Operating Expenses / Operating Costs / Chi Phí Hoạt Động
Chi phí hoạt động đối với các công ty buôn bán là những chi phí xảy ra trong quá trình hoạt động bình thường của công ty, không phải là chi phí của hàng bán. Thông thường, chi phí hoạt động thường là chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lí. Ví dụ, một công ty có thể phải trả tiền thuê văn phòng, tiền thuế, và bảo hiểm cho cả mục đích bán hàng và quản lí. Các chi phí dành cho cả bán hàng và quản lí phải được phân tích và phân chia theo tỉ lệ giữa hai mục đích này trên báo cáo thu nhập. Một trong những trách nhiệm chính mà đội ngũ quản lí phải giải quyết đó là xác định xem nên tiết kiệm chi phí hoạt động đến mức nào để không làm ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của công ty so với đối thủ. Ví dụ, chi phí tiền lương và các quỹ phân bổ cho nghiên cứu và phát triển là chi phí hoạt động. Với mục đích tăng giá hoặc tìm thị trường mới cho sản phẩm nhằm tăng lợi nhuận, một vài doanh nghiệp còn sử dụng biện pháp cắt giảm chi phí. Sa thải nhân viên và sản xuất ra sản phẩm chất lượng thấp ban đầu có thể làm tăng lợi nhuận và có thể là cần thiết trong trường hợp công ty đã bị mất năng lực cạnh tranh, nhưng cũng có rất nhiều loại chi phí thuộc chi phí hoạt động mà đội ngũ quản lí có thể cắt giảm trước khi chất lượng hoạt động của doanh nghiệp bị xuống cấp.
Operating Cash Flow - OCF / Dòng Tiền Từ Hoạt Động Kinh Doanh
Đây là lượng tiền tạo ra từ hoạt động của một công ty, thường được tính bằng cách lấy thu nhập trừ đi các khoản chi phí hoạt động, tuy nhiên việc tính toán này đã có sự điều chỉnh nhiều so với thu nhập ròng. Ta có thể tìm thấy số liệu về OCF trên các báo cáo lưu chuyển tiền tệ. OCF được tính toán theo công thức sau: OCF = EBIT + Khấu hao - Thuế Mọi người thường cho rằng OCF là một chỉ số đo lường mức lợi nhuận của một công ty tốt hơn thu nhập (earning) vì một công ty có thể cung cấp số liệu dương về thu nhập trên các báo cáo tài chính nhưng có thể vẫn không có khả năng trả nợ. Chính dòng tiền mới là yếu tố giúp công ty thanh toán cac hóa đơn và các khoản nợ đến hạn của mình. Là một nhà đầu tư, bạn cũng có thể kiểm tra tình hình thu nhập thực sự của doanh nghiệp bằng cách sử dụng chỉ số OCF. Nếu công ty thông báo số liệu về thu nhập đạt mức cao kỉ lục nhưng lại có nguồn tiền âm, điều đó chứng tỏ công ty này đang gặp vấn đề với dòng tiền (ví dụ cho nợ quá mức, không hiệu quả trong việc thu hồi tiền), và công ty này đã sử dụng các thủ thuật kế toán nhằm đánh bóng hình ảnh của công ty. Liên quan tới lượng tiền tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp còn có chỉ số "tỉ lệ tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh" (Operating Cash Flow Ratio_OCFR). Đây là chỉ số cho thấy hiệu quả của một công ty trong việc sử dụng lượng tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh để chi trả cho các nghĩa vụ nợ của mình. OCFR được tính bởi công thức: OCFR = Dòng tiền thu được từ hoạt động kinh doanh/Nợ ngắn hạn OCFR có thể đo lường khả năng thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp trong ngắn hạn. Sử dụng dòng tiền trong mối tương quan với thu nhập đôi khi sẽ cho ta những thông tin xác thực hơn về khả năng thanh toán nợ của công ty, đơn giản là vì thông thường các hóa đơn được thanh toán bằng tiền mặt.
