.
Potential Pareto Improvement / Sự Cải Thiện Pareto Tiềm Năng
Một sự cải thiện Pareto tiềm năng tồn tại khi những người kiếm được lợi do một sự thay đổi, thì với tính chất giả thiết có thể bù đắp cho người thua thiệt, và có thể không ai bị kém đi sau sự thay đổi hoặc sao cho ít nhất cũng có một người được khá lên.
Price To Cash Flow Ratio / Chỉ Số Giữa Giá Và Dòng Tiền Mặt
Chỉ số này là một phép đo mức độ kì vọng của thị trường đối với sức khỏe tài chính tương lai của doanh nghiệp. Do phép đo này giải quyết các vấn đề về dòng tiền mặt, nên khấu hao và các nhân tố không phải là tiền mặt khác không ảnh hưởng đến chỉ số. Tương tự với chỉ số P/E, phép đo này cho phép xác định giá trị tương đối của cổ phiếu: Price to Cash Flow = Share Price/ Cash flow per Share = Giá cổ phiếu / dòng tiền trên một cổ phiếu.
Potential Output / Sản Lượng Tiềm Năng
Sản lượng khả thi tối đa của một doanh nghiệp, một ngành, một khu vực của một nền kinh tế hoặc toàn bộ một nền kinh tế là mức độ được xác định của các yếu tố sản xuất.
Price To Earning Ratio / Hệ Số Giá Trên Thu Nhập Cổ Phần
P/E là tỷ lệ giữa giá thị trường và lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần của một công ty. Chính định nghĩa này đã ngầm định một cách đơn giản để tính toán chỉ số này, chỉ cần lấy giá hiện tại của mỗi cổ phần chia cho lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần đó (Earnings per share - EPS): P/E = Giá trị thị trường / EPS Trong hầu hết các trường hợp, việc tính toán tỷ lệ P/E đều có sử dụng tới chỉ số EPS của 4 quý trước. Điều này được hiểu như là một dấu hiệu của P/E. Tuy nhiên, cũng có lúc chỉ số EPS được lấy từ việc ước tính lợi nhuận kì vọng cho 4 quý tiếp theo. P/E tính theo cách này được gọi là P/E định hướng hay P/E kế hoạch. Một cách tính khác cũng thường được thấy là sử dụng EPS của hai quý trước đó và ước tính cho hai quý tiếp theo. Trên thực tế thì không có sự khác biệt lớn lắm giữa các cách tính trên. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng trong cách tính đầu tiên, bạn sử dụng dữ liệu có thật từ hoạt động trong quá khứ của công ty. Hai cách tính khác dựa vào những tính toán ước lượng, do đó không phải lúc nào cũng hoàn hảo và chính xác. Khi các công ty làm ăn không có lãi, tất yếu là EPS của công ty đó sẽ âm, do vậy việc tính toán P/E của các công ty này sẽ gặp nhiều khó khăn. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc làm thế nào để giải quyết được vấn đề này. Một số ý kiến cho rằng cứ để hệ số P/E âm, một số khác thì cho rằng nên gán cho P/E trong trường hợp này giá trị bằng 0, trong khi phần lớn ý kiến khác thì nghĩ đơn giản là trong trường hợp này, P/E không tồn tại. Thông thường, tỷ lệ P/E trung bình trên thị trường thường dao động trong khoảng từ 15 – 25. Sự dao động này phần lớn phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế. Hệ số P/E cũng rất khác nhau giữa các công ty và các ngành, lĩnh vực kinh doanh.
Potential Entry / Sự Nhập Ngành Tiềm Năng
Đối với một ngành cụ thể, đó là khả năng cạnh tranh mới của các hãng - các hãng chưa sản xuất các sản phẩm cạnh tranh.
Postwar Credits / Các Tín Dụng Hậu Chiến
Một hình thức tiết kiệm bắt buộc được áp dung ở Anh trong chiến tranh thế giới thư hai trong ngân sách năm 1941.
Post-Keynesian Economics / Kinh Tế Học Hậu Keynes; Kinh Tế Học Sau Keynes
Một nhóm các nhà kinh tế học coi sự nhìn nhận của J.M.KEYNES và M.KALECKI là khởi điểm của một sự phê bình phân tích sự cân bằng thông thường và là cơ sở cho môn kinh tế học vĩ mô mới.
