Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

New Economic Historians / Trường Phái Các Nhà Lịch Sử Kinh Tế Mới

New Economic Historians là các nhà lịch sử kinh tế mới xem lịch sử như một phòng thí nghiệm, nơi các lý thuyết kinh tế liên tục được kiểm định. Các đại lượng kinh tế quan sát được ở những thời điểm khác nhau là những dữ liệu thực nghiệm đồng nhất được tạo ra bởi các thử nghiệm có kiểm soát và lặp lại nhiều lần. Các dữ liệu này được sử dụng làm số liệu thống kê, phục vụ kiểm định các giả thiết về nguyên nhân của các lớp hiện tượng như lạm phát hay khủng hoảng tài chính, vẫn lặp đi lặp lại trong lịch sử kinh tế nhân loại. Giả thiết phù hợp nhất với các dữ liệu thường sẽ được chấp nhận rộng rãi và cung cấp luận giải có giá trị về nguồn gốc của lớp hiện tượng đang xem xét. Giả thiết dù đã được chấp nhận vẫn tiếp tục được kiểm định với các dữ kiện lịch sử trong tương lai để khẳng định lại hoặc loại bỏ giả thiết trong tiến trình lịch sử. Douglass C. North, nhận giải thưởng Nobel kinh tế năm 1993, là nhà khoa học tiên phong của trường phái lịch sử kinh tế mới. Nỗ lực của ông và nhiều nhà kinh tế khác trong việc mở rộng một cách thận trọng các chương trình thực chứng với lịch sử kinh tế đã ngay lập tức đối diện với hai vấn đề. Thứ nhất, như North nhấn mạnh, cách tiếp cận này thu hẹp giới hạn các dạng câu hỏi có thể đặt ra với lịch sử kinh tế. Các vấn đề này không sẵn sàng để trình bày bằng các đại lượng có thể đo lường cụ thể hoặc số liệu thống kê không thể tập hợp đầy đủ, hoặc cả hai. Do đó, các nhà lịch sử kinh tế mới sẽ thường xuyên đặt ra câu hỏi kiểu như: Ngành đường sắt đã đóng góp bao nhiêu cho tăng trưởng GNP thực tế tại Hoa Kỳ? hay, tác động của việc ra đời Cục dữ trữ liên bang tới ổn định giá cả và sản lượng và giá cả ra sao? Chúng không giống như những câu hỏi có nhiều ý nghĩa hơn: điều gì đã thúc đẩy chính phủ trao một lượng lớn đất đai cho các công ty đường sắt? và bộ luật Cục dự trữ liên bang đã được thông qua như thế nào? Nhìn chung, câu hỏi "Cui bono?- hay "Ai được lợi" từ những biến động chính sách và cấu trúc thượng tầng nhận được rất ít quan tâm. Do thực tế luôn cần có một ai đó trả lời, nhận trách nhiệm tìm lời giải là một động lực tự thân của các nhà nghiên cứu dù rằng phải đối diện với vấn đề về khả năng đo lường và lượng hóa các thông số. Điều này không bác bỏ rằng các nhà lịch sử kinh tế mới tìm kiếm lời giải thích kết quả phân phối thu nhập hậu nghiệm bắt nguồn từ thay đổi nhất định trong cơ chế chính sách hoặc cấu trúc của nền kinh tế. Cản trở lớn đối với những nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế mới là việc xác định các nguyên nhân trong quá khứ thúc đẩy cá nhân/hoặc nhóm cá nhân vận động hay đề xuất một thay đổi có tác động tới phân phối thu nhập. Tuy vậy, việc lảng tránh các câu hỏi này để lại khoảng trống mà các dữ liệu định tính sẽ mãi không thể tự giải thích. Lý do là sự hình thành của một tổ chức, ví dụ như các công ty đường sắt hay FED, luôn là kết quả kết hợp phức tạp của cá nhân/nhóm cá nhân cùng chung mục tiêu và sử dụng cùng phương tiện. Do vậy, lịch sử kinh tế mới không bao hàm tính lịch sử theo cách hiểu và cảm nhận truyền thống, trong nỗ lực "hiểu" động cơ thực sự thúc đẩy hình thành và phát triển của các tổ chức và quá trình kinh tế. Vấn đề thứ hai, sâu sắc hơn, với trường phái lịch sử kinh tế mới là vị trí mà nó tự đặt mình vào trong mối quan hệ giữa lý thuyết kinh tế và lịch sử. Với North, lịch sử là nguồn gốc của "các bằng chứng thực nghiệm," nghĩa là "hoàn hảo và đầy đủ dữ liệu thống kê," và nhờ đó các lý thuyết có thể được kiểm định. Điều này có nghĩa là mức độ vững vàng của một lý thuyết cụ thể luôn lung lay và có thể bị phủ nhận, dẫu rằng trước đó nó đã được kiểm định bởi các căn cứ đáng tin cậy. Tuy nhiên, đây cũng là điểm chứng minh lịch sử kinh tế luôn được điều chỉnh không ngừng, do một học thuyết kinh tế vốn được sử dụng để xác định quan hệ giữa các sự kiện lịch sử luôn có thể trở nên vô căn cứ với những dữ kiện lịch sử mới. Nói cách khác, trường phái lịch sử kinh tế mới đặc trưng bởi quan hệ chặt chẽ giữa phép đo và lý thuyết trên thực tế là vòng xoáy vô hạn và "bẫy" những nỗ lực viện dẫn các qui tắc thực chứng trong việc luận giải các biến cố lịch sử kinh tế. Một học thuyết kinh tế được sử dụng để giải thích hiện tượng kinh tế trong quá khứ hoàn toàn có thể không đúng với các hiện tượng sắp xảy ra, do vậy, trong cách tiếp cận lịch sử, vai trò giải thích hay được giải thích của lý thuyết kinh tế trở nên không rõ ràng. Điều này có thể hiểu rằng, biến cố lịch sử có thể tạo ra lý thuyết kinh tế hoặc các lý thuyết kinh tế (biểu hiện của động lực lợi ích cá nhân/nhóm cá nhân) tạo ra biến cố lịch sử.

