Negotiation / Đàm Phán
Theo nghĩa rộng, đàm phán là quá trình tương tác các ảnh hưởng lẫn nhau. Những tương tác bao gồm, giải quyết mâu thuẫn, thống nhất hành động, và diễn biến thực. Thương lượng chính là một dạng của giải quyết tranh chấp. Đàm phán bao gồm 3 thành tố cơ bản: Quá trình, hành vi và diễn biến thực. Quá trình liên quan đến cách mà các bên thương lượng: bối cảnh thương lượng, những bên tham gia, mẹo (kĩ thuật) mà các bên sử dụng, và các giai đoạn diễn ra. Hành vi đối với các mối quan hệ giữa các bên, giao tiếp giữa các bên và phong cách họ lựa chọn. Diễn biến thực liên quan đến những thứ mà các bên thương lượng: chương trình làm việc, các vấn đề cần đề cập, những lựa chọn, và những thống nhất đạt được cuối cùng. Những người đàm phán có kĩ năng có thể sử dụng rất nhiều kĩ thuật từ những bài phát biểu đi thẳng vào vấn đề đến những cách tiếp cận "dễ gây nhầm lẫn" và chứa nhiều mưu mẹo hơn. Có hai phương pháp đàm phán chính: Một bên thua, một bên thắng win-lose Cả hai bên đều đạt được lợi ích win-win
Negotiated Sale / Bảo Lãnh Phát Hành Thỏa Thuận
Theo phương thức bảo lãnh phát hành này, nhà bảo lãnh tham gia rất sớm vào quá trình phát hành nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương tổ chức phát hành, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà phát hành thay đổi nhanh chóng theo các biến động của thị trường. Ngày phát hành thường không cố định và tuỳ thuộc vào lãi suất thị trường mà đợt phát hành được trì hoãn hay xúc tiến. Bảo lãnh phát hành theo thỏa thuận thường được sử dụng khi các đợt phát hành có những điều khoản về trái phiếu phức tạp. Thoả thuận này đặc biệt có lợi cho các nhà phát hành mới vì nó cho phép nhà bảo lãnh nổ lực mở rộng thị trường đến các nhà đầu tư thận trọng thay mặt các tổ chức phát hành. Tóm lại, việc tham gia sớm vào quá trình phát hành có thể tiết kiệm rất nhiều chi phí cố vấn tài chính. Nhược điểm cơ bản của thỏa thuận là nhà phát hành chỉ làm việc với một nhà bảo lãnh riêng lẻ có thể gặp khó khăn trong việc tính toán mức hoa hồng bảo lãnh phù hợp.
Negotiable Certificate Of Deposit (NCD) / Chứng Chỉ Tiền Gửi Có Thể Chuyển Nhượng Được
Là một công cụ vay nợ do các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác phát hành xác nhận các khoản tiền gửi của người gửi tiền. Khác với chứng chỉ gửi tiền thông thường, loại này có thể được chuyển nhượng (hoặc bán) cho một người khác mà không bị phạt bởi các ngân hàng phát hành. NCD thường có kỳ hạn từ 3 đến 12 tháng. Để tăng tính hấp dẫn của công cụ này, lãi suất áp dụng cho nó thường cao hơn lãi suất của loại tiền gửi cùng kỳ hạn thông thường. Đồng thời ở một số nước, ngân hàng phát hành còn cho phép người sở hữu loại chứng chỉ này có thể bán chúng trước hạn (với một mức giá khấu trừ). NCD thường dùng để huy động các nguồn vốn lớn. Vì vậy các ngân hàng thường đặt mức tối thiểu cho một NCD. Ở Mỹ, NCD thường có mệnh giá lớn (trên 100.000 USD). NCD có thể bán lại ở thị trường thứ cấp. Hiện nay công cụ này được hầu hết các ngân hàng thương mại lớn của Mỹ phát hành và thu được những thành công lớn, với tổng số dư gần đây vượt quá tổng số dư của tín phiếu kho bạc Mỹ. Chúng là những nguồn vốn đặc biệt quan trọng mà các ngân hàng thương mại nhận từ các công ty, các quỹ tương trợ cho thị trường tiền tệ, và các cơ quan của chính phủ.
Negative Income Tax / Thuế Thu Nhập Âm; Bổ Trợ Thu Nhập Thấp
Negative Income Tax là một chương trình hỗ trợ thu nhập trong đó các cá nhân hoặc hộ gia đình có thu nhập thấp hơn mức "hoà vốn" nhất định sẽ nhận được các khoản thanh toán, mức thanh toán liên quan đến mức thu nhập. Do vậy, những người không có khoản thu nhập nào khác sẽ nhận được một khoản tiền tối thiểu được bảo đảm.
