Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Orthogonal / Trực Giao

Hai vector hoặc hai ma trận được coi là trực giao nếu tích của chúng là vector/ma trận 0. Do vậy, tích trực giao giữa hai biến số có thể được diễn giải theo cách hiểu rằng sự tương quan giữa chúng là 0 vì tổng của các tích chéo của chúng (tích của các vector thuộc các phép đo của chúng) xác định hệ số tương quan của chúng là 0.

Organization Of Petroleum Exporting Countries / OPEC - Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Mỏ

Là một tổ chức hàng hoá quốc tế có nhiệm vụ điều phối các chính sách sản xuất và định giá dầu mỏ tại các nước thành viên của các nước xuất khẩu dầu mỏ.

Organization Of Economic Co-operation And Development (OECD) / Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế

Là một tổ chức liên chính phủ được thành lập năm 1961 để thay thế và mở rộng tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu (OEEC) theo các điều khoản của công ước ký tại Paris năm 1960 bởi các nước thành viên ban đầu của OEEC gồm Canada, Tây Ban Nha và Mỹ.

Organization Of Arab Petroleum Exporting Countries / OAPEC - Tổ Chức Các Nước Ả Rập Xuất Khẩu Dầu Mỏ

Là một tổ chức hàng hoá quốc tế được thành lập vào năm 1968, có nhiệm vụ điều phối các chính sách kinh tế về dầu mỏ và khuyến khích hợp tác kinh tế giữa các nước Ả rập sản xuất dầu mỏ.

Organization For European Economic Co-operation (OEEC) / Tổ Chức Hợp Tác Kinh Tế Châu Âu

Năm 1947, sau khi có sự gợi ý ban đầu của Marshall, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ về một chương trình hỗ trợ của Mỹ nhằm phục hồi của kinh tế châu Âu sau chiến tranh, 16 nước châu Âu đã thành lâp Uỷ ban hợp tác kinh tế châu Âu để quản lí và điều phối CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI CHÂU ÂU.

Organization For Economic Co-operation And Development / Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế

OECD là một diễn đàn dành cho chính phủ của các nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cùng nhau bàn bạc giải quyết các vấn đề kinh tế của bản thân họ và của thế giới. Hiện OECD có 30 thành viên, hầu hết trong số đó là các quốc gia có thu nhập cao. Tiền thân của OECD là Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC) của 16 nước châu Âu nhằm khôi phục kinh tế và giám sát phân bổ viện trợ. Năm 1950, Mỹ và Canada tham gia OEEC với tư cách quan sát viên. Năm 1961, OEEC được chuyển thành OECD. 16 nước châu Âu trong OEEC cùng với Mỹ và Canada trở thành những thành viên sáng lập của OECD.

Organization / Tổ Chức

Tổ chức là một nhóm bao gồm từ hai người trở lên cùng làm việc với nhau theo một cách thức được cấu trúc, nhằm đạt được những mục tiêu hoặc một tập hợp mục tiêu nhất định. Trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều là thành viên của tổ chức này hoặc tổ chức khác, ví dụ: trường học, đội thể thao, đội nhạc, một công ty kinh doanh, quân đội... Tất cả các tổ chức dù được tổ chức chặt chẽ hay đơn giản cũng đều được một nhóm người đứng đầu tạo ra sự liên kết do họ thấy được lợi ích từ việc cùng làm việc với nhau để đạt được những mục tiêu chung. Ví dụ, để bán được sản phẩm, để dành cúp vô địch, hay để mua vui cho khán giả. Không có mục tiêu, tổ chức sẽ không có lí do để tồn tại. Để đạt được mục tiêu, các tổ chức có các chương trình và cách thức làm việc, được gọi là kế hoạch. Ngoài ra, tổ chức cũng phải đạt được và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu. Một số tổ chức nổi tiếng trên thế giới: Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO     Tổ chức lao động quốc tế     Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới

