Overvalued Currency / Tiền Được Định Giá Quá Cao
Một loại tiền mà tỷ giá hối đoái được quy định vượt trên tỷ giá cân bằng của thị trường tự do.
Over-The-Counter Stocks / Cổ Phiếu OTC
Là loại chứng khoán không được mua bán chính thức trên các thị trường ngoại hối như NYSE, TSX, AMEX, v.v, thông thường bởi vì chúng không đạt được các yêu cầu của việc niêm yết. Đối với các chứng khoán như vậy, những nhà buôn và nhà môi giới thường thương lượng trực tiếp với nhau qua mạng máy tính hay qua điện thoại. Hoạt động của họ được giám sát bởi Hiệp hội buôn bán Chứng khoán Quốc gia (National Association of Securites dealers). Cổ phiếu OTC thường chứa rất nhiều rủi ro bởi vì chúng không được coi là chứng khoán khoẻ và không có tính bền vững. Trên thị trường loại chứng khoán này không được giao dịch thường xuyên, và độ chênh giữa giá mua và giá bán thường lớn. Chính vì vậy việc nghiên cứu về loại chứng khoán này cũng khó mà đạt được các kết quả như mong muốn. Thuật ngữ cũng được sử dụng để chỉ các chứng khoán nợ và các công cụ tài chính khác như chứng khoán phái sinh, được mua bán thông qua mạng lưới giao dịch. Cổ phiếu OTC còn được gọi là cổ phiếu không được niêm yết "unlisted stock". Mặc dù Nasdaq hoạt động như 1 mạng lưới giao dịch nhưng cổ phiếu trên Nasdaq nhìn chung không bị xếp vào loại OTC vì Nasdaq được coi là một thị trường chứng khoán. Những công cụ tài chính như Trái phiếu cũng không được giao dịch trên thị trường hối đoái chính thức vì vậy cũng được coi là chứng khoán OTC. Hầu hết các công cụ nợ được giao dịch bởi các ngân hàng đầu tư là nơi chuyên giao dịch các loại chứng khoán như thế. Nếu 1 nhà đầu tư muốn mua hoặc bán trái phiếu, anh ta phải gọi đến ngân hàng là nơi giao dịch loại trái phiếu đó và yêu cầu niêm yết giá.
Là loại chứng khoán không được mua bán chính thức trên các thị trường ngoại hối như NYSE, TSX, AMEX, v.v, thông thường bởi vì chúng không đạt được các yêu cầu của việc niêm yết. Đối với các chứng khoán như vậy, những nhà buôn và nhà môi giới thường thương lượng trực tiếp với nhau qua mạng máy tính hay qua điện thoại. Hoạt động của họ được giám sát bởi Hiệp hội buôn bán Chứng khoán Quốc gia (National Association of Securites Dealers). Cổ phiếu OTC thường chứa rất nhiều rủi ro bởi vì chúng không được coi là chứng khoán khoẻ và không có tính bền vững. Trên thị trường loại chứng khoán này không được giao dịch thường xuyên, và độ chênh giữa giá mua và giá bán thường lớn. Chính vì vậy việc nghiên cứu về loại chứng khoán này cũng khó mà đạt được các kết quả như mong muốn. Thuật ngữ cũng được sử dụng để chỉ các chứng khoán nợ và các công cụ tài chính khác như chứng khoán phái sinh, được mua bán thông qua mạng lưới giao dịch. Cổ phiếu OTC còn được gọi là cổ phiếu không được niêm yết "unlisted stock". Mặc dù Nasdaq hoạt động như 1 mạng lưới giao dịch nhưng cổ phiếu trên Nasdaq nhìn chung không bị xếp vào loại OTC vì Nasdaq được coi là một thị trường chứng khoán. Những công cụ tài chính như Trái phiếu cũng không được giao dịch trên thị trường hối đoái chính thức vì vậy cũng được coi là chứng khoán OTC. Hầu hết các công cụ nợ được giao dịch bởi các ngân hàng đầu tư là nơi chuyên giao dịch các loại chứng khoán như thế. Nếu 1 nhà đầu tư muốn mua hoặc bán trái phiếu, anh ta phải gọi đến ngân hàng là nơi giao dịch loại trái phiếu đó và yêu cầu niêm yết giá.
