Option / Hợp Đồng Mua Bán Trước
Là một hợp đồng trong đó một bên cho phép bên kia được mau hoặc bán hàng hoá hoặc chứng khoán trong một thời hạn nhất định với một mức giá đã thoả thuận.
Optimum Tariff / Thuế Quan Tối Ưu
Là thuế quan có tác dụng tối đa hoá phúc lợi hay độ thoả dụng của một quốc gia.
Optimum Plant Size / Quy Mô Nhà Máy Ở Mức Tối Ưu
Là quy mô của nhà máy mà với quy mô này mức chi phí trung bình dài hạn là mức tối thiểu.
Optimum / Trạng Thái Tối Ưu
Là tình hình hay tình trạng "tốt nhất" của công việc.
Optimal Portfolio / Danh Mục Tối Ưu
Danh mục đầu tư tối ưu là một nội dung trong lý thuyết danh mục hiện đại. Lý thuyết này giả định nhà đầu tư cố gắng tối thiểu hóa rủi ro trong khi cũng cố gắng để có thể đạt được mức sinh lợi cao nhất. Lý thuyết này cho thấy rằng các nhà đầu tư sẽ hành động một cách hợp lý, luôn luôn đưa ra các quyết định nhằm hướng vào mục tiêu tối đa hóa tỷ suất sinh lợi ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Thuật ngữ danh mục tối ưu được sử dụng đầu tiên vào năm 1952 bởi Harry Markowitz, và nó chỉ ra cho chúng ta rằng để đạt được các mức rủi ro và sinh lợi khác nhau có thể có các danh mục khác nhau. Mỗi nhà đầu tư phải quyết định mức rủi ro mà họ có thể kiểm soát được và sau đó phân bổ (hoặc đa dạng hóa) danh mục đầu tư theo quyết định đầu tư.Biểu đồ bên dưới thể hiện rõ danh mục đầu tư tối ưu hoạt động như thế nào. Danh mục rủi ro tối ưu thường được quyết định bởi một nơi nào đó giữa đường cong bởi vì khi bạn đi lên phía trên đường cong, bạn có thể sẽ phải chịu nhiều rủi ro hơn cho phần sinh lợi tăng thêm ít hơn. Mặt khác, không thể chỉ ra được các danh mục đầu tư có rủi ro thấp, tỷ suất sinh lợi thấp bởi vì bạn có thể đạt được mức sinh lợi tương tự bằng việc đầu tư vào các tài sản phi rủi ro, giống như là chứng khoán chính phủ. Bạn có thể chọn mức biến động là bạn có thể sẵn sàng chấp nhận trong danh mục đầu tư của mình bằng cách chọn bất kỳ một điểm nào khác trên đường biên hiệu quả. Nó sẽ cho bạn mức sinh lợi tối đa cho mức rủi ro mà bạn có thể chấp nhận. Tối ưu hóa danh mục đầu tư không phải là một cái gì đó mà bạn có thể tính toán trong đầu. Có rất nhiều chương trình tự động được thiết kế chuyên biệt để tính toán các danh mục đầu tư tối ưu bằng cách dự đoán hàng trăm, thậm chí hằng ngàn các tỷ suất sinh lợi khác nhau cho mỗi mức rủi ro cho sẵn.
Optimal Level Of Pollution / Mức Ô Nhiễm Tối Ưu
Là mức ô nhiễm mà bất kỳ chi phí thêm nào được bỏ ra để là giảm thiểu ô nhiễm lại đúng bằng với giá trị thiệt hại do ô nhiễm gây ra.
Optimal Distribution / Sự Phân Phối Tối Ưu
Là hình thức phân phối (thông thường là) thu nhập hoặc của cải "tốt nhất" hay đáng được mong muốn nhất cho các cá nhân trong một xã hội hoặc trong một cộng đồng.
Optimal Capacity / Công Suất Tối Ưu
Là sản lượng tương ứng với điểm tối thiểu của một biểu đồ của tổng chi phí trung bình.
Opportunity Wage / Mức Lương Cơ Hội
Là mức lương mà một cá nhân có thể kiếm được nếu anh ta chọn làm một công việc khác "tốt nhất" sau công việc đang làm; là mức lương cao nhất phải từ bỏ do vẫn ở lại làm công việc hiện tại.