Posterior Distribution / Phân Phối Sau
Phân phối xác suất của một biến số hoặc thống kê là kết quả của sự phối hợp giữa phân phối trước và thông tin mẫu trong kỹ thuật BAYES.
Positivism / Chủ Nghĩa Thực Chứng
Học thuyết triết học cho rằng các định đề mà không thể xác minh được khi đối chiếu với bằng chứng thực tiễn thì chí ít phải coi là không thể chấp nhận được như là một bộ phận của khoa học hoặc ở mức cao nhất là vô nghĩa.
Chủ Nghĩa Thực Chứng (Positivism) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Chủ Nghĩa Thực Chứng (Positivism) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Positive Theory / Lý Thuyết Thực Chứng
Lý thuyết thực chứng là một phát biểu về tình hình thực tế của sự vật, hiện tượng. Nó khác hẳn với lý thuyết chuẩn tắc là qui tắc nói về điều chúng ta "nên làm." Lý thuyết thực chứng là một sự mô tả, tả thực về một vài phần quan sát được của thế giới kinh doanh hay kinh tế thực, và chỉ ra cách thức những phần ta quan sát được đó vận hành ra sao. Ví dụ, một lý thuyết hướng tới thị trường chứng khoán có thể đem lại một giả thiết về cách thức các lực lượng hiện hữu trên thị trường chứng khoán tương tác với nhau để hình thành mức giá họ cùng công nhận. Lý thuyết thực chứng theo cách này không hẳn sẽ đưa ra bất kỳ chỉ dẫn gì về nhận thức xem chúng ta nên hành động và cư xử ra sao. Nó chỉ đưa ra hiểu biết nhận thức được từ quan sát. Tuy nhiên, khi có đủ nhiều, thì cuối cùng những hiểu biết thu được từ các lý thuyết thực chứng sẽ rất hữu ích cho con người trong quá trình cải thiện các hành vi, chính sách trên thực tế. Nói ngắn gọn, con người xây dựng nên các lý thuyết thực chứng để nhằm cải thiện nhận thức và hiểu biết của mình về cách thức mà thế giới tồn tại và phát triển, sau đó chúng ta sử dụng nhận thức đó để chỉ dẫn cho hành động và quyết định của mình.
Positive Feedback / Negative Feedback / Phản Ứng Thuận Chiều / Nghịch Chiều
Phản ứng thuận chiều là cách thức phản ứng của những người tham gia thị trường trước những biến động theo hướng làm cho những biến động ấy càng mạnh hơn. Ngược lại, phản ứng nghịch chiều trước những biến động của thị trường có xu hướng là giảm biến động đó. Ví dụ: trên thị trường chứng khoán giá một cổ phiếu X tăng liên tục từ $10 lên, $20, $30,... các nhà đầu tư cho rằng cổ phiếu này còn tăng giá mạnh hơn nữa và tiếp tục mua vào đẩy cầu lên cao, và làm cho giá còn cao hơn nữa. Đó là phản ứng thuận chiều. Ngược lại, khi giá X lên cao, nhà đầu tư nhận thấy rằng P/E của nó đã tăng đến mức vô lý và đi tìm cổ phiếu khác, làm cho cầu giảm và giá giảm. Đây là phản ứng nghịch chiều. Kết quả của phản ứng thuận chiều luôn được nhân lên nhiều lần khiến một biến động nhỏ của thị trường cũng có thể gây ra một thay đổi lớn. Phản ứng thuận chiều sẽ đẩy toàn bộ thị trường vượt xa khỏi điểm cân bằng ban đầu của nó, khuếch đại tín hiệu ban đầu của thị trường, và cuối cùng gây ra một hiệu ứng bùng nổ với cấp số nhân. Do đó phản ứng thuận chiều là một cơ sở để người ta giải thích cho những giai đoạn bùng nổ kinh tế quá mức dẫn đến sụp đổ, thường gọi là bong bóng kinh tế. Nếu như phản ứng thuận chiều làm thị trường bị đẩy xa khỏi điểm cân bằng thì phản ứng nghịch chiều có xu thế kéo thị trường trở lại mức cân bằng. Do vậy phản ứng nghịch chiều có xu hướng chống lại biến động, duy trì sự ổn định, cân bằng trên thị trường.
