Over And Short / Vượt Quá Và Thiếu Hụt
Tài khoản thuộc sổ cái ghi nhận sự chênh lệch trong các nhật ký giao dịch, như sự chênh lệch tiền mặt của giao dịch không cân đối là một trong những nguy cơ hàng ngày của nghiệp vụ ngân hàng; những nguyên nhân thông thường là các sai sót về ghi chép hay kế toán, ví dụ, sai sót do hoán đổi chữ số trong việc nhập dữ liệu giao dịch của giao dịch viên.
Outstanding / Đang Lưu Hành, Chưa Thanh Toán
Ngân hàng 1. Chi phiếu hay hối phiếu chưa được trình cho ngân hàng chi trả để thanh toán hay vẫn còn trong quá trình thu nợ. 2. Tổng số tiền nợ của các chủ thẻ tín dụng của một ngân hàng thường số tiền này nhỏ hơn tổng số thẻ tín dụng do các lần thanh toán sớm. Tài Chính: Số tiền chưa thu, hay các khoản phải thu chưa thu, các khoản nợ chưa trả. Chứng Khoán: Cổ phiếu vốn của một công ty; cổ phiếu được phát hành và được bán cho các nhà đầu tư, trừ đi cổ phiếu được công ty phát hành mua lại (cổ phiếu quỹ).
Out Of The Money / Quyền Chịu Thua Lỗ
Thuật ngữ được dùng trong giao dịch hợp đồng quyền chọn; khi giá trị thị trường của một chứng khoán cơ sở hay công cụ tài chính thấp hơn giá thực hiện của một hợp đồng quyền chọn mua (quyền chọn để mua) hay cao hơn giá thực hiện của một hợp đồng quyền chọn bán (quyền chọn để bán). Hợp đồng có quyền chọn thua lỗ khi không có lợi nhuận hay giá trị nội tại; mặc dù người mua những quyền chọn này hy vọng họ sẽ chuyển sang có lời vào ngày đáo hạn. Xem AT THE MONEY.
Organization For Economic Cooperation And Development (OECD) / Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế
Nhóm chính thức gồm 24 quốc gia, bao gồm hầy hết các nước công nghiệp hóa lớn được thành lập năm 1961, để điều phối các chính sách kinh tế và xã hội giữa các thành viên, và tăng cường trợ giúp kinh tế cho các quốc gia đang phát triển bao gồm 18 nước châu Âu, Canada, Mỹ, và Nhật, đặt trụ sở tại Paris.
Ordinary Interest / Tiền Lãi Thông Thường
Tiền lãi được tính trên một năm 360 ngày, dùng 12 tháng có 30 ngày, thay vì 365 ngày. Ví dụ, lợi suất của trái phiếu Kho bạc được tính 360 ngày một năm. Các trái phiếu công ty, khoản vay và khoản vay trả góp của khách hàng có lãi tính trước đều hưởng lãi thông thường. Khi số tiền đầu tư nhiều hơn, sự chênh lệch giữa lãi thông thường và lãi chính xác (một năm 365 ngày) có thể đáng kể. Xem BASIS.
Order / Lệnh, Đơn Hàng
1. Công cụ chỉ thị việc thanh toán cho ai đó, như chi phiếu hay hối phiếu. Các chi phiếu là các công cụ cho trả ba bên, bao gồm người viết chi phiếu và người ký phát, định chế tài chính phát tiền (ngân hàng của người trả). và người nhận thanh toán. Chi phiếu khác với giấy nợ, như phiếu hẹn thanh toán, trong đó giấy nợ là công cụ chi trả hai bên và chỉ là giấy cam kết chi trả, không phải là lệnh chi trả, không luôn luôn được khả nhượng hay có thể chuyển cho một bên thứ ba. Một chi phiếu, theo định nghĩa, là công cụ chi trả khả nhượng, quyền sở hữu một chi phiếu được chuyển giao bởi ký hậu. Xem DRAWER; DRAWEE; NEGOTIABLE ORDER OF WITHDRAWAL (NOW) ACCOUNT; PAYER; PAYMENT ORDER. 2. Những chỉ thị về giao dịch cho người môi giới hay doanh nhân. Có một số chỉ thị trong việc giao dịch các hợp đồng futures, như lệnh thị trường, chỉ thị cho người môi giới tài sản mua hay bán các hợp đồng trong một tháng nào đó. Lệnh giới hạn bảo người môi giới thực hiện một lệnh chỉ khi thị trường đạt hay vượt một giá nào đó. Một lệnh mở là lệnh duy trì cho đến khi được hủy bỏ hay đã được thực hiện. Lệnh ngưng bảo người môi giới mua hay bán khi đạt được giá nhất định, trên hoặc dưới giá thị trường khi lệnh được đưa ra.