Neutrality Of Money / Tính Chất Trung Lập Của Tiền

Định lý này cho rằng nhờ các tác động SỐ DƯ THỰC TẾ TRÊN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ mà cứ mỗi khi cung tiền tệ tăng lên một mức bao nhiêu thì giá tiền tệ tại điểm cân bằng cũng tăng lên một mức bấy nhiêu.

Net Worth / Giá Trị Tài Sản Ròng

Net Worth là tổng tài sản có của một cá nhân hay một công ty trừ đi tài sản nợ. Với một công ty, nó được xem như vốn cổ đông (hoặc người sở hữu) hay tài sản thuần (net asset). Ví dụ, nếu một công ty có nghĩa vụ nợ trị giá 45 triệu USD và tài sản có trị giá 65 triệu USD thì giá trị tài sản ròng (vốn cổ đông) của công ty sẽ là 20 triệu USD. Tương tự, nếu 1 cá nhân chỉ có 3 tài sản bao gồm: cổ phiếu thường trị giá 100 000 USD, trái phiếu trị giá 30 000 USD và căn nhà trị giá 190 000 USD. Ngược lại, họ chỉ có một tài sản nợ là vay thế chấp 150 000 USD. Giá trị tài sản ròng của cá nhân đó sẽ là : 170 000 USD (100000+ 30000+ 190000-150000).

Net Property Income From Abroad / Thu Nhập Tài Sản Ròng Từ Nước Ngoài

Net Property Income From Abroad là mức chênh lệch giữa LỢI NHUẬN, CỔ TỨC và LÃI SUẤT nhận được từ các tài sản ở nước ngoài của các cư dân trong nước và lợi nhuận, cổ tức và lãi suất thanh toán ra nước ngoài cho các TÀI SẢN của các cư dân người nước ngoài ở nền kinh tế TRONG NƯỚC.

Net Profit After Taxes; NPAT / Lợi Nhuận Sau Thuế

Lợi nhuận sau thuế là khoản lợi nhuận chịu thuế sinh ra từ các loại hoạt động doanh nghiệp, bao gồm: sản xuất-kinh doanh, tài chính và đầu tư trừ đi khoản thuế thu nhập doanh nghiệp. Thông thường, người ta hay gọi tắt là "lợi nhuận" trên thực chất, lợi nhuận trước thuế cần được phân biệt rõ ràng. Lợi nhuận sau thuế có hai cách phân chia chính là chia cho cổ đông (thể hiện dưới dạng cổ tức) và lợi nhuận giữ lại ở doanh nghiệp để đầu tư, phát triển tiếp các chu kỳ kinh doanh sau này.