Opening Prices / Giá Mở Cửa
Là mức giá quy định cho các giao dịch khi một ngày kinh doanh bắt đầu trên một thị trường.
Opening Gap / Chênh Giá Mở Cửa Thị Trường
Trong giao dịch cổ phiếu chênh giá mở cửa thị trường là hiện tượng giá mở cửa chênh lệch rất lớn so với giá đóng cửa ngày hôm trước, thông thường là do những thông tin đặc biệt tốt hoặc đặc biệt xấu trong thời gian thị trường đóng cửa. Hầu hết các nhà đầu tư cổ phiếu không để ý nhiều lắm đến giá mở cửa và ít có chuyên trang của tờ báo chứng khoán nào lại đưa ra giá mở cửa, mà thường chỉ nêu lên các mức cao nhất, thấp nhất và mức đóng cửa trong những ngày trước đó. Tuy nhiên, những người giao dịch hợp đồng tương lai, đặc biệt là những nhà đầu tư nội nhật hoặc đầu tư ngắn hạn lại sống bằng giá mở cửa. Nguy cơ về chênh giá mở cửa thị trường chính là một trong những động lực đầu tiên khiến họ quyết định trở thành những nhà đầu tư nội nhật, vì họ lo ngại xảy ra một khoảng chênh giá bất ngờ mà họ không kịp phòng ngừa. Ví dụ: một nhà đầu tư nắm 1,000,000 cổ phiếu X qua đêm có thể "mất trắng" 2 triệu USD qua một đêm mà không thể nào làm được gì, nếu giá mở cửa phiên sau thấp hơn giá đóng cửa phiên trước $2/cổ phiếu. Ngược lại, nếu chỉ giao dịch nội nhật, nhà đầu tư có thể căn cứ vào xu hướng biến động thị trường để tránh được những khoản lỗ lớn. Một giả định trong phân tích kỹ thuật cho rằng mọi yếu tố cơ bản đã biết đều được phản ánh đầy đủ trong giá cổ phiếu vào bất kỳ thời điểm nào. Giá cổ phiếu chỉ thay đổi khi có những thông tin mới về giá trị tương lai của cổ phiếu hay hàng hóa xuất hiện trên thị trường. Hầu hết các thị trường chỉ mở cửa nhiều nhất là 7 giờ mỗi ngày. Ngay cả các tài sản tài chính được giao dịch toàn cầu cũng phải có lúc ngừng giao dịch trong ngày. Trong suốt thời gian thị trường đóng cửa thì các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội vẫn xảy ra gây ảnh hưởng đến giá trị tương lai của các loại hàng hóa, của các công ty thương mại và công nghiệp... Những sự kiện này sẽ được phản ánh vào giá chứng khoán ngay khi thị trường mở cửa. Kết quả là, vào ngày hôm sau, giá mở cửa của hầu hết các loại tài sản tài chính đều khác với giá đóng cửa ngày hôm trước, do đó mới xuất hiện "mức chênh giá mở cửa thị trường". Giá mở cửa được coi là kết quả thực tế của "bản báo cáo toàn cầu" về những sự kiện xảy ra sau khi đóng cửa phiên trước. Một số đặc trưng lý thú từ mức chênh giá mở cửa thị trường: 60% trường hợp mà mức chênh giá thị trường dương (giá mở phiên sau cao hơn giá đóng phiên trước) dẫn đến giá đóng cửa cũng tăng lên. 70% trường hợp mà mức chênh giá thị trường âm (giá mở phiên sau thấp hơn giá đóng phiên trước) dẫn đến giá đóng cửa cũng giảm xuống.