Option / Quyền Chọn, Hợp Đồng Quyền Chọn
Hợp đồng cấp quyền và không có nghĩa vụ, để mua hay bán tài sản hay bất động sản trong một giai đoạn nhất định, theo giá đã thỏa thuận trước, được gọi là giá thực hiện hay giá thực thi. Các hợp đồng quyền chọn phổ biến nhất trong thị trường cổ phiếu, nhưng cũng thường được sử dụng như công cụ bảo vệ trong việc quản lý các vị thế tiền tệ trong thị trường ngoại hối, các hợp đồng kỳ hạn tài chính, hàng hóa, và các hợp đồng futures về chỉ số cổ phiếu. Giá hợp đồng quyền chọn được xác định bởi sự tương tác giữa kỳ đáo hạn, sự biến động và giá của công cụ cơ sở. Có hai loại hợp đồng quyền chọn chính: a. Hợp đồng quyền chọn mua- hợp đồng được bán với giá cho phép chủ sở hữu quyền mua từ người bán hợp đồng này một số lượng chứng khoán nhất đinh, theo giá nhất định, và b. Hợp đồng quyền chọn bán- hợp đồng được bán với giá cho phép chủ sở hữu quyền bán một số lượng chứng khoán nhất định theo giá định trước. Tiền mặt trả ban đầu, hay phí quyền chọn ,được xác định khi bắt đầu hợp đồng quyền chọn. Hầu hết các hợp đồng quyền chọn mua và quyền chọn bán hiếm khi được sử dụng. Chúng được phép hết hạn mà không thực thi trong hoạt động giao dịch, dựa trên việc tăng hay giảm của phí quyền chọn. Xem AT THE MONEY; DELTA; IN THE MONEY; OUT OF THE MONEY; STRADDLE.
Operating Lease / Hợp Đồng Thuê Mua Hoạt Động
Hợp đồng văn bản thuê mua cho một giai đoạn ngắn hơn đời sống kinh tế của tài sản được thuê. Những hợp đồng thuê mua hay thường được soạn thảo bởi các nhà sản xuất thiết bị, kỳ vọng nhận lại thiết bị và cho những người sử dụng khác thuê lại. Cả ngân hàng thương mại và các công ty tài chính đều lập các hợp đồng thuê. Các hợp đồng thuê mua hoạt động này là các hợp đồng có thể hủy bỏ, nghĩa là có thể thu hồi thiết bị bất cứ lúc nào nếu nó trở nên lỗi thời hay không còn cần thiết. Xem CAPITAL LEASE; FINANCE LEASE; LEVERAGED LEASE; RESIDUAL VALUE.
Open Account / Tài Khoản Mở
Một phương án thay thế tín dụng thư trong tài trợ quốc tế, thường được mở rộng mà không cần có văn bản hợp đồng chính thức hay phiếu hẹn thanh toán, và được thể hiện trên hồ sơ của người bán như khoản phải thu không bảo đảm, mà việc thanh toán kỳ vọng sẽ chi trả trong một thời kỳ nhất định sau khi mua. Cũng được gọi là tài kỏoản sổ sách mở (open book).