Organic Growth / Tăng Trưởng Tự Thân

Tăng trưởng tự thân - Organic Growth đề cập tới tốc độ tăng trưởng mà một công ty đạt được nhờ vào việc gia tăng sản lượng và thúc đẩy tiêu thụ. Sự tăng trưởng này không bao gồm tăng trưởng hay lợi nhuận có được nhờ vào những cuộc tiếp quản, sáp nhập và thâu tóm (M&A). Vì những vụ tiếp quản, sáp nhập và thâu tóm không mang lại lợi nhuận từ trong chính bản thân của công ty, do đó không được cho là hoạt động tự thân. Tăng trưởng tự thân tập trung vào việc nâng cao năng suất lao động và cắt giảm chi phí sản xuất sao cho hiệu quả nhất. Tốc độ tăng trưởng tự thân, ngoài ra, còn loại trừ những tác động của tỷ giá hối đoái. Tăng trưởng tự thân thể hiện cho sự tăng trưởng thực sự, cốt lõi của công ty. Đây là một chỉ số biểu thị mức độ hiệu quả của công tác quản lý trong việc tận dụng những nguồn lực bên trong để tối đa hóa lợi nhuận. Đồng thời tăng trưởng tự thân cũng chỉ ra rằng liệu những nhà quản lý đã sử dụng hết kỹ năng của họ để thúc đẩy công việc kinh doanh phát triển chưa.

Organic Composition Of Capital / Thành Phần Hữu Cơ Của Vốn

Là thuật ngữ do C.MÁC dùng để gọi tỷ số giữa vốn cố định với vốn khả biến và là khái niệm gần giống nhưng không hoàn toàn đồng nghĩa với khái niệm hiện đại về tỉ suất VỐN-LAO ĐỘNG vì vốn cố định chỉ thể hiện được vốn và nguyên liệu đã được sử dụng trong quá trình sản xuất chứ khong thể hiện được tổng số vốn và nguyên liệu sẵn có cho lao động.

Ordinate / Tung Độ

Là giá trị trên trục tung của một điểm trên một đồ thị hai chiều.

Ordinary Least Square (OLS) / Phương Pháp Bình Phương Nhỏ Nhất Thông Thường

Là phương pháp phổ biến nhất được sử dụng để ước lượng những thông số trong một phương trình hồi quy tuyến tính.

Ordinalism / Chủ Nghĩa Thứ Tự

Là học thuyết cho rằng các độ thoả dụng chỉ có thể được xếp theo số thứ tự.

Ordinal Utility / Độ Thỏa Dụng Theo Thứ Tự

Hàng hóa nào có độ thoả dụng cao nhất thì được xếp trên hàng hoá có độ thoả dụng cao nhất tiếp theo và cứ tiếp tục như vậy. Độ thoả dụng theo thứ tự là nền tảng cho học thuyết tân cổ điển về cầu của người tiêu dùng.

Ordering / Xếp Thứ Tự

Là việc liệt kê các sự kiện, hàng hoá, dự án… sao cho cái gì được ưa thích nhất thì được đưa lên đầu danh sách.