Open-End Fund And Closed-End Fund / Quỹ Tương Hỗ Mô Hình Mở Và Mô Hình Đóng
1. Khái niệm quỹ tương hỗ 2. Cách thành lập quỹ tương hỗ 3. Mô hình đóng và mở của quỹ tương hỗ Phần lớn các quỹ tương hỗ là các quỹ mô hình mở (quỹ mở). Điều này có nghĩa là nhà đầu tư muốn mua bao nhiêu cổ phiếu thì quỹ sẽ bán bấy nhiêu. Khi tiền đã đầu tư vào quỹ, quỹ sẽ phát triển hơn. Nếu nhà đầu tư muốn bán, quỹ đó sẽ mua lại cổ phiếu (chứng chỉ quỹ) của họ. Đôi khi, một quỹ tương hỗ mô hình mở này sẽ "đóng cửa" đối với các nhà đầu tư mới, khi quỹ đó đã phát triển quá lớn để có thể quản lý một cách hiệu quả - trong khi đó lại không đóng cửa đối với các nhà đầu tư hiện tại - họ vẫn có thể tiếp tục đầu tư thêm tiền vào quỹ. Khi một quỹ đóng cửa theo kiểu này, công ty đầu tư thường tạo ra một quỹ tương tự để tận dụng nguồn vốn của các nhà đầu tư. Quỹ tương hỗ mô hình đóng (quỹ đóng) thì rất giống với các cổ phiếu về cách cổ phiếu của quỹ được giao dịch. Bởi vì các quỹ này đầu tư tiền vào vô số chứng khoán, nên họ chỉ có thể nâng số tiền đầu tư trong một lần duy nhất và họ cũng chỉ chào bán một số lượng cố định nào đó các cổ phiếu của mình - những cổ phiếu sẽ được giao dịch trên một thị trường (vì thế loại quỹ này còn có tên là quỹ giao dịch trên thị trường quỹ) hoặc qua quầy (OTC). Giá thị trường của cổ phiếu một quỹ tương hỗ thường thay đổi theo nhu cầu của các nhà đầu tư cũng như theo giá trị mà quỹ hiện đang nắm giữ.
Open-End Fund / Quỹ Mở
Hình thức công ty đầu tư bán các cổ phần mới cho công chúng và sẵn sàng mua lại (thu hồi) cổ phần của nó theo giá thị trường khi các nhà đầu tư muốn bán. Các công ty đầu tư mở được công chúng biết đến như các quỹ hỗ tương, và được gọi như thế vì các công ty này liên tục tạo ra các cổ phần mới khi chúng bán chứng khoán. Kết quả là, giá trị tài sản ròng của các quỹ hỗ tương này tăng hay giảm khi các nhà đầu tư mua cổ phần hay mua lại chúng. Các quỹ thường đầu tư vào nhiều loại công cụ tài chính, bao gồm cổ phiếu thường, trái phiếu công ty, trái phiếu miễn thuế, và các công cụ thị trường tiền tệ ngắn hạn, ngược với quỹ đóng. Quĩ đầu tư mở khá phổ biến ở hầu hết các nước phát triển, tuy nhiên thuật ngữ và qui tắc hoạt động có thể hơi khác nhau. Ví dụ: ở Mỹ người ta gọi nó là mutual fund (quĩ tương hỗ), ở Anh là Unit trusts (đơn vị ủy thác đầu tư) hoặc OEIC (công ty đầu tư mở rộng), còn hầu hết các nước châu Âu gọi nó là SICAV (công ty đầu tư không cố định vốn). Hầu hết các quĩ mở là các quĩ quản lý tích cực, tuy nhiên cũng có một số quĩ mở lại áp dụng chiến lược đầu tư thụ động. Một quĩ đầu tư mở được chia đều làm nhiều cổ phần (hoặc đơn vị) mà giá của nó có thể thay đổi với một tỉ lệ cố định theo giá trị thuần của quĩ. Mỗi khi có thêm tiền được đầu tư vào quĩ, lại có một lượng cổ phiếu tương ứng được tạo ra phù hợp với giá cổ phiếu hiện hành, ngược lại, mỗi khi một số lượng cổ phiếu nhất định được quĩ mua lại thì một lượng tài sản tương ứng cũng được bán ra. Theo cách thức này, không bao giờ có dư cung hay cầu đối với cổ phiếu quỹ đầu tư mở, và chúng luôn phải ánh đúng giá trị của các tài sản gốc. Giá cổ phiếu quĩ, hay giá trị tài sản thuần (NAV), được tính toán bằng cách chia tổng tài sản của quĩ sau khi đã trừ đi các khoản nợ cho số cổ phiếu đang lưu hành. NAV = (Tổng tài sản - Tổng nợ)/(số cổ phiếu đang lưu hành) Công việc tính toán này thường được thực hiện vào cuối mỗi ngày giao