Open-Market Operations / Các Nghiệp Vụ Của Thị Trường Mở
Mua hay bán chứng khoán bởi văn phòng chính phủ Thị trường mở tại ngân hàng dự trữ liên bang New York, theo chỉ đạo của ủy ban thị trường mở liên bang. Bằng việc mua và bán chứng khoán, hầu hết các phiếu nợ kho bạc ngắn hạn, ví dụ, các trái phiếu kho bạc, dự trữ liên bang có thể (1) đáp ứng nhu cầu tiền mặt của công chúng bằng cách điều chỉnh Dự trữ ngân hàng lên hay xuống, khi cần; (2) tác động đến lãi suất ngân hàng bao gồm các lãi suất như lãi suất Quỹ dự trũ liên bang mà các ngân hàng tín cho việc bán khống khoản dự trữ vượt mức. Bởi vì các tài khoản dự trữ tại Ngân hàng dự trữ liên bang không sinh lãi, các ngân hàng cố gắng duy trì dự trữ ở mức tối thiểu hay ở mức dự trữ yêu cầu. Khi người quản lý của quầy thị trường mở của Fed tại Ngân hàng dự trữ liên bang New York quyết định mua các chứng khoán, Fed sẽ viết chi phiếu cho ngân hàng hay cho nhà đầu tư định chế nắm giữ chứng khoán, và gửi chi phiếu vào một ngân hàng thương mại. Nếu Fed mua 1 tỉ $ trái phiếu kho bạc sẽ có tác động ngược lại, làm giảm dự trữ trong hệ thống ngân hàng, có xu hướng làm tăng chi phí tín dụng và lãi suất. Vì các tài khoản dự trữ của ngân hàng thương mại không sinh bất cứ đồng lãi nào, nên các ngân hàng cố duy trì dự trữ của họ ở mức tối thiểu. Khi Fed lo ngại tỉ lệ lạm phát sẽ tăng, nó sẽ theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách bán chứng khoán. Kết quả là lãi suất cao vì các ngân hàng chuyển chi phí cộng thêm cho những người vay. Fed cũng bổ sung dự trữ cho hệ thống ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu tiền mặt theo mùa của công chúng. Nhu cầu tiền mặt này biến động theo mùa, cao nhất vào tháng 12, thấp nhất vào cuối hè. Vì những lý do này, các nghiệp vụ của thị trường mở là công cụ tiền tệ linh hoạt nhất mà Fed dùng để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ của nó. Vì các ngân hàng thương mại chiếm khoảng 3/4 tiền gửi tài khoản séc của quốc gia nên Fed, bằng cách quản lý mức dự trữ trong hệ thống ngân hàng, có thể tác động đến nguồn cung tiền của quốc gia và chi phí tín dụng. Cả lãi suất của quỹ Fed, là lãi suất thị trường mà các ngân hàng trả cho ngân hàng khác cho các khoản dự trữ không do vay mượn mà lãi suất cơ bản của ngân hàng đều bị tác động ở mức độ lớn bởi các hoạt động của Fed trong các nghiệp vụ thị trường mở. Các công cụ khác của chính sách tiền tệ là tỷ lệ chiết khấu và các yêu cầu về dự trữ. Xem FISAL POLICY; MATCHED SALE-PURCHASE AGREEMENT; RESERVE REPURCHASE AGREEMENT; SWAP NETWORK.
Open-End Mortgage / Cầm Cố Dạng Mở
Điều khoản trong cầm cố cho phép tài sản cầm cố được dùng để tạm ứng bổ sung trên cùng giấy nợ, đến một số tiền định trước. Khoản tạm ứng kế tiếp được ghi lùi ngày vào thời điểm ghi nhận chứng thư cầm cố ban đầu. Ngược với cầm cố dạng đóng.
Offset / Cân Đối; Bù Trừ; Mã Thẻ
Một trong hai bút toán loại trừ nhau. Ngân hàng. 1. Điều khoản trừ nợ: quyền của người cho vay sở hữu bất kỳ số dư tài khoản ngân hàng nào của người bảo lãnh hay bên nợ không chi trả, thông qua việc khấu trừ (garnishment). Điều này được biết đến như quyền bù trừ. 2. Số được mã hóa trên dải từ thẻ ngân hàng, khi đối chiếu với số nhận dạng cá nhân (PIN) của chủ thẻ, xác minh số PIN được ghi nhớ là mã số truy cập chính xác. Xem PRIMARY ACCOUNT NUMBER. Các hợp đồng futures và option: việc đóng một vị thế bằng cách mua số tương đương hợp đồng ngược lại trong cùng tháng phân phối, hay trang trải việc bán khống các hợp đồng futures, thông qua việc mua số tương đương các hợp đồng cùng tháng phân phối. Các hành động sẽ triệt tiêu nghĩa vụ giao hay nhận hàng hóa hay công cụ tài chính cơ sở.
Officer / Viên Chức Cấp Cao
Viên chức quản trị cấp cao của ngân hàng, được chỉ định bởi Ban giám đố, nhằm thực hiện các quy tắc hoạt động của ngân hàng bao gồm chính sách cho vay của ngân hàng. Chủ tịch hội đồng quản trị là viên chức cấp cao nhất trong một ngân hàng hay công ty ngân hàng mẹ, báo cáo trực tiếp cho hội đồng quản trị. Trong các ngân hàng nhỏ hơn, CEO cũng thường nắm giữ chức vụ tổng giám đốc hay thậm chí là chủ tịch. Dưới chủ tịch ngân hàng là các viên chức điều hành khác; giám đốc vận hành (COO) ; thủ quỹ ngân hàng, là chuyên viên hành chính cao cấp có tên xuất hiện trên tất cả các chi phiếu chính thức); các phó chủ tịch điều hành; và các viên chức thấp hơn, bao gồm các phó chủ tịch cao cấp, các phó chủ tịch, các trợ lý phó chủ tịch, các giám đốc chi nhánh và các nhân viên giao dịch (đôi khi được gọi là nhân viên điều hành tài khoản) và người tiếp thị các dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng công ty.