Order Book / Bảng Đấu Giá

Bảng đấu giá là một bảng thông tin do công ty chứng khoán, nơi chúng ta thực hiện giao dịch, niêm yết lên nhằm cung cấp những thông tin về lệnh mua lệnh bán với mức giá tương ứng trên thị trường cho người đầu tư chứng khoán. Rõ ràng việc nắm bắt được các thông tin về giao dịch này là rất quan trọng, người nào muốn mua bán sát giá thì phải biết đọc và khai thác bảng đấu giá.  Ta hãy xem xé một bảng đấu giá cụ thể để biết  được cơ cấu của bảng. Bảng đấu giá được chia làm hai bên, bên mua (BID) và bên bán (ASK).      Bên muốn mua cổ phiếu (bid) được ghi 5 mức giá muốn mua với giá cao nhất cùng với số lượng mệnh lệnh và số lượng cổ phiếu. Bên bán (ask) cũng ghi 5 mức giá muốn bán thấp nhất. Trong bảng đấu giá này có 2 lệnh đặt mua tổng số 37 cổ phiếu với giá 18.50, 4 lệnh mua 165 cổ phiếu với giá 18.20… Bên bán thì có 1 lệnh bán 82 cổ phiếu với giá 19.50, 5 lệnh bán 280 cổ phiếu với giá 19.63…                                                               Cách khai thác bảng đấu giá: Bảng đấu giá trực tuyến thay đổi dữ liệu khoảng hai đến ba lần trong mỗi phút, công ty trung gian cung cấp cho nguời chơi chứng khoán dịch vụ này thì họ mới có thể mua bán sát giá được, nếu không đọc được bảng đấu giá trực tuyến mà chỉ nắm được thông tin sau 15, 30 phút sau cũng là đã quá muộn màng, không thể mua bán kiểu rất ngắn hạn để chớp thời cơ thu lời lớn đu. Cũng như thị trường OTC, sự giao dịch chỉ được thực hiện khi phe bên này đồng ý với giá cả mà phe bên kia đưa ra. Nếu không thì mọi giao dịch bị ngưng trệ, giá niêm yết trên sàn đứng yên. Theo bảng đấu giá này, bên mua chỉ có thể mua 82 cổ phiếu với giá 19.50, 280 cổ phiếu với giá 19.63… nếu họ muốn mua nhiều hơn thì họ phải trả giá cao hơn cho những cổ phần còn lại. Giả sử như họ muốn mua 100 cổ phiếu ngay lập tức, thì họ phải ra lệnh thị trường. Lệnh thị trường có đặc điểm là không hiện trên bảng đấu giá vì lệnh “mua trên bán trước” này được lập tức được thi hành. Kết quả là họ mua được 82 cổ phiếu với giá 19.50 và 18 cổ phiếu còn lại với giá 19.63. Giá niêm yết trên sàn sẽ nhích lên ở mức 19.63. Muốn an toàn hơn thì có thể ra lệnh mua theo giá ấn định (lệnh giới hạn) 50 cổ phiếu với giá 19.63 , thì kết quả cũng tương tự như vậy. Vì khi ra lệnh chậm một chút, bị người khác hớt tay trên mua hết những cổ phiếu giá 19.50 và 19.63, thì mệnh lệnh của người muốn mua 100 cổ phiếu không có hiệu lực vì không ăn khớp với thị trường đang lên. Chúng ta cũng cần sự hiểu biết này để tránh được nhiều “tai nạn” tài chính. Ở chợ trời, có hai mốc thời gian mà giá cả biến động rất lớn là buổi sáng khi người ta cần mua những hàng hoá cần thiết và buổi chiều khi người bán muốn bán tháo bán để rảnh tay về nhà. Trong thị trường chứng khoán cũng vậy, hai giờ đầu và hai giờ cuối của một phiên dịch trong ngày là hai mốc thời gian nên chú ý nhất vì số lượng giao dịch dồi dào và giá cả giao động mạnh. Ngoài hai mốc thời gian này ra, khó có thể mua bán mua theo giá đang niêm yết vì hai bên bán lẫn mua đang “ghìm” nhau, dùng nhiều mưu mẹo để kích cung kích cầu nhằm thu lời cho mình.  Một mánh khóe cổ điển nhất trong thị trường chứng khoán là đặt và xóa những mệnh lệnh mua cổ phiếu gần với giá niêm yết, để cho người khác muốn mua phải nhích mức giá chào mời lên, rồi bất thình lình ra lệnh thị trường, bán những cổ phần đang sở hữu một cách đàng hoàng và đúng luật. Các chuyên gia phân tích chứng khoán đưa ra lời khuyên sau: nguời chơi chứng khoán phải lưu ý là tối thiểu thì công ty trung gian phải cho nhà đầu tư khai thác 2 mệnh lệnh mua và bán theo giá ấn định, để khai thác được nguyên tắc vàng của chứng khoán: bán cổ phần lỗ, giữ cổ phần lời.