Opportunity Cost Of Money Holding / Chi Phí Cơ Hội Của Việc Giữ Tiền
Chi phí này thường được phản ánh trong lãi suất thị trường, theo đó chi phí cơ hội của việc giữ tiền là mức lãi suất mà lẽ ra đã có được nếu như tiền được đầu tư vào các tài sản sinh lãi thay vì được giữ dưới dạng tiền mặt.
Opportunity Cost Approach To International Trade / Phương Pháp Sử Dụng Chi Phí Cơ Hội Trong Thương Mại Quốc Tế
Phương pháp này coi chi phí để sản xuất ra môt hàng hoá cụ thể không phải số lượng chi phí thực tế nhất định mà là hàng hoá khác phải từ bỏ để có được hàng hoá nói trên.
Opportunity Cost / Chi Phí Cơ Hội
Trong kinh tế học chi phí cơ hội là sự lựa chọn tốt nhất bị bỏ lỡ. Bất cứ quyết định nào bao gồm trong số nhiều lựa chọn đều có chi phí cơ hội. Ví dụ: nếu một thành phố quyết định xây một bệnh viện trên một khu đất trống của mình, thì chi phí cơ hội là một dự án nào khác có thể được thực hiện trên khu đất đó và kinh phí xây dựng bệnh viện. Khi xây bệnh viện, thành phố đã lỡ mất cơ hội xây một trung tâm thể thao, hay một bãi đỗ xe trên đó, hoặc khả năng bán khu đất ấy đi để thanh toán bớt các khoản nợ của chính quyền thành phố. Chi phí cơ hội với một người không nhất thiết phải được đánh giá về mặt tiền bạc mà nên được đánh giá theo thứ có giá trị nhất với người đó, hoặc với người đánh giá. Ví dụ, một người chọn xem một trận bóng đá giữa MU - Chelsea trên ti vi vào tối Chủ nhật thì sẽ không xem được bất chương trình ti vi nào khác, chi phí cơ hội với người đó có thể là một bộ phim cuối tuần tuyệt vời trên VTV1 nếu người đó thích xem phim, hoặc là một chương trình ca nhạc rất sôi động trên VTV3, nếu người đó thích ca nhạc. Chi phí cơ hội là một trong những điểm khác biệt mấu chốt giữa khái niệm chi phí kinh tếvà chi phí kế toán. Đánh giá chi phí cơ hội là cơ sở để đánh giá chính xác chi phí thực tế của bất cứ hoạt động nào. Trong trường hợp không có một chi phí kế toán, hay chi phí bằng tiền rõ ràng nào gắn với hoạt động đó, thì việc bỏ qua chi phí cơ hội có thể tạo ra ảo tưởng rằng các lợi ích có thể đạt được mà không mất một chi phí nào. Chi phí cơ hội không nhìn thấy trở thành chi phí ẩn của hoạt động đó. Ví dụ: một người có ngôi nhà mặt phố Hàng Bông mở một shop nhỏ kinh doanh quần áo thời trang, mỗi tháng cô ta phải chi ra 50tr tiền giá vốn hàng bán, 5tr cho chi phí điện thoại, điện, nước, thuế môn bài ... liên quan đến hoạt động kinh doanh. Doanh thu của cửa hàng đạt 70tr/tháng. Chủ cửa hàng cho rằng mình có lợi nhuận 15 tr. Trên thực tế, chủ cửa hàng đã bỏ qua số tiền 20tr có thể thu được nếu đem cho người khác thuê cửa hàng thay vì tự kinh doanh (20tr/tháng), và 5tr thu nhập cô ta có thể thu được nếu đi làm ở chỗ khác thay vì ở nhà bán hàng. 25tr này chính là chi phí ẩn trong hoạt động kinh doanh quần áo nói trên. Điều đáng nói là theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, những chi phí ẩn này không được hạch toán vào chi phí khi tính thuế. Cần lưu ý chi phí cơ hội không phải là tổng giá trị các lựa chọn bị bỏ lỡ mà chỉ là giá trị của lựa chọn tốt nhất