Price To Earning Ratio / Hệ Số Giá Trên Thu Nhập Một Cổ Phần
P/E là tỷ lệ giữa giá thị trường và lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần của một công ty. Chính định nghĩa này đã ngầm định một cách đơn giản để tính toán chỉ số này, chỉ cần lấy giá hiện tại của mỗi cổ phần chia cho lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần đó (EPS): P/E = Giá trị thị trường /Lợi nhuận ròng trên một cổ phần (EPS). 3Trong hầu hết các trường hợp, việc tính toán tỷ lệ P/E đều có sử dụng tới chỉ số EPS của 4 quý trước. Điều này được hiểu như là một dấu hiệu của P/E. Tuy nhiên, cũng có lúc chỉ số EPS được lấy từ việc ước tính lợi nhuận kì vọng cho 4 quý tiếp theo. P/E tính theo cách này được gọi là P/E định hướng hay P/E kế hoạch. Một cách tính khác cũng thường được thấy là sử dụng EPS của hai quý trước đó và ước tính cho hai quý tiếp theo. Trên thực tế thì không có sự khác biệt lớn lắm giữa các cách tính trên. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng trong cách tính đầu tiên, bạn sử dụng dữ liệu có thật từ hoạt động trong quá khứ của công ty. Hai cách tính khác dựa vào những tính toán ước lượng, do đó không phải lúc nào cũng hoàn hảo và chính xác. Khi các công ty làm ăn không có lãi, tất yếu là EPS của công ty đó sẽ âm, do vậy việc tính toán P/E của các công ty này sẽ gặp nhiều khó khăn. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc làm thế nào để giải quyết được vấn đề này. Một số ý kiến cho rằng cứ để hệ số P/E âm, một số khác thì cho rằng nên gán cho P/E trong trường hợp này giá trị bằng 0, trong khi phần lớn ý kiến khác thì nghĩ đơn giản là trong trường hợp này, P/E không tồn tại. Thông thường, tỷ lệ P/E trung bình trên thị trường thường dao động trong khoảng từ 15 – 25. Sự dao động này phần lớn phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế. Hệ số P/E cũng rất khác nhau giữa các công ty và các ngành, lĩnh vực kinh doanh. Vậy hệ số P/E được sử dụng để làm gì? Theo lý thuyết, P/E của một cổ phiếu sẽ cho chúng ta biết là các nhà đầu tư sẵn lòng trả bao nhiêu cho mỗi dollar tiền lãi là bao nhiêu. Với nội dung này, đôi khi P/E còn được gọi là số nhân (multiple) của một cổ phiếu. Nói cách khác, một tỉ lệ P/E ở mức 20 sẽ cho biết rằng cá nhà đầu tư vào cổ phiếu này sẵn lòng chi 20$ cho mỗi một đôla lợi nhuận mà công ty đó tạo ra. Tuy nhiên, đây là cách tiếp cận P/E quá đơn giản và không tính đến triển vọng tăng trưởng của công ty đó. Mặc dù số liệu EPS trong công thức tính P/E thường dựa chủ yếu vào lợi nhuận ròng từ hoạt động kinh doanh của công ty trong 4 quý trước đó nhưng P/E cũng không chỉ đơn thuần là thước đo về hiệu quả hoạt động của công ty trong quá khứ. Kỳ vọng của thị trường về sự phát triển của công ty cũng là một nhân tố được tính tới trong chỉ số này. Nên nhớ rằng, giá cổ phiếu của một công ty sẽ phản ánh nhận định của các nhà đầu tư về giá trị của công ty đó. Tiềm năng phát triển trong tương lai cũng được tính tới khi định giá cổ phiếu. Do đó, một cách tốt hơn để lý giải tỉ lệ P/E đó là P/E là sự phản ánh mức độ lạc quan cũng như kì vọng của thị trường về khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai. Nếu một công ty có hệ số P/E cao hơn mức trung bình của toàn bộ thị trường mức bình quân ngành, điều này có nghĩa là thị trường đang kỳ vọng