Options Backdating / Ghi Lùi Ngày Quyền Chọn

Ghi lùi ngày quyền chọn là việc ghi ngày trả quyền chọn mua cổ phiếu cho nhân viên công ty lùi về một ngày trước ngày trả quyền chọn thực tế. Ví dụ: công ty X đã trả lương cho CEO của mình bằng quyền chọn mua cổ phiếu vào ngày 15/9/2006 nhưng sau đó, trong báo cáo tài chính cuối năm sự kiện này lại được ghi nhận vào ngày 15/3/2006? Việc ghi lùi ngày quyền chọn có ý nghĩa như thế nào? Liệu người ta có bao giờ ghi tiến ngày quyền chọn hay không?     Việc ghi lùi quyền chọn, nếu được tiến hành một cách cố ý sẽ tương đương với việc lấy tiền từ túi của cổ đông để trả cho người được hưởng quyền mua cổ phiếu. Việc quyết định xem hành vi này có phải là bất hợp pháp hay không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế. Người được hưởng quyền chọn mua cổ phiếu sẽ chỉ được quyết định thực hiện quyền của mình vào một ngày nào đó sau ngày được nhận quyền này. Rõ ràng, giá cổ phiếu vào thời điểm mua càng thấp thì người có quyền mua càng có lợi. Bằng việc ghi lùi ngày quyền chọn về một thời gian trước ngày quyền chọn thực tế được trả, người được hưởng quyền này có thể "đưa" giá mua cổ phiếu về một thời điểm trong quá khứ để tận dụng giai đoạn giá cổ phiếu ở mức thấp. Quay lại ví dụ trên: nếu giá cổ phiếu trong năm chạm đáy vào một thời điểm nào đó sau 15/3 và trước 15/9, thì việc "đẩy lùi" ngày quyền chọn về 15/3 giúp CEO của công ty X được quyền mua cổ phiếu công ty ở một mức giá vô cùng hấp dẫn trong giai đoạn này. Việc làm này thực ra là một hành động gian lận, nhằm hợp lý hoá khoản thu nhập mà CEO này đáng lẽ không được hưởng. Tuy nhiên, nếu giá cổ phiếu lại đạt thấp nhất vào sau ngày 15-9 thì CEO này không cần phải lùi ngày quyền chọn mà vẫn nghiễm nhiên được hưởng giá tốt. Cũng từ ví dụ trên có thể thấy rằng, việc ghi tiến ngày quyền chọn được trả thực sự không đem lại lợi ích gì cho người hưởng quyền, những người thường lại nắm các vị trí cấp cao. Do đó người ta chỉ nghe thấy việc ghi lùi quyền chọn chứ ít khi nghe thấy việc ghi tiến ngày quyền chọn. Tại Mỹ, từ năm 1992, Uỷ ban Chứng khoán đã áp dụng một qui định yêu cầu các công ty phải báo cáo chi tiết về quyền chọn mua cổ phiếu dành cho các nhân viên cấp cao. Nếu không vì qui định này, các nhân viên cấp cao chắc chắn sẽ vẫn còn giấu diếm cổ đông về việc ghi lùi ngày quyền chọn của mình. Việc ghi lùi ngày quyền chọn còn liên quan đến các thuật ngữ sau: Bullet dodging: việc trì hoãn việc trả quyền chọn đến ngay sau khi đưa ra thông tin xấu, đương nhiên vào thời điểm này giá cổ phiếu sẽ hạ. Spring-loading: tính toán việc trả quyền chọn vào thời điểm ngay trước khi công bố thông tin tốt, trong đó lại chia làm 2 trường hợp nhỏ: Symmetric spring-loading: khi các thành viên ban quản trị thông qua việc trả quyền chọn có biết về các thông tin tốt sắp tới asymmetric spring-loading: khi các thành viên ban quản trị thông qua việc trả quyền chọn không biết về các thông tin tốt sắp tới

Options / Quyền Chọn

Quyền chọn là công cụ tài chính mang lại quyền, chứ không phải là nghĩa vụ, tham gia một giao dịch trong tương lai nhằm mua bán các tài sản cơ sở. Hợp đồng quyền chọn bao gồm quyền chọn Mua (Call option) và quyền chọn Bán (Put option). Giá trị lý thuyết của quyền chọn có thể được xác định bằng một số kĩ thuật. Những mô hình này, được phát triển bởi các nhà phân tích định lượng, có thể dự đoán giá trị của hợp đồng quyền chọn sẽ thay đổi như thế nào khi các điều kiện liên quan thay đổi. Vì vậy, cácrủi ro liên quan đến việc mua bán và sở hữu quyền chọn có thể được hiểu và quản lí ở một mức độ chính xác nhất định. Những hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên các sàn giao dịch chứng khoán tạo thành một lớp hợp đồng quyền chọn có các tiêu chuẩn chuẩn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch giữa các bên có quan hệ độc lập. Quyền chọn OTC được giao dịch giữa các bên tư nhân, thường là các tổ chức đã được vốn hóa, và đã thương lượng trước với nhau về các giao dịch và thanh toán. Một lớp quan trọng khác của quyền chọn, đặc biệt là ở Mỹ, đó là quyền mua cổ phần dành cho người lao động, công ty trao quyền chọn này cho người lao động nhằm mục đích khuyến khích tinh thần làm việc. Một số các dạng khác của quyền chọn là Quyền chọn bất động sản, thường được sử dụng để mua bán một mảnh đất lớn, và quyền chọn trả trước được sử dụng trong các khoản cho vay có thế chấp. Mô hình định giá quyền chọn là Black Scholes và các mô hình Stochastic Volatility.