có thể bởi vì người ta không thể nào cùng một lúc sử dụng nhiều lựa chọn thay thế được. Trong ví dụ ban đầu, chi phí cơ hội của quyết định xây bệnh viện là việc mất một khu đất trống để xây trung tâm thể thao, xây bãi đậu xe, hoặc số tiền có thể thu được nếu bán khu đất đó, chứ không thể là tổng của 3 lựa chọn đó vì xét cho cùng khu đất đó không thể nào cùng lúc được sử dụng cho hơn một mục đích được. Tuy nhiên, hầu hết các chi phí cơ hội rất khó so sánh. Chi phí cơ hội chỉ có ý nghĩa trong điều kiện khan hiếm nguồn lực, vì khi đó người ta sẽ buộc phải đánh đổi, nếu tiến hành hoạt động này thì phải bỏ hoạt động khác. Chi phí cơ hội thường được thể hiện dưới dạng giá tương đối, tức là giá của một lựa chọn trong tương quan với lựa chọn khác. Ví dụ: giá một bình sữa là $4 và một ổ bánh mì là $2 thì giá của một bình sữa là 2 ổ bánh mì. Đặc trưng này thể hiện rất rõ trong phân tích lợi thế so sánh của Ricardo. Khái niệm chi phí cơ hội được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lý thuyết, phân tích kinh tế như: -Lựa chọn của khách hàng -Khả năng sản xuất -Giá của tư bản (vốn) -Quản lý thời gian -Lựa chọn nghề nghiệp -Phân tích lợi thế so sánh.
Giá trị của thu nhập hiện tại có thể kiếm được (hay tiết kiệm được) bằng cách đầu tư vào phương án thay thế hấp dẫn nhất so với phương án đang xem xét. Chi phí theo đuổi một dự án với giá là hy sinh thu nhập từ phương án thay thế hấp dẫn nhất. Ví dụ, đầu tư vào trái phiếu chính phủ thay vì cho vay cầm cố. Cũng được gọi là chi phí thay thế.
Operational Efficiency / Hiệu Quả Vận Hành
Đây là trạng thái của thị trường mà tại đó những người tham gia có thể hoàn thành giao dịch và sử dụng các dịch vụ với mức giá đúng bằng chi phí cần thiết để tạo ra dịch vụ đó. Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư thường phân bổ vốn một cách thận trọng. Một thị trường vận hành hiệu quả sẽ cho phép các nhà đầu tư có thể tiến hành các giao dịch có khả năng tạo ra kết quả tốt hơn nhiều so với dự kiến mà không phải chi trả các khoản "chi phí bôi trơn" quá mức. Chúng ta hãy xem xét một ví dụ. Giả sử rằng trên thị trường mỗi một người môi giới chứng khoán sẽ thu mức phí hoa hồng tối thiểu là 100 đôla cho mỗi lần thực hiện giao dịch. Nếu như bạn đại diện cho một quỹ tương hỗ giao dịch 20.000 cổ phiếu một lúc, chi phí $100/giao dịch là không đáng kể và sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến hiệu quả hoạt động đầu tư của bạn. Nhưng nếu bạn là một nhà đầu tư nhỏ, mỗi lần chỉ giao dịch từ 10 đến 20 cổ phiếu, mức hoa hồng này sẽ gần như triệt tiêu ý định đầu tư của bạn, và do đó làm thị trường sẽ vận hành không hiệu quả. Tuy nhiên sự ra đời của hệ thống giao dịch điện tử cùng với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường đã khiến cho phí giao dịch giảm xuống, công bằng hơn đối với các nhà đầu tư mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận cho người môi giới. Bên cạnh thị trường chứng khoán, các lĩnh vực khác cũng có những thay đổi lớn về cấu trúc và điều tiết, mang lại hiệu quả cho "người chơi".