vào khả năng tăng trưởng tốt của công ty trong một thời gian tới, có thể là vài tháng hoặc vài năm nữa. Một công ty có hệ số P/E cao cuối cùng sẽ phải “xứng đáng với kì vọng của thị trường” thể hiện thông qua sự tăng trưởng lớn về lợi nhuận hoạt động, nếu không chắc chắn giá cổ phiếu của công ty đó sẽ giảm. Một ví dụ điển hình là tập đoàn FPT. Vài năm trước đây, khi mà tập đoàn này tăng trưởng ngoạn mục, và có tỷ lệ P/E trên 80. Ngày nay, FPT là một trong những công ty lớn nhất tại Việt Nam, tuy nhiên thu nhập và lãi của công ty này không thể duy trì với tốc độ tăng trưởng như trước đây. Tỷ lệ P/E của tập đoàn đã giảm xuống mức 9,13 vào ngày 28/11/2008. Sự sụt giảm tỷ lệ P/E là điều hết sức bình thường khi các công ty có tốc độ tăng trưởng ở mức cao vào giai đoạn mới hình thành, củng cố được vị thế và danh tiếng của mình sau đó chuyển thành các công ty bluechips. Đắt hay rẻ Kết hợp P/E để đánh giá giá trị cổ phiếu tốt hơn hẳn so với việc sử dụng đơn thuần giá trị thị trường của cố phiếu đó. VD: nếu các yếu tố khác là tương tự nhau, một cổ phiếu có giá 10000VNĐ và P/E là 75 sẽ đắt hơn một cổ phần trị giá 100.000VNĐ nhưng có tỷ lệ P/E chỉ là 20. Điều này có nghĩa sử dụng P/E để phân tích cũng sẽ có hạn chế nhất định, bạn không thể so sánh tỷ lệ P/E của 2 công ty quá khác biệt nhau để quyết định rằng công ty nào có giá trị tốt hơn. Sẽ rất khó để có thể quyết định rằng một chỉ số P/E nào đó là cao hay thấp nếu như không tính toán hai nhân tố chính: Thứ nhất là tốc độ tăng trưởng của công ty - Công ty đó đã phát triển như thế nào trong quá khứ và tốc độ tăng trưởng này có được kỳ vọng sẽ tăng lên, hay ít nhất là cũng sẽ duy trì không đổi trong tương lai hay không? Rõ ràng là không ổn nếu như trước đây công ty có mức tăng trưởng là 5 nhưng lại có tỷ lệ P/E ở mức trung bình. Nếu như tỷ lệ tăng trưởng kế hoạch không điều chỉnh lại hệ số P/E, khi đó giá cổ phần sẽ cao hơn giá trị thực. Trong trường hợp này, tất cả những gì bạn phải làm là tính toán chỉ số P/E sử dụng EPS kế hoạch. Thứ hai là yếu tố ngành kinh doanh - việc so sánh các công ty với nhau chỉ thực sự hữu dụng khi các công ty đó nằm trong cùng một ngành kinh doanh. Ví dụ, các doanh nghiệp hay thực thể kinh doanh thường có số nhân (multiple) thấp bởi các doanh nghiệp này hoạt động trong ngành kinh doanh có tốc độ tăng trưởng thấp và tương đối ổn định. Ngược lại, ngành công nghệ là một ngành có tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc và liên tục có sự đổi mới.Việc so sánh các công ty công nghệ này so với các thực thể kinh doanh nói trên sẽ chẳng cho bạn thấy được điều gì. Bạn chỉ nên so sánh các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành kinh doanh, hoặc so sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu bình quân ngành. P/E và những mặt hạn chế. Cho đến giờ thì chúng ta biết được rằng trong một số trường hợp nhất định, P/E có thể giúp xác định xem liệu một công ty có được đánh giá quá cao hoặc đang bị định giá thấp hay không. Nhưng việc phân tích tỷ lệ P/E cũng chỉ có giá trị trong một số trường hợp nào nhất định và việc phân tích nà vẫn có những “cạm bẫy”. Một vài nhân tố có thể khiến cho việc phân tích P/E trở nên vô ích bao gồm: Hoạt động kế toán: Lợi nhuận ròng là một chỉ số kế toán bao gồm cả những khoản mục phi