Net Profit / Lời Ròng; Lãi Ròng; Lợi Nhuận Ròng

Net Profit là phần còn lại của tổng số lợi nhuận sau khi đã trừ đi thuế và khấu hao.

Lời Ròng; Lãi Ròng; Lợi Nhuận Ròng (Net Profit) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Lời Ròng; Lãi Ròng; Lợi Nhuận Ròng (Net Profit) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Net Material Product / Sản Phẩm Vật Chất Ròng

Net material product (NMP) là thước đo được sử dụng tại các nước chủ nghĩa xã hội (chủ yếu là khối Đông Âu) để đánh giá sản lượng hàng năm của lĩnh vực sản xuất, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, ngành chế tạo, xây dựng. vận tải và một số dịch vụ mang tính sản xuất như du lịch, ăn uống và ngân hàng. Việc phân loại này có nguồn gốc từ sự phân biệt giữa công việc sản xuất và phi sản xuất theo học thuyết của Các Mác.

Net Investment / Đầu Tư Ròng ( Còn Gọi Là Sự Tạo Vốn Ròng)

Là việc bổ sung thêm vào tổng nguồn vốn của nền kinh tế, hay nói cách khác là giá trị của vốn đầu tư đã trừ khấu. Xem INVESTMENT.

Net Income - NI / Thu Nhập Ròng

Net Income - NI là tổng thu nhập của một doanh nghiệp, hay còn gọi là  lợi nhuận. Thu nhập ròng được tính toán từ tổng thu nhập có điều chỉnh thêm các khoản chi phí hoạt động, khấu hao, lãi suất, thuế và các chi phí khác liên quan đến họat động kinh doanh của doanh nghiệp. Số liệu này được thể hiện trên báo cáo thu nhập, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, đó là số liệu tính toán nằm ở dòng cuối cùng nên còn được gọi bằng tên tiếng Anh là "the bottom line". Chỉ số này cũng được sử dụng để tính toán thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS). Theo các chuẩn mực kế toán Việt Nam, thu nhập ròng (lãi ròng) được tính theo công thức sau: Thu nhập ròng = Doanh thu thuần   - Giá vốn hàng bán   - Chi phí bán hàng   - Chi phí quản lý doanh nghiệp   + Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính   + Các khoản thu nhập bất thường   - Các khoản chi phí bất thường   - Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Cũng giống các tài khoản kế toán khác, thu nhập ròng cũng có thể được làm đẹp hơn thông qua các thủ thuật kế toán bằng cách làm tăng tổng doanh thu hoặc che giấu các khoản chi phí. Khi đưa ra quyết định dựa trên số liệu về thu nhập ròng, các nhà đầu tư cần phải xem xét lại chất lượng của các số liệu trong công thức tính toán ra kết quả này. Xét về phương diện tài chính cá nhân, sau khi trừ các khoản thuế, trả nợ, các khoản khấu trừ... thì có thu nhập chịu thuế. Thu nhập này sau khi trừ đi khoản thuế phải nộp ta được thu nhập ròng. Ví dụ, giả định rằng bạn có tổng thu nhập là 50.000$, tổng các khoản giảm trừ và trả nợ là 20.000$. Như vậy bạn sẽ có thu nhập trước thuế là 30.000$. Giả sử rằng bạn phải đóng 5000$ thuế thu nhập, số tiền 25.000$ còn lại chính là thu nhập ròng của bạn.