Thuế Thu Nhập Âm; Bổ Trợ Thu Nhập Thấp (Negative Income Tax) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thuế Thu Nhập Âm; Bổ Trợ Thu Nhập Thấp (Negative Income Tax) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Needs / Nhu Cầu
Theo định nghĩa của Philip Kotler: Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Như vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được đó là một trạng thái đặc biệt của con người, nó xuất hiện khi còn người tồn tại, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải được thoả mãn, bù đắp. Ý tưởng cốt lõi của Marketing là hướng tới thoả mãn nhu cầu của con người. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp và có thể xem xét từ những góc độ khác nhau. Abraham Maslow căn cứ vào tính chất của nhu cầu đã phân chia thành thứ bậc của các nhu cầu. Theo ông, con người ta cố gắng thoả mãn được những nhu cầu quan trọng nhất và khi nhu cầu nào đó đã được thoả mãn thì lại xuất hiện sự đòi hỏi thoả mãn những nhu cầu tiếp theo. Tháp nhu cầu Maslow Marketing có thể phân chia nhu cầu thành nhu cầu hiện tại và nhu cầu tiềm tàng. Nhu cầu hiện tại: là nhu cầu thiết yếu đã và đang được đáp ứng, tại thời điểm đó, đối với người tiêu dùng là nhu cầu quan tọng nhất và được xếp lên hàng đầu. Nhu cầu tiềm tàng: loại thứ nhất là nhu cầu đã xuất hiện, nhưng vì lí do nào đó mà con người chưa được đáp ứng, chưa được thoả mãn; loại thứ hai là những nhu cầu chưa xuất hiện, bản thân người tiêu dùng chưa biết đến nhu cầu đó, nhưng với các nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu Marketing và các doanh nghiệp lại có thể dự đoán trước sự xuất hiện của các nhu cầu này trên cơ sở phân tích và dự đoán. Vì vậy họ có khả năng vạch ra chiến lược nhằm tác động và thoả mãn trong tương lai.
Neddy / Neddy
Neddy là tên gọi không chính thức của cả hội đồng phát triển kinh tế quốc gia cũng như Văn phòng phát triển kinh tế quốc gia.
Necessity / Hàng Thiết Yếu
Necessity không phải là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học hiện đại, nhưng nếu sử dụng, là để đề cập tới một loại hàng hoá có độ co giãn thu nhập của cầu nhỏ hơn 1.
Near Money / Tiền Cận; Chuẩn Tệ
Là của cải được nắm giữ dưới một hình thức mà có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng và dễ dàng thành tiền.
Giá trị ghi sổ ròng là báo cáo về giá trị của các tài sản cố định được dùng trong kế toán. Nếu lấy giá mua ban đầu của tài sản trừ đi giá trị khấu hao phù hợp thì ta sẽ có giá trị ròng theo sổ sách của tài sản đó. Giá trị này thường có thể khác so với giá trị thị trường do lạm phát, hoặc do có những thay đổi khác về giá trị gây tác động đến giá mua tài sản đó.
Natural Selection Hypothesis / Giả Thuyết Về Sự Lựa Chọn Tự Nhiên
Natural Selection Hypothesis là giả thuyết đề cập đến luận điểm cho rằng các thị trường vốn hoặc các thị trường sản phẩm mang tính cạnh tranh đảm bảo hành vi tối đa hoá lợi nhuận thay cho các doanh nghiệp.
Natural Resources / Tài Nguyên Thiên Nhiên
Natural Resources là những dạng vật chất tồn tại sẵn có (hoặc đang hình thành) trong tự nhiên, được coi là có giá trị ở dạng chưa bị biến đổi. Giá trị của nguồn tài nguyên thiên nhiên nằm ở trữ lượng sẵn có trong tự nhiên và cầu đối với nguồn tài nguyên đó. Một loại hàng hóa nhìn chung được coi như là một tài nguyên tự nhiên khi các hoạt động sản xuất cơ bản liên quan đến nó là chiến xuất và tinh chế chứ không phải là tạo ra (sản xuất ra một cái mới). Vì vậy, ngành khai mỏ, chiết xuất dầu lửa, đánh bắt cá, săn bắt, và lâm nghiệp thường được coi là các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên, trong khi nó ngành nông nghiệp không được xếp vào loại này. Phân loại tài nguyên thiên nhiên Các nguồn tài nguyên thiên nhiên phần lớn được phân thành các nguồn tài nguyên có thể tái tạo lại và không thể tái tạo lại Nguồn tài nguyên có thể tái tạo lại Nguồn tài nguyên có thể tái tạo thường là những nguồn tài nguyên "sống" như cá, tuần lộc, cà phê, và rừng, những loại tài nguyên này có thể được tái tạo nếu chúng không bị khai thác quá nhiều (tức là chúng phải được khai thác hợp lí). Nếu tốc độ khai thác các nguồn tài nguyên này vượt quá tốc độ tái tạo, trữ lượng sẽ ngày càng bị thu hẹp lại và cuối cùng biến mất. Tốc độ khai thác bền vững một nguồn tài nguyên bị quyết định bởi tốc độ tái tạo và trữ lượng còn lại của nguồn tài nguyên đó. Những nguồn tài nguyên "không sống" mà có thể tái tạo là nước và đất. Những nguồn tài nguyên không thể tái tạo Nguồn tài nguyên dạng này tồn tại với một trữ lượng cố định và không thể làm lại được, không thể trồng lại được. Một số loại tài nguyên thuộc dạng này cũng có thể tái tạo được nhưng phải mất rất nhiều thời gian, ví dụ nguyên liệu hóa thạch phải mất hàng triệu năm để hình thành, vì vậy có thể được coi là không thể tái tạo.