Operational Audit / Kiểm Toán Hoạt Động
Trong phân loại kiểm toán, kiểm toán hoạt động là một quá trình đánh giá có hệ thống về sự hữu hiệu, tính hiệu quả, và tính kinh tế của các hoạt động dưới sự kiểm soát của nhà quản lý và báo cáo cho các cá nhân thích hợp về kết quả của việc đánh giá, đồng thời đưa ra những kiến nghị để cải tiến. Kiểm toán hoạt động đánh giá các hoạt động, nghiệp vụ dưới ba khía cạnh: - Tính kinh tế (Economy) - Tính hiệu quả (Efficiency) - Sự hữu hiệu (Effectiveness) Một số đặc điểm của kiểm toán hoạt động là: - Chủ thể: chủ yếu là kiểm toán viên nội bộ - Kết thúc kiểm toán: phát hành Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý - Cơ sở pháp lý: các văn bản pháp quy có liên quan - Khách thể: một bộ phận, một chương trình, dự án hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán - Tính chất pháp lý của cuộc kiểm toán: phụ thuộc vào kiểm toán viên thực hiện.
Operating Surplus / Thặng Dư (Operating Surplus)
Được đánh giá gần như là một biện pháp của việc quản lý dòng ngân lưu của công ty dựa trên dữ liệu từ báo cáo thu nhập của công ty. Thặng dư được tính bằng cách dựa vào thu nhập trước khi khấu trừ chi phí lãi vay, thuế, khấu hao tài sản cố định và sự thanh toán nợ, hay còn được gọi là lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBITDA) hoặc dòng tiền hoạt động. Thặng dư là một khái niệm kế toán được sử dụng trong thống kê tài khoản quốc gia, nó có thể được sử dụng trong kinh tế vĩ mô như là một giá trị đại diện cho tổng thu nhập lợi nhuận trước thuế, mặc dù doanh thu có thể là một sự đánh giá tốt hơn so với lợi nhuận kinh doanh. Theo SNA 2008 thì thặng dư là thước đo của thặng dư được tích lũy từ sản xuất trước khi khấu trừ thu nhập tài sản. Ví dụ tiền thuê đất và lãi suất thuê. Giá trị thặng dư là một phần của giá trị gia tăng và GDP. Thuật ngữ “tổng thu nhập” được sử dụng khi thặng dư không được phân biệt với thu nhập từ tiền lương, ví dụ trong trường hợp của sở hữu tư nhân. Hầu hết các loại thặng dư thông thường sẽ bao gồm cả thu nhập từ lợi nhuận gộp. Về nguyên tắc, nó bao gồm (riêng từng khoản) cả khoản tăng giá trị sản lượng hàng tồn kho, có hoặc không có điều chỉnh giá trị phản ánh giá trung bình trong kỳ kế toán. Vì vậy giá trị thặng dư không nhất thiết phải đề cập đến tất cả các khoản thu nhập từ lợi nhuận gộp thực hiện trong một nền kinh tế. Lợi nhuận cũng thu được từ tất cả các loại giao dịch bất động sản mà không liên quan đến việc sản xuất mới, và lợi nhuận cũng bao gồm cả các khoản thu nhập từ nước ngoài. Ngoài ra, lợi nhuận phát sinh từ việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đất đai và tài sản tài chính (trong tất cả các hình thức thu nhập lãi) sẽ không được tính trong đó.
Operating Profit Margin / Hệ Số Lợi Nhuận Hoạt Động
Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết lãnh đạo doanh nghiệp đã thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của doanh nghiệp.
Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết lãnh đạo doanh nghiệp đã thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của doanh nghiệp. Hệ số lợi nhuận hoạt động được tính bằng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho doanh thu: Hệ số biên lợi nhuận hoạt động = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Doanh thu Hệ số biên lợi nhuận hoạt động được tính cho các giai đoạn khác nhau, chẳng hạn cho 4 quý gần nhất hoặc 3 năm gần nhất. Ví dụ: Nếu EBIT lên tới 200 tỷ VNĐ trong khi doanh thu là 1000 tỷ VNĐ, thì Hệ số lợi nhuận hoạt động là: 200 tỷ VNĐ / 1000 tỷ VNĐ = 20%. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động là một thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một doanh nghiệp đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. Các nhà quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân khiến hệ số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó họ có thể xác định xem doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, hoặc xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi phí vốn.
Operating Profit / Lợi Nhuận Kinh Doanh
Là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp sẽ kiếm được nếu không có nguồn lực nào dành cho việc mở rộng doanh nghiệp trong tương lai.