dịch, đó là lý do khiến các nhà đầu tư chỉ mua được cổ phiếu của các quĩ mở vào cuối ngày giao dịch. Khi các nhà đầu tư mua hoặc bán cổ phiếu của quĩ, anh ta có thể phải chịu một mức phí nhất định, trong trường hợp này, quĩ này là một quĩ "có tải"; nếu quĩ không thu phí đó, thì đây là một quĩ "không tải". Tuy nhiên, những người môi giới thường vẫn thu một mức hoa hồng nhất định đối với việc mua cổ phiếu quĩ, cho dù đó là quĩ "không tải". Ngoài ra còn có các loại phí khác như phí duy trì, và phí rút vốn để hạn chế việc các cổ đông liên tục "nhảy ra" - "nhảy vào" Ngược lại với quĩ đầu tư mở là các quĩ đầu tư đóng.
Open Unemployment / Thất Nghiệp Mở
Là một cụm thuật ngữ thường được sử dụng trong bối cảnh của các nước đang phát triển. Là tình trạng mà một cá nhân thừa nhận rằng anh ta đang khôg có công ăn việc làm và sau đó anh ta có thể đăng ký với một cơ sở giao dịch lao động.
Open Market Operations / Nghiệp Vụ Thị Trường Mở
Nghiệp vụ thị trường mở là các biện pháp thực thi chính sách tiền tệ mà theo đó ngân hàng Trung ương của một nước kiểm soát cung tiền của nước đó bằng cách mua bán các chứng khoán do chính phủ phát hành hoặc các công cụ tài chính khác. Nghiệp vụ này được thực hiện căn cứ theo các mục tiêu của chính sách tiền tệ, như lãi suất hay tỉ giá. Khi mà hầu hết tiền tệ ngày nay tồn tại dưới dạng điện tử thay vì dưới dạng tiền giấy hay tiền xu, thì các nghiệp vụ thị trường mở có thể được tiến hành một cách khá đơn giản thông qua các lệnh giao dịch điện tử làm tăng, giảm số tiền mà ngân hàng có trong tài khoản gửi tại ngân hàng Trung ương, để đổi lại các công cụ tài chính. Khi muốn tăng cung tiền, Ngân hàng Trung ương sử dụng lượng tiền mới được tạo ra để mua lại các công cụ tài chính trên thị trường mở, như trái phiếu Chính phủ, ngoại tệ hay vàng. Ngược lại, nếu ngân hàng Trung ương bán những tài sản trên ra thị trường mở, lượng tiền mà các ngân hàng thương mại nắm giữ sẽ hạ xuống, dẫn đến việc giảm cung tiền. Quá trình trên không nhất thiết đòi hỏi phải ngay lập tức in thêm tiền mới. Ngân hàng Trung ương có thể chỉ cần tăng thêm số tiền gửi của các ngân hàng thương mại trên tài khoản điện tử của họ mà không cần phát hành thêm tiền giấy. Tuy nhiên, khi các ngân hàng thương mại yêu cầu nhận tiền giấy, thì ngân hàng Trung ương sẽ buộc phải in thêm tiền, đồng thời tài khoản tiền điện tử của ngân hàng thương mại trên cũng bị khấu trừ 1 khoản tương ứng. Các mục tiêu khả dĩ của chính sách thị trường mở Trước hết, với mục tiêu kiềm chế lạm phát, các nghiệp vụ thị trường mở nhắm đến việc điều chỉnh lãi suất ngắn hạn trên thị trường nợ. Mục tiêu này được thay đổi định kỳ để duy trì lạm phát trong trong khoảng mà ngân hàng Trung ương đặt ra. Tuy nhiên, các biến số khác của chính sách tiền tệ cũng nhắm đến điều chỉnh lãi suất: cả FED và Ngân hàng trung ương Châu Âu đều sử dụng sự biến động về mục tiêu lãi suất làm chỉ dẫn cho nghiệp vụ thị trường mở. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện cũng đang sử dụng nghiệp vụ này khá hiệu quả. Ngoài mục tiêu lãi suất nghiệp vụ thị trường mở còn có một số mục tiêu khác như tăng giảm cung tiền, duy trì tỉ giá cố định với một ngoại tệ mạnh nào đó. Dưới chế độ bản vị vàng, các nghiệp vụ thị trường mở còn được sử dụng để ổn định giá vàng, mục tiêu của chính sách thị trường mở khi đó là giữ giá trị của đồng tiền không đổi trong mối tương quan với giá vàng.