Over-The-Counter (OTC) Derivatives / Phái Sinh OTC
Là những hợp đồng được giao dịch (và được thương lượng cá nhân) trực tiếp giữa 2 bên mà không qua sàn giao dịch hay trung gian khác. Những sản phẩm như hợp đồng hoán đổi, thỏa thuận lãi suất kì hạn và các quyền chọn nước ngoài hầu hết được giao dịch theo phương thức này. Vì thế, thị trường phái sinh OTC là rất lớn. Theo Ngân hàng Quyết toán quốc tế (The Bank for International Settlements – BIS), tổng số tiền ước lượng chưa thanh toán trong năm 2005 đạt khoảng 298 nghìn tỷ USD.
Overshooting / Tăng Quá Cao (Tỷ Giá Hối Đoái)
Dưới chế độ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LINH HOẠT, đó là hiện tượng được thấy thường xuyên để phản ứng lại một cơn sốc của giá trị thực tế của tỷ giá hối đoái vượt quá giá trị cân bằng mới khi mà giá trị này được xác định dựa vào các nguyên tắc cơ bản chẳng hạn như sự ngang bằng sức mua.
Overnight Money / Tiền Qua Đêm
Tiền được bán tại thị trường liên ngân hàng bởi các ngân hàng có quỹ nhàn rỗi cho các ngân hàng cần vốn tạm thời. Thị trường quỹ Fed nơi các định chế tài chính bán dự trữ vượt mức, từ các tài khoản dự trữ được giữ tại ngân hàng Dự trữ Liên bang cho các ngân hàng khác, là nguồn tiền qua đêm lớn nhất. Các quỹ Fed được trả ngược về cho ngân hàng bán vào khởi điểm ngày hôm sau. Xem MATCHED SALE-PURCHASED AGREEMENT; REPURCHASE AGREEMENT.
Overnight Credit / Tín Dụng Qua Đêm
Là loại tín dụng vay hôm nay qua sáng mai sẽ trả cả vốn lẫn lãi. Tín dụng qua đêm được phát triển là do múi giờ của các nước khác nhau, giờ này tại nước này các ngân hàng đóng cửa nhưng ở các nước khác lại đang hoạt động. Do đó người ta vay tiền ở nước này đang nghỉ để chuyển sang nước khác đang hoạt động để kinh doanh kiếm lời trong các hoạt động giao dịch hối đoái, giao dịch trên thị trường chứng khoán.Có những nước có các ngành hoạt động kinh doanh 24 trên 24 giờ đồng hồ không nghỉ như Sòng bạc, Sở giao dịch hối đoái, v.v... Đây chính là nơi sử dụng tín dụng overnight.
Overfunding / Vay Quá Mức
Là một thuật ngữ để mô tả hành động của các cơ quan quản lý tiền tệ của Anh vào đầu những năm 80 trong việc bán ra các khoản nợ của chính phủ cho các tổ chức và cá nhân không phải ngân hàng nhiều hơn so với quy định để đáp ứng được yêu cầu vay nợ của khu vực công cộng trong những năm đó.
Overdraft / Tín Dụng Thấu Chi
Là loại tín dụng mà Ngân hàng cho khách hàng vay tự động trong một định mức nhất định khi trên tài khoản của khách hàng tạm thời hết tiền. Việc thu hồi vốn cho vay sẽ được thực hiện khi trên tài khoản của khách hàng có tiền và được thực hiện một cách tự động, không cần phải báo trước cho khách hàng. Định mức cho vay của tín dụng thấu chi chỉ thường là trên dưới 10% của số dư tồn khoản của khách hàng vào năm trước. Lãi cho vay thấu chi nói chung thường rất thấp, thông thường bằng lãi tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Nhờ vào cơ chế của tín dụng thấu chi mà khách hàng có thể đáp ứng được kịp thời các lệnh thanh toán của chủ nợ. Nhờ những ưu điểm này, mà các ngân hàng thương mại sử dụng tín dụng thấu chi cấp cho khách hàng như là một công cụ cạnh tranh lôi kéo khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng mình.