Offering Price / Giá Chào Bán
Giá mỗi cổ phần mà kỳ phân phối chứng khoán mới được chào bán cho công chúng, cũng được biết đến như giá chào bán cho công chúng. Trong các quỹ hỗ tương không tính phí hoa hồng, giá chào bán bằng với giá trị tài sản ròng của chứng khoán được chào bán.
Offer / Chào Giá
Giá theo đó chủ sở hữu chứng khoán, công cụ tài chính, hay tài sản khác sẵn sàng bán. cũng được gọi là giá chào bán (asked). Giá này khác với giá chào mua (BID), hay giá mà người mua sẵn sàng trả, và giá mà người giao dịch muốn bán. Giá chào mua luôn là giá thấp hơn trong hai giá. Người mua có thể là nhà đầu tư cá nhân hay các định chế lớn, trả giá chào bán, hay giá được yêu cầu bởi người bán, thường sau khi thương lượng từ bảng yết giá chào mua - chào bán đấu thầu gốc.
Obligor / Bên Có Nghĩa Vụ, Bên Nợ
Bên có nghĩa vụ phải trả nợ, bao gồm tiền lãi đến hạn, vào thời điểm nhất định hay khi được yêu cầu thanh toán. Bên có nghĩa vụ (cũng được biết đến như bên nợ) là bên nợ hay người vay; bên tạm ứng tiền là người cho vay, chủ nợ hay trái chủ. Trong chứng khoán công ty, trái chủ là người nắm giữ trái phiếu và công ty phát hành trái phiếu là bên nợ.
Obligation / Nghĩa Vụ, Nợ
1. Nghĩa vụ bắt buộc về mặt pháp lý phải trả một số tiền hay đồng ý làm một điều gì đó (hoặc không làm điều gì đó), tùy vào các điều khoản được nêu bên trong hợp đồng. Nghĩa vụ của người vay là trả lại tiền vay và quyền lợi pháp lý của người cho vay là buộc thanh toán. 2. Bất kỳ hình thức nợ nào có chứng cớ bằng văn bản cam kết hứa sẽ trả.
Owner's Equity / Vốn Chủ Sở Hữu
Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần. Có 3 nguồn tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản. Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi... Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí sự nghiệp (kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp phát không hoàn lại...) Vốn chủ sở hữu có thể được hiểu theo các cách sau: 1. Là cổ phần hoặc bất cứ loại chứng khoán nào khác đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông. 2. Trên bảng cân đối Kế toán, Vốn chủ sở hữu là lượng tiền được cổ đông đóng góp cộng với các khoản thu được (hoặc trừ đi khoản bị mất). 3. Trong nghiệp vụ mua bán Chứng khoán, là giá trị của chứng khoán trong tài khoản trừ đi khoản vay từ công ty môi giới. 4. Trong Bất động sản, vốn chủ sở hữu là sự chênh lệch giữa giá trị hiện tại trên thị trường của tài sản và phần nợ chủ sở hữu loại tàn sản ấy phải trả cho chủ nợ do đã đem tài sản đó đi thế chấp. Vì vậy vốn chủ sở hữu sẽ là phần chủ sở hữu nhận được sau khi bán đi tài sản đó và trả hết phần nợ thế chấp. Lưu ý: Cổ phần là vốn sở hữu bởi vì nó đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cá nhân trong công ty, nhưng Trái phiếu thì lại được coi là nợ bởi vì nó đại diện cho nghĩa vụ trả nợ của công ty (vì công ty phát hành trái phiếu để huy động vốn cũng chính là nợ chủ sở hữu trái phiếu một khoản tiền hay tài sản nhất định).
Owner-Controlled Firms / Các Hãng Do Người Chủ Sở Hữu Kiểm Soát
Những công ty có một nhóm các cổ đông rõ ràng là đồng quyền lợi, chiếm hữu một tỷ lệ cổ phần được bỏ phiếu khá lớn, làm cho họ có khả năng kiểm soát hữu hiệu chính sách công ty.
Owner Of Record / Chủ Sở Hữu Đăng Ký
Một cá nhân hay tổ chức có thể có tên trong tập hồ sơ đăng ký quyền sở hữu với vai trò người giữ đăng ký (không nhất thiết phải là chủ sở hữu có lợi) của các chứng khoán của tổ chức phát hành. Cổ tức và những hình thức lợi nhuận phân phối khác chỉ được thanh toán cho những người chủ sở hữu đăng ký.