Open Interest / Tiền Lãi Mở
Các hợp đồng thị trường kỳ hạn tài chính không được bù trừ bằng các giao dịch đối nghịch, hay được thực hiện bằng các công cụ tài chính cơ sở. Mặc dầu mỗi giao dịch hợp đồng futures đều có người mua và người bán, nhưng trong việc tính tiền lãi mở chỉ một bên của thị trường là được tính. Tiền lãi mở cũng đề cập đến các hợp đồng quyền chọn chưa được đóng lại, được bù trừ bởi cấc giao dịch đối nghịch hay được phép hết hạn.
Open Economy / Nền Kinh Tế Mở
Open Economy là một nền kinh tế tham gia vào thương mại quốc tế. Nền kinh tế mở khuyến khích ngoại thương và các tương tác toàn diện vê tài chính và phi tài chính với phần còn lại của thế giới, trong các lĩnh vực như giáo dục, văn hóa và công nghệ. Xem thêm CLOSED ECONOMY và OUTWARD-LOOKING DEVELOPMENT POLICIES.
Nền Kinh Tế Mở (Open Economy) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Nền Kinh Tế Mở (Open Economy) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Open Access Resource / Tài Nguyên Được Tự Do Tiếp Cận
Là một tài nguyên thiên nhiên mà không thuộc quyền sở hữu của một ai.
OPEC / Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Lửa
OPEC (từ viết tắt của Organization of Petroleum Exporting Countries) là một tổ chức đa chính phủ được thành lập bởi các nước Iran, Iraq, Kuwait, Ả Rập Saudi và Venezuela trong hội nghị tại Baghdad (từ 10 tháng 9 đến 14 tháng 9 năm 1960). Các thành viên Qatar (1961), Indonesia (1962), Libya (1962), Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (1967), Algérie (1969) và Nigeria (1971) lần lượt gia nhập tổ chức sau đó. Ecuador (1973–1992) và Gabon (1975–1994) cũng từng là thành viên của OPEC. Trong năm năm đầu tiên trụ sở của OPEC đặt ở Genève, Thụy Sĩ, sau đấy chuyển về Wien, Áo từ tháng 91965. Các nước thành viên OPEC khai thác vào khoảng 40% tổng sản lượng dầu lửa thế giới và nắm giữ khoảng 3/4 trữ lượng dầu thế giới. OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thácdầu lửa của các nước thành viên và qua đó có khả năng khống chế giá dầu. Hội nghị các bộ trưởng phụ trách năng lượng và dầu mỏ thuộc tổ chức OPEC được tổ chức mỗi năm hai lần nhằm đánh giá thị trường dầu mỏ và đề ra các biện pháp phù hợp để bảo đảm việc cung cấp dầu. Bộ trưởng các nước thành viên thay nhau theo nguyên tắc xoay vòng làm chủ tịch của tổ chức hai năm một nhiệm kỳ. Mục tiêu chính thức được ghi vào hiệp định thành lập của OPEC là ổn định thị trường dầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, ổn định giá dầu thế giới và ủng hộ về mặt chính trị cho các thành viên khi bị các biện pháp cưỡng chế vì các quyết định của OPEC. Nhưng thật ra nhiều biện pháp được đề ra lại có động cơ bắt nguồn từ quyền lợi quốc gia, thí dụ như trong các cơn khủng hoảng dầu, OPEC chẳng những đã không tìm cách hạ giá dầu mà lại duy trì chính sách cao giá trong thời gian dài. Mục tiêu của OPEC thật ra là một chính sách dầu chung nhằm để giữ giá. OPEC dựa vào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh lượng khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc dư dầu giả tạo nhằm thông qua đó có thể tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổn định. Có thể coi OPEC như là một liên minh độc quyền (cartel) luôn tìm cách giữ giá dầu ở mức có lợi nhất co các thành viên.