Tài Nguyên Thiên Nhiên (Natural Resources) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tài Nguyên Thiên Nhiên (Natural Resources) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Natural Rate Of Unemployment / Tỷ Lệ Thất Nghiệp Tự Nhiên
Natural Rate Of Unemployment là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, là tỷ lệ thất nghiệp được ngầm hiểu theo cơ cấu hiện tại của nền kinh tế. Tỷ lệ này được xác định bởi những tác nhân cơ cấu trong nền kinh tế, những tác nhân này không hề giảm bớt khi tăng tổng cầu. Đường Philips thẳng đứng sẽ cho thấy bất cứ nỗ lực nào làm cho mức thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ tự nhiên sẽ làm tăng nguy cơ lạm phát. Đây có thể được coi là mức thất nghiệp mà vẫn tồn tại trong điều kiện toàn dụng nhân công. Tỷ lệ này được coi là tỷ lệ thất nghiệp đảm bảo hay tỷ lệ thất nghiệp toàn dụng nhân công.
Natural Rate Of Growth / Tỉ Lệ Tăng Trưởng Tự Nhiên
Natural Rate Of Growth là tỉ lệ tăng trưởng của lực lượng lao động có làm việc trong mô hình tăng trưởng HARROD - DOMAR.
Natural Price / Giá Tự Nhiên
Natural Price là một cụm thuật ngữ được Adam Smith dùng để mô tả giá trị của một loại hàng hoá mà các mức giá thị trường dao động xung quanh giá trị này.
Natural Law / Quy Luật Tự Nhiên
Natural Law là một tập hợp các quy tắc tự nhiên đặt ra đối với con người và do đó không bao giờ thay đổi được.
Nationalized Industry / Ngành Bị Quốc Hữu Hoá
Nationalized Industry là ngành sản xuất ra các sản phẩm để bán cho người tiêu dùng và các nhà sản xuất khác thông qua các thị trường nhưng lại thuộc sở hữu duy nhất của chính phủ và chịu sự kiểm soát của chính phủ.Ngành sản xuất ra các sản phẩm để bán cho người tiêu dùng và các nhà sản xuất khác thông qua các thị trường nhưng lại thuộc sở hữu duy nhất của chính phủ và chịu sự kiểm soát của chính phủ.
National Saving Bank / Ngân Hàng Tiết Kiệm Quốc Gia
National Saving Bank là một ngân hàng tiết kiệm của nhà nước Anh hoạt động thông qua mạng lưới bưu điện.
National Research Development Corporation / Công Ty Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Gia
National Research Development Corporation là một công ty nhà nước độc lập được thành lập vào năm 1949 nhằm khuyến khích việc triển khai và khai thác công nghệ mới.
National Labor Relation Act / Đạo Luật Quan Hệ Lao Động Quốc Gia
"Đạo luật Wager" được quốc hội Mỹ thông qua vào năm 1935. Nó là kết quả của một Lịch sử lâu dài trong việc gia tăng sức ép của chính quyền liên bang nhằm ủng hộ nguyên tắc thương lượng tập thể. Chủ yếu nhờ đao luật mà số thành viên của các nghiệp đoàn của Mỹ đã tăng một cách nhanh chóng từ 3,9 triệu năm 1935 lên tới 15 triệu năm 1947 khi mà đaọ luật Wagner được sửa đổi theo các quy định của đạo luật Taft-Harley.
National Insurance Fund / Quỹ Bảo Hiểm Quốc Gia
National Insurance Fund là một quỹ tiếp nhận các khoản đóng góp bảo hiểm quốc gia và thực hiện thanh toán trợ cấp bảo hiểm xã hội.
National Insurance Contributions / Các Khoản Đóng Góp Bảo Hiểm Quốc Gia
National Insurance Contributions là một hình thức thuế lao động tại Anh, đánh vào cả giới chủ lẫn người lao động. Các khoản nộp trên được dành riêng để dùng vào việc chi trả cho trợ cấp bảo hiểm quốc gia nhưng chúng không tạo ra được toàn bộ nguồn thu cần thiết để thực hiện việc chi trả này.