Option, Option Contract / Quyền Chọn, Hợp Đồng Quyền Chọn

Một loại chứng khoán phát sinh tài chính đại diện cho một hợp đồng được bán bởi người lập quyền chọn cho người mua quyền chọn. Hợp đồng cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hoặc được bán một chứng khoán hay các tài sản tài chính khác tại giá thực hiện trong một thời kì nhất định hoặc trong một ngày cụ thể (ngày thực hiện). Nói cách khác, hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hoặc được bán: + Một số lượng xác định các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán. + Tại (hoặc trước) một thời điểm xác định trong tương lai. + Với một mức giá xác định tại thời điểm ký hợp đồng. Tại thời điểm xác định trong tương lai, người mua quyền có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền mua (hay bán) các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán. Nếu người mua thực hiện quyền mua (hay bán), thì người bán quyền buộc phải bán (hay mua). Hợp đồng quyền chọn là những chứng khoán hết sức linh hoạt có thể dùng theo rất nhiều cách. Những người giao dịch sử dụng hợp đồng quyền chọn để đầu cơ- một hành động khá mạo hiểm, trao khi những người bảo hộ sử dụng quyền chọn để giảm rủi ro của việc sở hữu tài sản. Đây là một trong những công cụ để bảo vệ nhà đầu tư khi giá chứng khoán liên tục giảm hoặc giảm đột biến. Trong một vụ đầu cơ, những người lập và người mua hợp đồng quyền chọn có quan điểm xung đột nhau về việc tăng giảm giá của một tài sản cơ sở. Ví dụ, bởi vì người lập hợp đồng quyền chọn sẽ cần phải đưa ra những cổ phiếu cơ sở nếu giá thị trường của chứng khoán vượt quá giá thực hiện, người lập hợp đồng quyền chọn để bán quyền chọn mua tin rằng giá cổ phiếu cơ sở sẽ giảm tương đương với giá thực hiện của quyền chọn trong suốt thời gian quyền chọn có hiệu lực, vì như thế người đó sẽ thu được lợi nhuận tối đa. Điều này hoàn toàn trái ngược với cách nhìn của người mua hợp đồng quyền chọn. Người mua tin rằng giá cổ phiếu cơ sở sẽ tăng, bởi vì nếu điều này xảy ra, người mua sẽ có thể có được chúng với giá thấp hơn, và sau đó bán lại chúng để kiếm lời. Có 2 loại quyền chọn là: Quyền chọn mua (call option) và Quyền chọn bán (Put option) Hợp đồng quyền chọn có chiều dài lịch sử thăng trầm, nó được giao dịch trên thị trường phi tập trung OTC (over-the-counter market) từ thế kỷ 19. Tuy nhiên, các hợp đồng quyền chọn đã tăng vọt trong 30 năm trở lại đây, đặc biệt là kể từ khi Sàn giao dịch Option Chicago CBOE-Chicago Board Option Exchange - được thành lập vào tháng 4 năm 1973 (www.CBOE.com). Tại Việt Nam, hoạt động Option chỉ mới bắt đầu và được thí điểm tại Eximbank vào ngày 24.2.2003, sau đó tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.

Option Value / Giá Trị Của Quyền Lựa Chọn

Là giá trị mà người tiêu dùng có được trong việc có quyền chọn mua một loại hàng hoá.