tiền tệ. Hơn nữa việc tính toán lợi nhuận doanh nghiệp bị chi phối bởi các nguyên tắc kế toán. Mà các nguyên tắc kế toán (GAAP) có thể thay đổi theo thời gian, cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia. Để khiến cho mọi việc thêm phức tạp, EPS có thể bị bóp méo, hoặc ẩn chứa dưới nhiều con số, phụ thuộc vào cách thức làm sổ sách kế toán của doanh nghiệp như thế nào. Và kết quả là chúng ta vẫn không thể biết được liệu có so sánh đúng những số liệu này không, hay lại đang so quả táo với quả lê? Thông thường việc tuân thủ các nguyên tắc kế toán (GAAP) mà những nguyên tắc này thay đổi theo thời gian và khác nhau trong từng nước. Làm phức tạp thêm các vấn đề, EPS có thể bị bóp méo, prodded và cho vào trong những con số khác nhau phụ thuộc vào bạn làm sổ sách kế toán như thế nào. Kết qủa là chúng ta vẫn không biết được dù chúng ta so sánh những con số như nhau hay apples to oranges (để hiểu rõ hơn về vấn đề này, hãy xem các loại khác nhau của EPS) Lạm phát: Trong thời gian lạm phát cao, hàng tồn kho và chi phí khấu hao có khuynh hướng giảm đi vì chi phí thay thế hàng hoá và trang thiết bị tăng theo mức giá chung của thị trường. Do đó, tỷ lệ P/E có khuynh hướng thấp hơn trong suốt thời gian lạm phát cao bởi lợi nhuận đã bị bóp méo đi, lớn hơn với con số thực tế. Cũng như tất cả các chỉ số khác, việc xem xét P/E trong một thời gian để xác định xu hướng sẽ hữu ích hơn nhiều. Lạm phát sẽ khiến cho việc theo dõi trở nên khó khăn vì thông tin trong quá khứ sẽ không còn phù hợp nhiều với điều kiện hiện tại nữa, độ sai lệch cũng lớn hơn. Có nhiều cách lý giải P/E Một tỷ lệ P/E thấp cũng không nhất thiết là công ty đó bị định giá thấp. Thay vào đó, điều này có nghĩa là thị trường đang tin rằng công ty có thể sẽ gặp khó khăn trong tương lai gần. Giá cổ phiếu giảm thường do tác động của một số nguyên nhân nào đó. Có thể là do công ty đã cảnh báo rằng lợi nhuận ròng thu được sẽ thấp hơn kỳ vọng. Điều này sẽ không được phản ánh trong hệ số P/E cho đến khi thông tin về lợi nhuận ròng thật sự được đưa ra, trong suốt thời gian đó thì công ty có thể bị đánh giá thấp hơn giá trị thực.
Positive Economics / Kinh Tế Học Thực Chứng
Kinh tế học thực chứng giải thích sự hoạt động của nền kinh tế một cách khách quan hoặc một cách khoa học. Mục tiêu của kinh tế học thực chứng là giải thích xã hội quyết định như thế nào về tiêu thụ, sản xuất và trao đổi hàng hóa. Sự khảo sát như vậy nhằm hai mục đích: (1) để thỏa mãn tính tò mò của chúng ta về nguyên nhân tại sao nền kinh tế lại hoạt động như nó đang hoạt động, và (2) để có cơ sở cho việc dự đoán xem nền kinh tế sẽ phản ứng như thế nào với những thay đổi của hoàn cảnh. Trong kinh tế học thực chứng, các hành vi kinh tế được kỳ vọng sẽ được thực hiện với những quyết định mang tính khoa học, hợp lô-gíc và không thiên vị. Quan tâm về kết cục của hành vi kinh tế có khác nhau, nhưng trước tiên, các tác nhân kinh tế đều cùng chung một quan tâm: đời sống kinh tế thực hoạt động ra sao? Ở đây, không có chỗ đứng cho các ý kiến đánh giá theo tiêu chuẩn cá nhân. Các giả thiết được quan tâm trong kinh tế học thực chứng có dạng: Nếu cái này bị thay đổi thì điều gì sẽ xảy ra? Về khía cạnh này, kinh tế học thực chứng tương tự các môn khoa học tự nhiên như vật lý, địa chất hay thiên văn.