Overdraft / Thấu Chi
Thấu chi xuất hiện khi việc rút tiền từ tài khoản ngân hàng nhiều hơn tài khoản hiện có. Điều này tạo ra một số dư âm trên tài khoản và đồng nghĩa với việc ngân hàng đã cấp cho chúng ta một khoản tín dụng. Nếu có sự thỏa thuận trước với ngân hàng về mức thấu chi cho phép và khoản tiền rút vượt quá chỉ nằm trong mức thấu chi cho phép, khi đó ngân hàng chỉ tính lãi suất bình thường với mức lãi suất đã được thỏa thuận. Còn nếu thấu chi cao hơn mức cho phép thì sẽ ngân hàng sẽ tính phí và có thể áp dụng lãi suất cao hơn. Thấu chi ở Vương quốc Anh Các ngân hàng ở Anh thường cung cấp một mức thấu chi cơ bản để giới hạn mức thấu chi cho phép. Tuy nhiên ,nếu các ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ thấu chi với lãi suất tự do sẽ dẫn đến vấn đề số dư trung bình hàng tháng hoặc lãi suất vay thấu chi của các ngân hàng sẽ rất khác nhau và còn có thể khác nhau tùy theo sản phẩm. Và ở Anh , điều này là rất phổ biến. Khi một khách hàng sử dụng thấu chi cao hơn mức thấu chi cho phép, tức là họ đã dùng vào phần thấu chi không được phép.Và do đó với việc tăng mức thấu chi cho phép, khách hàng sẽ bị tính một hoặc nhiều phí, cùng với việc tính lãi suất cho vay cao hơn đối với khoản khấu chi vượt định mức. Cần phải lưu ý là các ngân hàng cũng tính phí rất khác nhau. Hơn nữa nếu khách hàng có một khoản mà ngân hàng phát hành của họ từ chối cung cấp vì lý do quỹ không đủ, có nghĩa là, ngân hàng quyết định không cho khách hàng sử dụng vượt qúa khoản thấu chi cho phép thì ngân hàng có thể sẽ tính phí đối với khách hàng này. Phải nói lại một lần nữa là các mức phí giữa các ngân hàng rất khác nhau. Năm 2006, bộ Thương mại ra thông báo cho biết các nhà ngân hàng phát hành thẻ tín dụng đang thu tiền phí phạt quá cao đối với khách hàng sử dụng vượt quá mức thấu chi tối đa cho phép và chậm thanh toán cho tài khoản của họ. Trong thông báo của mình bộ Thương mại đề xuất các ngân hàng phát hành thẻ tín dụng nên thiết lập các loại phí tối đa là 12 đồng bảng Anh. Đồng thời bộ Thương mại cũng cho thấy các ngân hàng phát hành thẻ tín dụng tính phí tương tự nhau đối với các khoản phí tính trên phần thấu chi vượt định mức.Thông báo này được nhiều khách hàng- những người đang phải chịu khoản phí thấu chi vượt định mức- sử dụng để chính thức yêu cầu các ngân hàng của họ tính lại phí. Những yêu cầu như thế đang “ngập lụt“ ở các tòa án của Anh và xứ Wales. Và những người này có khuynh hướng đang được các website thường xuyên giúp đỡ chẳng hạn như Tổ chức hành động vì người tiêu dùng. Về phía ngân hàng, một số ngân hàng đã phản ứng lại bằng cách đóng tài khoản khách hàng vì lý do rằng tài khoản đã không được hoạt động đúng như những giới hạn và điều kiện mà khách hàng đã đồng ý chấp thuận khi mở tài khoản.
1. Số tiền mà một chi phiếu vượt số dư hiện tại trong tài khoản séc. Cũng đề cập đến số dư tài khoản âm do người gởi tiền viết chi phiếu vượt số dư tài khoản. Các khách hàng có mức tín dụng thấu chi, được gọi là mức bảo vệ thấu chi , có thể viết chi phiếu nhiều hơn số dư tài khoản bất cứ khi nào họ muốn, không lo ngại các chi phiếu của họ sẽ bị trả lại hay họ sẽ phải trả phí chi phiếu thấu chi đối với các chi phiếu bị trả về. Cũng được gọi là "đặc quyền thấu chi" 2. Thấu chi trong ngày đối với tài khoản dự trữ của một ngân hàng tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang, được tạo ra khi số dư được chuyển đến các ngân hàng khác hay các bên thứ ba, vượt số dư trong tài khoản dự trữ của nó. Việc thiếu hụt tiền trong các tài khoản dự trữ là tình huống tạm thời được trang trải bởi việc chuyển tiền vô tuyến từ các ngân hàng khác. Xem BILATERAL CREDIT LIMIT; OVERDRAFT CAP; UNWINDING. 3. Hệ thống ngân hàng tại Anh và các nước Châu Âu khác, ở đó người gửi tiền có thể viết chi phiếu lớn hơn số dư trung bình và còn có thể giữ số dư âm, phải trả tiền lãi trên số dư âm. Cũng được gọi là nghiệp vụ ngân hàng thấu chi.