On-The-Job Training / Đào Tạo Tại Chỗ
Là hình thức đào tạo chính quy hoặc không chính quy được tiến hành tại ngay nơi làm việc.
Online Auction / Đấu Giá Trực Tuyến
Đấu giá trực tuyến là cách cho phép người tham gia đấu giá các sản phẩm hoặc các dịch vụ thông qua Internet. Khi nói đến đấu giá trực tuyến là chúng ta nghĩ ngay đến eBay, website đấu giá trực tuyến lớn nhất trên thế giới hiện nay. Giống như hầu hết các công ty đấu giá, eBay không trực tiếp bán hàng của chính mình mà chỉ giúp cho các thành viên liệt kê và trưng bày sản phẩm của họ, đấu giá các sản phẩm và thanh toán chúng. Nó hoạt động giống như là một nơi họp chợ cho các thành viên hoặc các doanh nghiệp sử dụng để đấu giá các sản phẩm và dịch vụ. Có một vài loại hình thức đấu giá trên mạng đang hiện hữu như: đấu giá kiểu Anh, giá khởi điểm sẽ được đặt ở mức thấp và sau đó được nâng lên bởi các người tham giá đấu giá tiếp theo; đấu giá kiểu Hà Lan, đồng thời nhiều món hàng giống nhau sẽ được đưa lên sàn đấu giá, tất cả những người đấu giá thắng sẽ trả cùng một giá – giá cao nhất mà tất cả các món hàng đó được bán (treasury bills là một ví dụ cho kiểu đấu giá này). Hầu hết tất cả các sàn đấu giá trực tuyến đều sử dụng đấu giá kiểu Anh. Những ưu điểm của mô hình thương mại này là: -Không ràng buộc thời gian: Việc đặt giá có thể thực hiện bất kì lúc nào. Các sản phẩm đuợc liệt kê trong một một vài ngày (thường là từ 1 đến 10 ngày, tùy theo ý thích của người bán) để người mua có thời gian tìm kiếm, quyết định và đặt giá. Giá trị của món hàng sẽ được nâng lên theo số lượng người tham giá đấu giá. -Không ràng buộc địa lý: Những người bán hàng và những người đấu giá có thể tham gia đấu giá từ bất kì nơi nào có truy cập Internet. Điều này làm các cuộc đấu giá thêm gần gũi và giảm chi phí tham dự một cuộc đấu giá. Điều này đồng thời cũng làm tăng số lượng các sản phẩm (có càng nhiều người bán hàng) và số lượng các đặt giá (có càng nhiều người đặt giá). Những món hàng không những không cần phải đưa đến sàn đấu giá mà còn giảm được chi phí, giảm được giá khởi điểm được chấp nhận của người bán. -Sức mạnh của tương tác xã hội: Tương tác xã hội mà liên quan đến quá trình đấu giá thì giống như việc đánh bạc. Những người đấu giá chờ đợi trong hi vọng là họ sẽ thắng (eBay gọi những người đặt giá thành công là những người chiến thắng). Cũng giống như sự ham mê cờ bạc, nhiều người tham gia đặt giá chủ yếu để "chơi trò chơi" chứ không muốn giành được món hàng. Và điều này tạo ra một sự phân chia lớn các khách hàng tiềm năng của eBay. -Số lượng người đấu giá lớn: Bởi vì tiềm năng có giá thấp, hàng hóa và dịch vụ đa dạng, dễ dàng tham gia và lợi ích xã hội của quá trình đấu giá. -Số lượng người bán hàng lớn: Bởi vì có nhiều người tham gia đặt giá, có thể đạt được giá cao, giảm chi phí bán hàng, dễ buôn bán. -Mạng lưới kinh doanh. Số lượng lớn các người tham gia đấu giá sẽ khuyến khích nhiều người bán, ngược lại số lượng lớn các người bán sẽ làm tăng số lượng người đấu giá. Càng có nhiều hoạt động thì hệ thống càng lớn mạnh, và mô hình kinh doanh càng trở nên có giá trị cho những người tham gia. Đấu giá là một hình thức rõ rệt nhất của sự chênh lệch giá. Vì vậy, họ cố gắng chuyển một phần thặng dư của khách hàng thành thặng dự hàng hóa. Đấu giá trên mạng là một hình mẫu hiệu quả của sự chênh lệch giá.