Kinh Tế Học Thực Chứng (Positive Economics) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kinh Tế Học Thực Chứng (Positive Economics) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Positioning Statement / Tuyên Ngôn Định Vị
Là lời tuyên ngôn về một vị trí mà công ty mơ ước rằng sản phẩm hay thương hiệu của mình có thể chiếm giữ được trong tâm trí khách hàng. Trong marketing, định vị được xem là linh hồn của một kế hoạch truyền thông hiệu quả. Một bản tuyên bố định vị tốt sẽ giúp bạn xác định được phương hướng chính xác cho cả công ty. Một trong những phát biểu sâu sắc về định vị lại có nguồn gốc từ câu chuyện cổ tích “Alice lạc vào xứ sở thần tiên”. Khi Alice hỏi Ông mèo Nhăn Nhó cô cần phải chọn con đường nào để đi, ông ta đã trả lời :”Nếu cô không quan tâm cô sẽ đi đến đâu, mọi con đường đối với cô đều như nhau” Thị trường ngày nay đã có quá nhiều chiến dịch marketing truyền thông diễn ra xung quanh bạn. Nếu không có định hướng hay sự tập trung rõ ràng, công ty của bạn cũng sẽ hành động không khác mọi người – nói quá nhiều nhưng truyền đạt không được gì và cũng chẳng đến đâu cả. Trong marketing, định vị được xem là linh hồn của một kế hoạch truyền thông hiệu quả. Một bản tuyên bố định vị tốt sẽ giúp bạn xác định được phương hướng chính xác cho cả công ty. Nó giúp bạn trả lời 7 câu hỏi mấu chốt sau: Bạn là ai? Công việc kinh doanh của bạn là gì? Cho ai? (Ai là người bạn đáp ứng) Điều gì cần thiết trong thị trường mà bạn đáp ứng? Bạn cạnh tranh với đối thủ của mình như thế nào? Sự khác biệt của bạn nằm ở đâu? Đâu là lợi ích độc đáo trong sản phẩm hay dịch vụ của bạn? Đừng bị nhầm lẫn giữa bản tuyên bố định vị và định vị thị trường. Harry Beckwith đã mô tả bản tuyên bố định vị khá rõ ràng trong cuốn sách “Selling the Invisible” của mình: “Bản tuyên bố định vị thể hiện rõ ràng mong muốn của bạn đạt được vị trí nào trong tâm trí khách hàng. Đó là thông điệp cốt lõi mà bạn sẽ chuyển tải trong mỗi phuơng tiện truyền thông”. Hãy nhớ, các công ty không thể nào định vị mình trở thành mọi thứ có thể. Nó hoàn toàn do thị trường nhận thức về vị trí của họ. Đừng bao giờ mong muốn những điều không thể thực hiện được. Vậy, làm cách nào để thông điệp đối thoại của bạn đi đúng hướng ? Bằng việc xây dựng một bản tuyên bố định vị rõ ràng, thuyết phục và khác biệt cùng với những thông điệp chủ đạo sẽ giúp bạn và công ty bạn lựa chọn cho mình vũ khí tốt nhất và hiệu quả. Và hơn nữa nó sẽ tạo được sự nhất trí và đồng lòng từ tất cả các nguồn lực của bạn.
Positional Good / Hàng Hoá Theo Vị Trí
Một thuật ngữ của F.Hirsch sử dụng trong các giới hạn xã hội đối với tăng trưởng (1976) để chỉ một loại hàng hoá bị giới hạn về khả năng cung cấp tuyệt đối hoặc một cách tự nhiên hoặc thông qua các khía cạnh xã hội và có thể bị tắc nghẽn nếu sử dụng rộng rãi hơn.