Option Contract / Hợp Đồng Quyền Chọn

Giả sử S là giá trị của một tài sản và S dao động bất định phụ thuộc vào tác động của thị trường. T là thời gian đáo hạn. Một quyền chọn là một hợp đồng giữa người nắm giữ và người viết, bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm t = 0, trong đó người nắm giữ quyền chọn có quyền đòi một lợi nhuận X ngẫu nhiên nào đó. X phụ thuộc vào sự tiến triển của S tại một thời điểm trong tương lai, bao gồm cả thời điểm T. Như vậy, quyền chọn bản chất là một vụ cá cược tinh vi và có thể kết luận: hợp đồng quyền chọn phải có một giá trị nhất định đối với người nắm giữ nó. Người viết hợp đồng có thể đánh phí rất cao để phòng vệ nhằm chống lại rủi ro chi trả nhiều một cách thường xuyên. Nhưng nếu như vậy thì người viết hợp đồng quyền chọn dường như có lợi hơn và thị trường sẽ đổ xô bán quyền chọn chứ không mua. Ngược lại, nếu người bán quyền chọn không đưa ra một mức giá đủ cao thì những khách hàng tham vọng sẽ tìm cơ hội mua quyền chọn đó với số lượng lớn. Cả hai trường hợp trên đều là ví dụ về đầu cơ, trong khi những nhà đầu tư khác trên thị trường thì đều mong muốn một cơ chế xác lập giá công bằng. Bản chất là một công cụ tài chính, ưu điểm của quyền chọn thể hiện trong 3 hình thức giao dịch của 3 nhóm người trên thị trường quyền chọn: Người phòng hộ. Những người này mua quyền chọn như một dạng hợp đồng bảo hiểm trước những thay đổi bất thường của thị trường. Nếu một công ty có quan hệ ngoại thương thì nó sẽ mua hợp đồng quyền chọn tiền tệ để được chi trả một khoản chắc chắn khi tỷ giá hối đoái trở nên bất lợi. Theo cách này, bạn có thể phòng vệ nhiều hay ít tùy thuộc vào việc bạn mua quyền chọn trị giá bao nhiêu. Ví dụ, nếu ta muốn nhập khẩu 1 tỷ yên hàng điện tử của Nhật trong thời hạn 1 năm kể từ bây giờ với tỷ giá 200 yên/bảng, có thể thực hiện một quyền chọn cam kết chi trả cho bạn 1 tỷ yên sau một năm nếu tỷ giá hối đoái chỉ còn 181.23 yên/bảng tại bất kỳ thời điểm nào trong 1 năm đó. Điều này có nghĩa là, khi giá đồng yên tăng tương đối với đồng bảng thì có thể thực thi quyền chọn và mua hàng hóa. Còn nếu tỷ giá tiếp tục duy trì ở mức thấp thì sẽ mất số tiền bỏ ra để mua quyền chọn và sẽ mua hàng tại tỷ giá đã được sẵn sàng chi trả. Chi phí của chiến lược phòng hộ này chỉ là mua một quyền chọn với giá tương đối rẻ so với những biến động lớn của thị trường tiền tệ. Nhà đầu cơ. Là những người đánh cược vào sự biến động của giá các loại tài sản. Họ tham gia vào một vị thế nhất định thị trường tùy thuộc vào niềm tin của mình, lỗ hoặc lãi hoàn toàn ngẫu nhiên. Họ coi chứng khoán phái sinh như một công cụ tăng ga cho hoạt động đầu tư của họ. Bởi vì các sản phẩm phái sinh từ các tài sản cơ sở có khả năng mang lại lợi nhuận nhiều hơn chính các tài sản cơ sở đó. Ví dụ, bạn đầu tư 10.000 bảng vào một cổ phiếu trị giá 10 bảng để mua 1.000 cổ phiếu đó. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng trong vòng một năm, bạn lãi được 1.000 bảng. Còn nếu bạn mua một hợp đồng quyền chọn để được quyền mua cổ phiếu trên với giá 10 bảng trong một năm, và bạn phải mất chi phí, giả sử, 0.5 bảng một cổ phiếu, bạn có thể mua được 20.000 nghìn cổ phiếu. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng, bạn thực thi quyền chọn, mua 20.000 cổ phiếu với giá 10 bảng và bán lại chúng trên thị trường với giá 11 bảng, bạn sẽ lãi 10.000 bảng. Đương nhiên, nếu giá cổ phiếu tụt xuống chỉ 9.99 bảng, bạn sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra mua quyền chọn. Nhà cơ lợi phi rủi ro. Là những người quan sát thị trường và cố gắng tìm ra những tình huống thu lời phi rủi ro. Họ kết hợp việc mua hàng hóa tại một thị trường này và bán lại tại một thị trường khác sao cho độ chênh lệch giá đảm bảo một khoản lãi. Một ví dụ đơn giản là khi một cổ phiếu được giao dịch tại hai mức giá khác nhau trên hai thị trường. Nếu một cổ phiếu được giao dịch tại London với giá 100 bảng và 285 mác Đức tại Frankfurt, trong khi tỷ giá hối đoái là 2.82 mác/bảng, thì cổ phiếu đó rẻ hơn tương đối ở London. Bạn có thể mua 1.000 cổ phiếu tại London và bán lại chúng tại Frankfurt rồi đổi mác Đức sang bảng và thu được một khoản 1063.3 bảng mà không phải chịu bất kỳ rủi ro nào. Những cơ hội như vậy là vô cùng hiếm và ngay lập tức nó bị chộp mất bởi những người săn cơ hội kiếm lời. Khi mọi người mua cổ phiếu thì giá sẽ tăng trên thị trường London và khi mọi người bán cổ phiếu đó tại Frankfurt thì giá ở đây cũng sẽ giảm đi cho đến khi nào giá ở hai nơi được xác lập cân bằng.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55