Overdraft / Vay Thấu Chi
Cho vay thấu chi là việc tổ chức tín dụng chấp thuận bằng văn bản cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng. Ngân hàng cấp cho bạn một hạn mức sử dụng tiền trên tài khoản vãng lai tại ngân hàng, với hạn mức thấu chi này, bạn có thể dùng tiền trong hạn mức này khi tài khoản bạn không có số dư. Ví dụ, bạn được cấp hạn mức thấu chi trên tài khoản vãng lai là 10 triệu đồng. Có nghĩa là khi tài khoản này không còn đồng xu nào, bạn vẫn có thể rút tối đa 10 triệu và chi tiêu thoải mái, tức là tài khoản vãng lai của bạn được phép âm tối đa 10 triệu. Khi bạn nộp tiền vào tài khoản này, lập tức hai bên nợ có đối trừ cho nhau. Ví dụ tài khoản đang âm 10 triệu đồng, bạn nộp 9 triệu thì tài khoản vẫn âm 1 triệu, còn nếu nộp 11 triệu thì tài khoản sẽ dương 1 triệu. Tài khoản tiền vay thông thường thì khác hẳn. Việc ghi nợ và có của tài khoản tiền vay phải tương ứng với các khế ước nhận nợ chứ không đối trừ nợ có để ra một số dư cuối cùng như ở tài khoản thấu chi. Khách hàng chỉ có thể chi tiêu trong khoản tiền tín dụng ngân hàng đã cấp. Vay thấu chi thường được sử dụng khi bạn cần nóng một khoản tiền. Lãi suất thấu chi khá cao và tính theo ngày, nên khi nhận một khoản vay thấu chi tuy được chi tiêu thoải mái nhưng phải tính đến khả năng trả nợ. Có nhiều người nhẫm lẫn giữa hạn mức tín dụng với vay thấu chi, thực chất đây là hai khái niệm khác nhau Cho vay thấu chi được thực hiện trên tài khoản vãng lai chủ yếu nhằm mục đích cho vay đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nảy sinh bất chợt ngân hàng có thể tùy vào uy tín hoặc chính sách của mình mà cấp cho hạn mức thấu chi có tài sản đảm bảo hoặc không lãi suất thấu chi rất cao, gấp 1,5 lần lãi suất vay thông thường Cho vay theo hạn mức tín dụng thực hiện qua tài khoản tiền vay đáp ứng mọi yêu cầu hợp pháp của các chủ thể trong nền kinh tế, nhưng vay phải có phương án và kế hoạch trả nợ cụ thể vay theo hạn mức tín dụng thường phải có tài sản đảm bảo lãi suất thấp hơn vay thấu chi. Những ai có tài khoản tiền lương gửi tại Ngân hàng có thể yêu cầu ngân hàng cho hưởng dịch vụ này, hạn mức thấu chi có thể gấp 3 lần tiền lương, thậm chí lên tới 5 lần. Trong trường hợp cần tiền gấp, thấu chi có thể là một dịch vụ tiện ích nhưng nhiều ngân hàng còn dè dặt khi cung cấp sản phẩm này. Bởi lẽ yêu cầu cho vay thấu chi là khách hàng phải đáp ứng độ tin cậy với ngân hàng. Đối tượng phù hợp dịch vụ này là những người có thu nhập cao, ổn định, đang công tác tại công ty liên doanh, nước ngoài, cổ phần.