Position, Long Position, Short Position / Thế Giá Lên, Thế Giá Xuống
Thuật ngữ "position" (thế) trong tài chính có rất nhiều nghĩa, điển hình nhất, có thể hiểu "thế" là tình trạng nắm giữ, sở hữu của một nhà đầu tư nào đó đối với một số lượng chứng khoán trong những điều kiện nhất định của thị trường, thường liên quan đến biến động giá chứng khoán. Ngoài ra, có thể hiểu đó là một cam kết mua hoặc bán một số lượng nhất định chứng khoán hay hàng hóa, là một số lượng chứng khoán hoặc hàng hóa nhất định được một người hoặc một công ty nào đó nắm giữ. Theo nghĩa thứ nhất, người ta phân ra thành hai thế chính: thế giá lên (long position) và thế giá xuống (short position). Thế giá lên là tình trạng nhà đầu tư đã bỏ tiền mua một loại chứng khoán và hy vọng sẽ kiếm lời khi giá tăng. Và ngược lại, thế giá giảm là tình trạng nhà đầu tư đã tham gia vào một thương vụ và sẽ kiếm lời khi giá giảm. Ví dụ: khi một nhà đầu tư dự đoán rằng giá một cổ phiếu X hiện đang là $50/cp sẽ tăng lên $70/cp trong vòng 2 tuần nữa. Anh ta lập tức ký một hợp đồng mua quyền chọn mua với phí quyền chọn $3/cp, giá thực hiện là $60/cp và thời hạn 2 tuần, người ta gọi đây là việc "mở thế giá lên". Sau 2 tuần, giá cổ phiếu X thậm chí tăng lên đến $75/cp, nhà đầu tư yêu cầu được thực hiện quyền chọn mua của mình để lấy số chứng khoán đó hoặc ăn chênh lệch $15/cp, việc này gọi là "đóng thế giá lên". Sau khi trừ đi phí quyền chọn $3/cp anh ta vẫn lãi được $12/cp. Thế giá lên và thế giá xuống gắn chặt với các hoạt động đầu cơ giá lên và đầu cơ giá xuống, thông qua việc sử dụng các công cụ phái sinh như hợp đồng quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn. Tương ứng với mỗi thế, các nhà đầu tư, đầu cơ có những kỹ thuật kiếm lời riêng. Khi nhà đầu tư cho rằng, giá cổ phiếu X nào đó sắp sửa tăng, bước thứ nhất, họ sẽ mua vào. Không phải lúc nào các nhà đầu tư cũng sử dụng toàn bộ số tiền đầu tư của mình để mua trực tiếp cổ phiếu, mà thường mua các công cụ phái sinh gắn với cổ phiếu, theo đó họ có thể sẽ nắm được quyền sở hữu với một số lượng cổ phiếu lớn hơn trong tương lai. Lúc giá tăng thực sự, nhà đầu tư sẽ tiến hành bước hai là bán số cổ phiếu mình đã mua trước đó, hoặc bán các quyền gắn với việc sở hữu những cổ phiếu đó để thu lợi. Ngược lại, khi dự đoán giá giảm nhà đầu tư thường bán cổ phiếu ra ngay, trong trường hợp không có cổ phiếu đó trong tay họ thậm chí còn thể "vay" để bán (bán khống). Lúc cổ phiếu rớt giá thực sự, nhà đầu tư sẽ tung tiền ra mua ngược trở lại để khôi phục danh mục đầu tư của mình, hoặc để trả số chứng khoán đã vay. Như vậy, khi phát hiện thị trường đang tồn tại một thế, tức là sắp có biến động giá với một loại chứng khoán nào đó, bao giờ các nhà đầu tư chứng khoán cũng tiến hành 2 thao tác mua/bán hoặc bán/mua đối ứng, tùy thuộc vào dự đoán của anh ta. Thao tác thứ nhất của nhà đầu tư được gọi là "mở thế", thao tác thứ hai kết thúc "thế" để ăn chênh lệch gọi là "đóng thế".