One-Way Market / Thị Trường Một Chiều
Đây là thị trường chỉ có thể định giá một công ty dựa vào sự đề xuất giá của một bên. Nguyên nhân dẫn đến thị trường một chiều là do thị trường sơ cấp hoạt động không hiệu quả hoặc do không kiểm soát được sự điều tiết. Thị trường một chiều có thể được tạo ra khi chỉ có người mua hoặc chỉ có người bán đổ dồn ào một loại tài sản riêng biệt nào đó trong một thời điểm nhất định. Thuật ngữ này để chỉ thị trường dịch chuyển lệch sang một hướng và khá thụ động.Một số quốc gia duy trì tình trạng này trong thị trường của mình nhằm hi vọng vào nguồn đầu tư nước ngoài. Ví dụ, ở Hàn Quốc, các nhà đầu tư luôn đổ dồn vào những công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu. Đối với thị trường thứ cấp, họ dè dặt và thận trọng hơn rất nhiều. Một ví dụ khá phổ biến về thị trường một chiều có thể là màn kết thúc giai đoạn thị trường chiều giá lên theo sự điều khiển của công nghệ vào khoảng cuối thập niên 90. Tháng 01/2000, hầu hết mỗi cổ phiếu tăng lên mỗi ngày bất chấp những nguyên tắc cơ bản lúc ấy.
One Tail Tests / Kiểm Định Một Đuôi
Là những kiểm định giả thiết trong đó phép định hướng được áp dụng cho giả thiết đối.
One Sector Growth Model / Mô Hình Tăng Trưởng Một Khu Vực
Là một mô hình được sử dụng trong thuyết tăng trưởng, trong đó một sản phẩm đồng nhất duy nhất được sản xuất ra và đồng thời có hai tác dụng tương đương nhau - tác dụng như một loại hàng hoá tiêu dùng và tác dụng như một loại hàng hoá đầu tư.
On-Demand / Theo Yêu Cầu
"Theo yêu cầu" chỉ một dịch vụ hay tính năng đáp ứng nhu cầu sử dụng ngay lập tức của khách hàng. Trong hầu hết các trường hợp, giá trị đưa ra cho một dịch vụ "theo yêu cầu" được tính toán nhằm tránh cho khách hàng phải đầu tư thêm một khoản tiền quá lớn và thay vào đó lựa chọn việc "mua trả lập tức"- một mô hình khiến cho giá cả các dịch vụ "theo yêu cầu" trở nên chấp nhận được với người sử dụng.
Oligopsony / Thị Trường Độc Quyền Nhóm Mua
Là một thị trường mà tại đó có ít người mua trong khi có rất nhiều người bán.
Oligopoly / Thị Trường Độc Quyền Nhóm Bán
Là một cơ cấu thị trường trong đó các doanh nghiệp đều ý thức được sự phụ thuộc lẫn nhau trong các kế hoạch bán hàng, sản xuất, đầu tư và quảng cáo.