Lợi Nhuận Kinh Doanh (Operating Profit) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Lợi Nhuận Kinh Doanh (Operating Profit) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Operating Mechanism Of Futures Transactions / Cơ Chế Hoạt Động Của Giao Dịch Futures
Mặc dù có mục tiêu khác nhau, cả người hạn chế rủi ro và người đầu cơ đều hoạt động trên cùng một thị trường. Bất kỳ biến động nào xảy ra đối với giá của một hợp đồng đều ảnh hưởng đến cả hai. Dưới đây là một ví dụ về diễn biến biến động của giá phái sinh chứng khoán và các tác động của nó: Tháng Mười Hai Tháng Ba Tháng Sáu Giá vàng là 370$/ounce trên thị trường thanh toán ngay và 358$/ounce cho một hợp đồng tháng Sáu Giá vàng là 395$/ounce trên thị trường thanh toán ngay. Hợp đồng tháng Sáu được bán với giá 398$/ounce Hợp đồng hết hạn khi giá vàng đang là 350$/ounce trên thị trường thanh toán ngay và 352$ trên thị trường futures Vào tháng 12 , giá vàng trên thị trường tiền mặt - giá mà người mua muốn trả tiền để hàng hoá giao ngay - thấp hơn 15$ có với giá của hợp đồng futures tháng 6 Vào tháng 3 , giá vàng tăng lên đến 395$ trên thị trường giao ngay. Hợp đồng future tháng 6 được bán với giá 398$. Người hạn chế rủi ro chờ đến ngày đáo hạn hợp đồng. Người đầu cơ thì bán hợp đồng đã bù, với tính toán rằng giá vàng đã đạt tới mức cao nhất rồi. Vào tháng 6 , khi hợp đồng đến hạn, cả người sản xuất và người sử dụng cân bằng lợi nhuận và thua lỗ của họ trên thị trường futures thông qua các giao dịch bù trên thị trường tiền mặt (thị trường giao ngay) Người sản xuất (người hạn chế rủi ro) Người sản xuất (người hạn chế rủi ro) Người sản xuất (người hạn chế rủi ro) Người sản xuất vàng hạn chế bằng cách bán hợp đồng futures Người sản xuất vàng không thể bán vàng được vì họ chưa có sẵn vàng Do giá HĐ futures đã giảm, người sản xuất thu được tiền lãi từ giao dịch "bù" Người sản xuất vàng bán hợp đồng futures tháng 6 bởi vì họ chưa có sẵn vàng để giao cho tới lúc đó Người mua (người hạn chế rủi ro) Thu nhập khi bán tháng 12 385 $ Sự tăng lên trong giá giao ngay của vàng chính là mối đe doạ mà những người mua cố gắng chống lại để tự bảo vệ mình Chi phí mua tháng 6 - 352$ Thu nhập khi bán vào tháng 12:385$ Kết quả giao dịch (lợi nhuận) 33$ Người sử dụng (người hạn chế rủi ro) Mặc dù người sản xuất phải bán vàng của họ trên thị trường giao ngay với giá thấp hơn giá thoả thuận, lợi nhuận từ các giao dịch futures mang lại cho họ mức lợi nhuận mong muốn Người sử dụng hạn chế bằng cách mua hợp đồng futures. Người đầu cơ Người đầu cơ sẽ bán hợp đồng với suy đoán là giá vàng sẽ đạt tới giá cao nhất. Một đặc điểm để có thể nhận ra điều đó là giá HĐ đã gần bằng giá giao ngay. Nếu người đầu cơ cho rằng có thể đạt được mức giá cao hơn nữa trên thị trường giao ngay trong tương lai gần, họ sẵn sàng trả giá cao hơn để mua HĐ futures. Người sử dụng vàng mua hợp đồng futures tháng 6 bởi vì tháng 6 là thời điểm mà họ cần vàng. Chi phí mua tháng 12: - 385$ Thu nhập trên thị trường giao ngay 350$ Người đầu cơ Lợi nhuận futures +33$ Người đầu cơ mua hợp đồngfutures vàng nếu họ cho rằng gía vàng sẽ tăng Lợi nhuận tổng 383$ Chi phí mua tháng 12: - 385$ Giá bán tháng 3 398$ Người sử dụng (người hạn chế