Net Asset Value Per Share (NAVPS) / Giá Trị Tài Sản Ròng Trên Chứng Chỉ Quỹ

Net Asset Value Per Share (NAVPS) là giá trị tài sản ròng trên chứng chỉ quỹ, là một chỉ tiêu được sử dụng phổ biến trong đánh giá hiệu quả vận hành các quỹ đầu tư (tương hỗ, mua bán-trao đổi, quỹ đóng...). Chỉ tiêu này cũng được sử dụng với các công ty có cổ phiếu. NAVPS được tính bằng tỷ số giữa giá trị tài sản ròng của quỹ (hoặc công ty) với tổng số chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu đã phát hành. Giá trị tài sản thuần NAV bao gồm: Vốn cổ đông (vốn điều lệ), vốn hình thành từ lợi nhuận để lại, vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá và các quỹ dự trữ phát triển dự phòng. Hoặc NAV còn được tính bằng cách lấy tổng tài sản trừ cho bất cứ tài sản vô hình nào, trừ tất cả nợ và chứng khoán, trái phiếu có quyền ưu tiên. NAVPS là giá trị của một đơn vị chứng chỉ quỹ. Với quỹ tương hỗ, đây là mức giá tại đó chứng chỉ quỹ được mua và bán. Do các quỹ mua bán-trao đổi hay quỹ đóng được niêm yết và giao dịch giống như cổ phiếu (chịu tác động của các lực lượng thị trường), NAVPS và giá mua/bán của các loại chứng chỉ này có thể khác nhau. Trên báo cáo tài chính của các công ty đại chúng, NAVPS thường được nhắc tới như giá trị sổ sách với mỗ cổ phiếu và thường thấp hơn giá thị trường của mỗi cổ phiếu. Nguyên tắc hạch toán chi phí lịch sử có xu hướng xác định thấp giá trị của tài sản. Các lực lượng cung cầu trên thị trường chứng khoán có xu hướng đẩy giá chứng cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ.

Net Asset Value (NAV) / Chỉ Số Giá Trị Tài Sản Thuần

Chỉ số "giá trị tài sản thuần" (chỉ số NAV) có liên quan mật thiết đến việc xác định giá trị tài sản công ty và tài sản cổ đông. Từ đó nhà đầu tư sẽ không bị nhầm lẫn giữa cái bề thế bên ngoài và cái bản chất tài sản thật bên trong của công ty. Thông thường nguồn vốn công ty cấu thành chính bởi nguồn vốn sở hữu của cổ đông và nguồn vốn vay. Các nguồn vốn này tạo cho công ty các tài sản như: máy móc thiết bị, nhà xưởng... và các tài sản lưu động khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Do đó có lúc công ty có vốn cổ đông (hay gọi là vốn điều lệ) thấp nhưng tài sản thể hiện bên ngoài lại rất lớn thì chưa chắc đó là tài sản hình thành từ vốn cổ đông đóng góp mà có thể nhiều phần từ vốn vay. Nguồn vốn sở hữu của cổ đông được gọi là Giá trị tài sản thuần của công ty, giá trị này chính là chỉ số NAV (Net Asset Value). Giá trị tài sản thuần NAV bao gồm: Vốn cổ đông (vốn điều lệ), vốn hình thành từ lợi nhuận để lại, vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng cao hơn mệnh giá và các quỹ dự trữ phát triển dự phòng. Người ta thường sử dụng chỉ số NAV/Share (giá trị thuần của mỗi cổ phiếu phát hành) để đánh giá giá trị cổ phiếu trên sổ sách và giá cổ phiếu mua vào. Chỉ số này được tính bằng cách lấy tổng giá trị vốn sở hữu (tổng tài sản trừ cho bất cứ tài sản vô hình nào trừ tất cả nợ và chứng khoán trái phiếu có quyền đòi ưu tiên) chia cho tổng số cổ phần phát hành. Chỉ số này giúp cho nhà đầu tư đánh giá công ty ở một số khía cạnh như sau: - Giả sử công ty có cổ phần đã phát hành mệnh giá là 100.000 đồng mà nay NAV là 120.000 chẳng hạn thì có nghĩa là công ty đã tích luỹ vốn để sản xuất có thể từ nguồn lợi nhuận để lại hoặc do lãi từ phát hành chênh lệch... Như vậy nhà đầu tư mua cổ phần với giá 120.000 đồng thì họ vẫn mua đúng với giá trị thật trên sổ sách của nó. - Nếu NAV là 120.000 đồng nhưng lợi nhuận công ty đạt được cao thì nhà đầu tư cũng có thể mua cổ phiếu với giá cao hơn NAV để mong lợi nhuận gia tăng khi đó sẽ có chia cổ tức có tích luỹ và NAV sẽ tiếp tục tăng nữa trong thời gian tới. - Nếu NAV là 120.000 đồng nhưng công ty vẫn đang lỗ có nghĩa sẽ tiếp tục giảm NAV thì bạn có quyết mua với 120.000 đồng hay cao hơn không. Đây là quyết định khó khăn và rủi ro nhất, nó phụ thuộc nhiều vào việc đánh giá phân tích chính xác của nhà đầu tư về công ty ở nhiều khía cạnh trong tương lai để quyết định. Ở đây chỉ có một nguyên tắc đơn giản mà nhà đầu tư phải luôn chấp nhận khi đầu tư đó là "lợi nhuận cao thì rủi ro cao". Nói tóm lại NAV là thước đo bảo thủ nhất để nhà đầu tư quyết định mua cổ phiếu của công ty theo giá trị thực của công ty. Trong thực tế điều chú trọng nhất vẫn là vấn đề "lợi nhuận" luôn được đặt lên hàng đầu vì đó là cơ sở chính để đánh giá khả năng sinh lời của việc sử dụng đồng vốn của công ty.