Over The Counter Market / Thị Trường Không Nơi Giao Dịch
Là một thị trường cổ phiếu, phần lớn của các công ty loại nhỏ, được phân biệt bằng thực tế là thị trường này không có trụ sở giao dịch; việc mua bán được thu xếp bằng viễn thông, mặc dù khách hàng có thể mua bán cổ phiếu ngay trên bàn làm việc của mình.
Over Reaction / Phản Ứng Quá Mức
Đây là thành ngữ của thị trường chứng khoán dùng để mô tả phản ứng quá mức của nhà đầu tư về một thông tin liên quan đến cổ phiếu nào đó. Thông tin này làm giá cổ phiếu biến động với biên độ lớn (tăng hoặc giảm mạnh). Giá cổ phiếu lúc này không phản ánh đúng giá trị thực của cổ phiếu đó. Phản ứng thái quá thông thường không duy trì được lâu. Khi nhà đầu tư bình tĩnh, giá cổ phiếu sẽ điều chỉnh lại mức giá hợp lý trong thời gian ngắn. Theo SBSC, phản ứng thái quá về thông tin xảy ra phổ biến tại Việt Nam đối với trường hợp doanh nghiệp công bố thông tin về việc phát hành thêm. Khi thông tin phát hành thêm được công bố, giá cổ phiếu tăng vọt, nhưng về bản chất việc phát hành không tăng ngay giá trị của công ty. Vì vậy những ngày sau đó giá cổ phiếu sẽ điều chỉnh lại về mức "P/E" mà thị trường chấp nhận đối với công ty và do lợi nhuận từ phương án phát hành phải vài năm sau mới đem lại kết quả.
Outstanding Shares / Cổ Phiếu Lưu Hành Trên Thị Trường
Là cổ phần hiện đang được các nhà đầu tư nắm giữ, gồm có cả các cổ phiếu giới hạn được sở hữu bởi nhân viên của công ty hay cá nhân khác trong nội bộ công ty và cả các cổ phiếu được nắm giữ bởi công cộng. Các loại cổ phần đã được công ty mua lại không được gọi là outstanding stock. Người ta còn gọi Outstanding share là Cổ phiếu đã phát hành-issued shares hay "issued and outstanding". Số lượng Cổ phần đã phát hành được ghi vào sổ kế toán với tên gọi Cổ phần vốn "Capital Stock" và nó quan trọng hơn các cổ phiếu được phép phát hành hoặc thả nổi. Số lượng cổ phiếu này được sử dụng để tính toán mức vốn hoá thị trường (market capitalization) hay thu nhập trên một cổ phiếu (earnings per share).
Outsourcing / Thuê Làm Bên Ngoài
Khái niệm Outsourcing đi vào thuật ngữ kinh doanh từ những năm 1980, dùng để chỉ một phần/công đoạn nào đó của công việc trong sản xuất được thuê công ty khác làm để tiết kiệm chi phí và nguồn lực cho doanh nghiệp. Phần công việc này chỉ là các công đoạn phụ trong sản xuất. Công ty thuê ngoài chuyên môn hóa vào làm những công việc như vậy nên họ có chuyên môn và có lợi thế so sánh hơn so với công ty. Lợi ích của Outsourcing Thế giới ngày nay trong giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập nên việc sử dụng Outsourcing rất phổ biến đối với các doanh nghiệp. a. Outsourcing giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí do doanh nhiệp đi thuê có lợi thế so sánh từ việc chuyên môn hoá; b. Tăng chất lượng sản phẩm do tận dụng được công nghệ và sự chuyên môn hoá từ bên ngoài; c. Tận dụng được nhân công rẻ từ bên ngoài; d. Bảo toàn năng lực sản xuất cho công ty do không mất thời gian tập chung vào những khâu thứ yếu. Ví dụ một doanh nghiệp chuyên may mặc sẽ chỉ may thôi còn khâu thêu lên áo sẽ thuê ngoài.
Outside Money / Tiền Bên Ngoài
Là hệ thống cho vay trong ngân hàng, do các ngân hàng của Xcốtlen khởi xướng, theo đó người đi vay được phép rút séc vượt quá số dư tín dụng trong tài khoản của mình, cho đến một hạn mức được thoả thuận và chỉ phải trả hàng ngày tính trên số tiền rút quá số dư.