Position / Vị Thế Trên Thị Trường
Trong tài chính, Position có thể là: 1. Một cam kết mua hoặc bán một số lượng chứng khoán hay hàng hoá nhất định (hợp đồng) 2. Lượng chứng khoán hay hàng hoá được nắm giữ bởi 1 người (cổ phiếu, trái phiếu) 3. Tình trạng đầu tư vào các loại chứng khoán hay hàng hoá. Trong nghiệp vụ kinh doanh phái sinh, khái niệm Position được dùng rất nhiều. Có 2 loại Position cơ bản là: short position - nhiều sách dịch là đoản vị; và long position - nhiều sách dịch là trường vị. Trường vị (long position): Việc mua vào các loại chứng khoán như cổ phiếu, hàng hoá hay tiền tệ nhằm mục đích thu lời khi giá các loại tài sản này tăng lên. Để các loại chứng khoán được gọi là "trường vị" thì người giữ chúng phải là chủ sở hữu thực sự. Đoản vị (short position): Là số cổ phiếu hoặc trái phiếu mà một người kinh doanh không phải là người sở hữu chúng (anh ta đi vay chứng khoán để đạt được thế "trường vị"). Ví dụ trong hợp đồng quyền chọn bán (put options), một người sẽ mua quyền chọn bán cho một số lượng cổ phiếu nhất định do anh ta nắm giữ với giá ở thời điểm hiện tại bằng giá thị trường. Nhưng trong tương lai, giá cổ phiếu trên thị trường giảm xuống, anh ta sẽ đi mua những cổ phiếu giá thấp đó và về bán lại với giá bằng giá trong hợp đồng tức là giá cao hơn, anh ta sẽ ăn chênh lệch và trả được số nợ đi vay để mua.
Portfolio Investment / Đầu Tư Theo Danh Mục / Đầu Tư Gián Tiếp
Trong kinh tế học và tài chính, đầu tư theo danh mục là loại đầu tư trong đó nhà đầu tư nắm quyền sở hữu một số chứng khoán ở nước ngoài như cổ phần, trái phiếu, hoặc những tài sản tài chính khác, nhưng nhà đầu tư không có quyền quản lí hoặc kiểm soát thực thể phát hành các loại chứng khoán này. Việc quản lí và kiểm soát một thực thể kinh doanh ở nước ngoài chỉ tồn tại qua hình thức đầu tư trực tiếp. Các hình thức đầu tư theo danh mục có thể gồm: - Mua cổ phần của một công ty nước ngoài - Mua trái phiếu được phát hành bởi chính phủ nước ngoài - Mua tài sản ở nước ngoài.
Portfolio Balance Approach / Phương Pháp Cân Đối Danh Mục Đầu Tư
Một phương pháp phân tích tiền tệ, nhấn mạnh vào ý nghĩa các quyết định cảu những người có tài sản về thành phần danh mục đầu tư của họ. Một phiên bản chủ yếu của phương pháp này giải định rằng trong khi tất cả những người sở hữu yêu cầu một sự đa dạng nào đó trong tài sản của họ, họ bất đồng về các lý do cá nhân hoặc thông lệ trong các sở thích cơ bản của họ giữa các kiểu tài sản khác nhau – chẳng hạn giữa tài sản ngắn hạn và dài hạn, tài sản có lợi tức cố định và lợi tức biến đổi. Tuy nhiên, người ta giả định rằng ít nhất một số người sở hữu có thể có ý đồ thay thế một số tài sản ít ưa thích hơn cho một số tài sản ưa thích nhiều hơn do sự khích lệ của lợi tức chênh lệch tăng nhiều hơn ở trường hợp thứ nhất. Những hiệu ứng kỳ vọng làm sự phân tích trở thành phức tạp, nhưng khi gạt chúng sang một bên thì một mô hình như vậy đưa ra một sự giải thích về cơ cấu của lãi suất và cung cấp cho cơ quan quản lý tiền tệ một giả thiết có hiệu lực để tác động vào lãi suất hoặc để gây ảnh hưởng đến đầu tư vốn hoặc để kiểm soát sự tăng trưởng của cung tiền. Phương pháp này vốn xuất phát trực tiếp từ Lý thuyết tổng quát của Keynes đã được triển khai rất rộng bởi “Trường phái Yale” của các nhà kinh tế học, đi đầu là giáo sư James Tobin. Tuy nhiên, mô hình cân đối danh mục đàu tư là cơ sở lý thuyết chung cho các trường phái tư duy tiền tệ chủ yếu còn đang tranh cãi, phái trọng tiền và phái không trọng tiền. Sự khác nhau giữa các trường phái là tính thực nghiêm, chẳng hạn như trọng sự giả định của họ về tính thay thế giữa tiền và các tài sản khác trong danh mục của những người sở hữu tài sản.