Net Advantages, The Equalisation Of / Sự Cân Bằng Hoá Những Lợi Thế Ròng

Net Advantages, The Equalisation Of là giả thuyết cho rằng sự cạnh tranh trong CÁC THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG sẽ đảm bảo rằng toàn bộ những lợi thế và bất lợi của các công việc khác nhau sẽ hoặc là hoàn toàn ngang bằng nhau hoặc liên tục có xu hướng ngang bằng nhau.

Nested Hypotheses / Các Giả Thuyết Lồng Nhau

Trong MÔ HÌNH HỒI QUY, CÁC GIẢ THIẾT được coi là "lồng nhau trong" nếu CÁC BIẾN GIẢI THÍCH trong một giả thiết là một tập hợp con của các biến số giải thích trong các biến khác.

Neo-orthodoxy / Trường Phái Tân Chính Thống

Neo-orthodoxy là tên gọi được đặt cho những người phản đối phái CHÍNH THỐNG MỚI trong cuộc tranh luận về việc kiểm soát cung tiền tệ.

Neo-imperialism / Chủ Nghĩa Đế Quốc Kiểu Mới

Theo các tác phẩm của phái MÁC XÍT và XÃ HỘI CHỦ NGHĨA thì neo-imperialism là sự kiểm soát nền kinh tế của các nước chậm phát triển bởi các tập đoàn tư bản khổng lồ có trụ sở tại các nước tư bản phát triển.

Neoclassical Synthesis / Hợp Đề Tân Cổ Điển

Luận chứng cho rằng sự tồn tại của CÂN BẲNG THẤT NGHIỆP phát sinh từ giả định về mức lương cứng nhắc của Keynes. Đây là sự kết hợp giữa một bên là việc lồng ghép của Keynes đối với các khu vực thực tế và khu vực tiền tệ của một nền kinh tế, nhằm chứng minh cho sự quyết định cùng một lúc của thu nhập danh nghĩa và lãi suất với phía bên kia là các quan điểm cổ điển cho rằng xu hướng đạt tới điểm cân bằng toàn dụng nhân công chỉ có thể bị cản trở bởi tính cứng nhắc trong hệ thống kinh tế.

Neoclassical Macroeconomics / Kinh Tế Học Vĩ Mô Tân Cổ Điển

Về cơ bản thì đây là sự trình bày lại dưới một hình thức tỷ mỉ hơn về KINH TẾ HỌC CỔ ĐIỂN chính thống.

Neoclassical Growth Theory / Học Thuyết Tăng Trưởng Tân Cổ Điển

Neo-classical Growth Theory là cụm thuật ngữ tổng hợp đề cập đến những mô hình tăng trưởng kinh tế được xây dựng trong khuôn khổ học thuyết tân cổ điển, trong đó chú trọng đến việc thúc đẩy khả năng thay thế giữa vốn và lao động trong hàm sản xuất để đảm bảo sự tăng trưởng đến trạng thái bền vững, cho nên tình trạng mất ổn định được phát hiện ra trong mô hình tăng trưởng HARROD - DOMAR do giả định về hệ số cố định giữa vốn và lao động gây ra.

Neoclassical Economics / Kinh Tế Học Tân Cổ Điển

Neo-classical Economics là một phần của học thuyết kinh tế trong đó có sử dụng những kỹ thuật và phương pháp tiếp cận tổng hợp của các nhà kinh tế học đầu tiên theo trường phái biên thế kỷ XIX.

Kinh Tế Học Tân Cổ Điển (Neoclassical Economics) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kinh Tế Học Tân Cổ Điển (Neoclassical Economics) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Neighborhood Effects / Những Hiệu Ứng Đến Xung Quanh

Neighborhood Effects là một cụm thuật ngữ khác dùng thay cho thuật ngữ NHỮNG NGOẠI ỨNG, khi ngoại ứng đó có tính không gian.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55