Outside Lag / Độ Trễ Bên Ngoài
Độ trễ bên ngoài (Outside Lag) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Độ trễ bên ngoài (Outside Lag) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Output Budgeting / Ngân Sách Theo Sản Lượng
Là một hệ thống kế toán phân loại các chi phí theo sản lượng được sản xuất ra dựa vào quá trình sản xuất chứ không dựa theo những đầu vào được mua. Do vậy, trong khi một ngân sách thông thường dành cho lực lượng cảnh sát sẽ phân bổ các chi phí cho lương, nguyên liệu, thiết bị v.v…, thì một ngân sách tính theo sản lượng sẽ áp dụng những tiêu đề như “ngăn ngừa tội phạm”, “phát hiện”, “điều khiển giao thông”. Mục tiêu của phương pháp này là nhằm nâng cao chất lượng của việc ra quyết định và việc phân bổ nguồn lực trong các tổ chức, đặc biệt là trong lĩnh vực chi tiêu công cộng, nơi mà, nếu nói một cách lý tưởng thì chi tiêu của tất cả các cơ quan chính phủ cần phải được phân loại theo các mục đích chứ không căn cứ theo từng bộ phận. Đôi khi người ta còn sử dụng những tên gọi khác như lập ngân sách theo chương trình và hệ thống lập ngân sách theo lập trình kế hoạch hóa (PPBS), đặc biệt là những khó khăn trong việc xác định mức sản lượng cuối cùng có nghĩa là các chi phí được phân bổ dựa trên các chương trình hay các chính sách.
Output / Sản Lượng
Là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển đổi đầu vào thành hàng hoá.
Outlier / Giá Trị Ngoại Lai
Đây là một thuật ngữ được dùng để mô tả một điểm số liệu mà cách xa một cách bất thường trung tâm của các quan sát. Các giá trị ngoại lai có thể có ảnh hưởng lớn đến việc tính toán các ước lượng thông số trong phân tích hồi quy hoặc các số thống kê tóm tắt chẳng hạn như trung bình và phương sai mẫu mà kết quả là có thể lấy cả những giá trị không tiêu biểu. Do đó, các giá trị ngoại lai thường hay bị bỏ qua, hay được tính toán đến bởi những biến giả trong các hồi quy.
OTCBB-OTC Bulletin Board / Bảng Niêm Yết Giá Cổ Phần OTC
Là bảng điện tử niêm yết giá chào bán và chào mua đối với các cổ phần OTC không đáp ứng được nhu cầu trị giá tối thiểu và các yêu cầu khác của hệ thống niên yết Chứng khoán Nasdaq. Hệ thống mới, được phát triển bởi Hiệp hội buôn bán Chứng khoán quốc gia (NASD) và được thông qua bởi SEC vào năm 1990, cung cấp những dữ liệu thường xuyên và cập nhật hơn về giá cổ phần trong nước, và được cập nhật 2 lần một ngày về giá cổ phần của các công ty ở nước ngoài. Hệ thống được thiết kế với mục đích làm thuận lợi hoá thương mại và cung cấp sự giám sát chặt chẽ hơn rất nhiều giá của các cổ phần trước kia thường được cập nhật ngày một lần trên hệ thống Pink Sheets, đưa ra bởi Cục Báo giá quốc gia- National Quotation Bureau. Rất nhiều các nhà đầu tư tránh mua cổ phần OTC bởi vì một lý do rất có căn cứ là giá cả của cổ phiếu rất không đáng tin cậy. Không những thế rất khó có thể phân biệt giữa cổ phiếu OTC và cổ phiếu Penny. Bảng OTC bulletin là một nỗ lực để phân biệt thị trường OTC hợp pháp với những trò chơi kém minh bạch, và thị trường OTC cũng đạt được các yêu cầu về vốn, mặc dù các yêu cầu này có thể ít khắt khe hơn so với các yêu cầu trên thị trường Chứng khoán lớn. Các loại cổ phiếu đã bị loại khỏi bảng niêm yết trên thị trường Chứng khoán tên tuổi bởi vì không đạt được yêu cầu về vốn tối thiểu hoặc các yêu cầu khác nên cuối cùng được niêm yết và mua bán trên bảng Bulletin OTC.