rủi ro) Chi phí mua tháng 12 - 385$ Người sử dụng mất tiền trong hợp đồngfutures bởi vì họ phải trả nhiều tiền hơn để bán hợp đồng bù mà họ đã mua Lợi nhuận giao dịch 13$ Thu nhập trên thị trường giao ngay 350$ Lợi nhuận futures +33$ Lợi nhuận tổng 383$ Do người mua sẽ phải mất ít tiền hơn so với dự kiến để mua vàng trên thị trường tiền mặt, nên tổng chi phí là số tiền mà họ dự kiến Giá mua trên thị trường giao ngay 350$ Chi phí trên thị trường futures +33$ Giá mua vàng thực tế phải trả 383$ Trong bất kỳ một hợp đồng futures nào, lợi nhuận hay thua lỗ của những người hạn chế rủi ro có thể được bù đắp lại, tuỳ thuộc vào sự tăng giảm giá hợp đồngfutures. Tuy nhiên, cuối cùng thì lợi nhuận hay thua lỗ của họ trong các giao dịch futures cũng có thể được bù lại bằng các lợi nhuận hay thua lỗ thu được từ thị trường thanh toán ngay (cash market). Những người đầu cơ có thể thường xuyên bị thua lỗ, thậm chí bị lỗ thường xuyên hơn là thu lãi, tuỳ thuộc vào giá thay đổi và thời gian họ tham gia hay rời bỏ thị trường Xin lưu ý rằng ví dụ trên không bao gồm phí hoa hồng và các chi phí khác có thể phát sinh trong giao dịch hợp đồng futures và giả sử là mọi người đều mua một option theo cùng một giá. Hợp đồng futures cổ xưa nhất có niên đại từ thế kỷ 19 ở Nhật Bản, khi các phiếu gạo (rice tickets) mang lại một nguồn thu nhập thứ cấp ổn định cho những người chủ đất nào thu tiền thuê đất bằng gạo. Họ bán hoá đơn lưu kho của mình với mức giá lưu kho, tạo cho người nắm giữ hoá đơn đó quyền lợi đối với một số lượng gạo cụ thể, với một chất lượng nhất định và vào một ngày cụ thể trong tương lai. Thương gia đã mua phiếu đó có thể đổi chúng thành tiền mặt tại thời điểm đã ấn định hoặc bán phiếu đó cho người khác để thu lợi nhuận. Tương tự như hợp đồng futures ngày nay, những tấm phiếu này tự thân nó không có giá trị thực, nhưng chúng thể hiện một phương pháp thu lợi nhuận dựa trên một loại hàng hoá cơ bản -- đó là gạo. Khoanh vùng thị trường Một số người giao dịch một hàng hoá vật tư sản xuất nào đó không thoả mãn với số tiền họ có thể kiếm lời được từ việc đánh cược trên biến động giá của hàng hoá đó. Họ muốn kiểm soát giá bằng cách cố tạo ra một góc tài chính (financial corner), hay nói cách khác là nắm độc quyền đối với riêng loại hàng hoá đó. Federick Phillipes đã có một cách phân biệt không rõ ràng khi giới thiệu kĩ thuật (technique) này ở miền Bắc Mỹ. Năm 1666, ông đã khoanh vùng thành công thị trường wampum -- loại chuỗi vỏ sò dùng thay tiền của người Mỹ Anh-điêng -- bằng cách giấu đi một vài thùng wampum. Các thương gia da thú phải trả tiền theo giá của ông để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.
Operating Income / Thu Nhập Kinh Doanh
Là thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh bình thường của một doanh nghiệp.
Thu Nhập Kinh Doanh (Operating Income) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thu Nhập Kinh Doanh (Operating Income) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Operating Gearing / Tỷ Phần Chi Phí Nghiệp Vụ Cố Định
Là một số đo tỷ lệ phần trăm các nghiệp vụ của một doanh nghiệp cấu thành nên các chi phí cố định, phép phân tích điểm hoà vốn có thể được sử dụng để xác định tỷ số này.





