Marginal Damage Cost / Chi Phí Thiệt Hại Cận Biên
Là chi phí tăng thêm cho một thiệt hại phát sinh, thường do ô nhiễm gây ra, từ một đơn vị tăng thêm của hoạt động gây hại.
Marginal Cost Pricing / Định Giá Theo Chi Phí Cận Biên
Là một phương pháp định giá của các hãng tư nhân hoặc các công ty nhà nước theo đó được xác định bằng chi phí biên.
Marginal Cost Of Funds Schedule / Biểu Đồ Chi Phí Cận Biên Của Vốn
Là biểu đồ xác định chi tiết chi phí thực sự của vốn tài chính của doanh nghiệp.
Marginal Cost Of Capital / Chi Phí Cận Biên Của Vốn
Chi phí cận biên của bất kỳ một khoản mục nào là chi phí của một đơn vị tăng thêm của khoản mục đó. Như vậy, chi phí cận biên của vốn được định nghĩa là chi phí của đồng vốn mới cuối cùng mà doanh nghiệp huy động được, và lượng vốn được huy động càng nhiều thì chi phí cận biên càng tăng. Chi phí cận biên cho biết cái giá mà doanh nghiệp phải trả để có thêm một đồng vốn, và kết quả so sánh giữa chi phí cận biên và lợi ích cận biên của một đồng vốn sẽ quyết định xem doanh nghiệp có nên huy động đồng vốn đó hay không.
Marginal Cost / Chi Phí Biên
Marginal Cost tức: Chi phí biên.Chi phí biên là chi phí phụ trội xảy ra trong ngắn hạn khi tăng sản lượng bằng một đơn vị. Cho là định phí không thay đổi cùng với sản lượng, các phí tổn biên (MC) đều là biến phí biên. MC tụt giảm trước hết phản ánh sự gia tăng lợi nhuận của tùy thuộc vào yếu tố nhập lượng khả biến chi phí tăng chậm hơn so với sản lượng. Tuy nhiên, sau đó MC tăng lên khi giảm lợi nhuận để cho chi phí tăng nhanh hơn sản lượng. MC cùng với thu nhập biên quyết định mức sản lượng, theo đó doanh nghiệp đạt được tối đa hóa lợi nhuận.
Marginal / Cận Biên, Gia Lượng
Một đơn vị biên là đơn vị tăng thênm của một cái gì đó, chẳng hạn như với CHI PHÍ BIÊN, ĐỘ THOẢ DỤNG BIÊN.
Margin Trading / Giao Dịch Ký Quỹ
Là việc mua hoặc bán chứng khoán trong đó người đầu tư chỉ thực có một phần tiền hoặc chứng khoán, phần còn lại do công ty chứng khoán cho vay. Bằng cách sử dụng giao dịchký quỹ, những người đầu tư có thể mang lại những tác động tích cực như ổn định giá chứng khoán và tăng cường tính thanh khoản của thị trường. Tuy nhiên, giao dịch ký quỹ cũng ẩn chứa mức độ rủi ro cao có khả năng làm tổn hại đến hoạt động của thị trường. Do vậy, giao dịch ký quỹ chỉ được các thị trường áp dụng khi đạt đến một trình độ phát triển nhất định. Giao dịch ký quỹ có hai loại: mua ký quỹ và bán khống. Mua ký quỹ (margin purchase), người đâu tư chỉ cần có một phần tiền trong tổng giá trị số chứng khoán đặt mua, phần còn lại do công ty chứng khóan cho vay. Sau khi giao dịch được thực hiện, số chứng khoán đã mua của khách hàng được công ty chứng khoán giữ lại làm thế chấp cho khoản vay Bán khống ( short sale)
Margin Requirement / Yêu Cầu Ký Quỹ
1. Khoản tiền tối thiểu khách hàng phải đặt dưới dạng tiền mặt hoặc các chứng khoán đủ tư cách trong một tài khoản ký quỹ. 2. Một phần trong giá chứng khoán người mua phải trả bằng tiền mặt. Phần còn lại sẽ được trả bởi người môi giới, mà trên thực tế, là khoản người môi giới cho khách hàng vay. Yêu cầu ký quỹ càng nhỏ, nguy cơ đầu cơ càng cao. Yêu cầu ký quỹ thấp được cho là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự sụp đổ thị trường chứng khoán Mỹ năm 1929. Năm 1934, Securities Exchange Act cho phép FED (Federal Reserve) sửa đổi các yêu cầu ký quỹ và đạo luật T của FED ra đời. Lượng tiền tối thiểu được đặt lại nhiều lần, nhưng lần gần đây nhất, đạo luật T yêu cầu một khoản tối thiểu là $2000 hoặc 50% giá mua của những chứng khoán đủ tư cách được mua ký quỹ hoặc 50% của quá trình bán khống. Còn được gọi là Initial Margin.
Margin Purchare / Mua Ký Quỹ
21/01/2008. Là việc mua chứng khoán bằng tài khoản ký quỹ; nhà đầu tư khi mua chứng khoán chỉ cần có một số tiền nhất định trong tổng giá trị chứng khoán đặt mua, phần còn lại sẽ do CTCK cho vay. Sau khi thực hiện giao dịch, chứng khoán mua được sẽ do công ty nắm giữ để làm vật thế chấp. Khi nhà đầu tư có nhu cầu bán chứng khoán, CTCK sẽ thực hiện lệnh bán chứng khoán và thu về phần vốn đã cho nhà đầu tư vay gồm cả gốc lẫn lãi. Nhà đầu tư tiến hành giao dịch mua ký quỹ trong trường hợp họ kỳ vọng giá chứng khoán sẽ tăng lên trong tương lại.Muốn thực hiện giao dịch mua ký quỹ, nhà đầu tư phải mở tài khoản ký quỹ. Trong hợp đồng mở tài khoản ký quỹ sẽ quy định rõ chủ tài khoản phải đảm bảo được tỷ lệ ký quỹ bắt buộc do UBCK quy định. Tỷ lệ này càng cao thì giá trị chứng khoán hoặc tiền mà nhà đầu tư đi vay CTCK càng nhỏ.
Margin Of Safety / Biên An Toàn
Là một nguyên lý đầu tư trong đó nhà đầu tư chỉ mua chứng khoán khi giá thị trường thấp hơn nhiều so với giá trị nội tại của chứng khoán đó. Nói cách khác, khi mức giá thị trường thấp hơn nhiều so với mức giá nội tại mà nhà đầu tư xác định thì khoảng chênh lệch giữa hai giá trị này được gọi là biên an toàn. Sự chênh lệch này cho phép giảm thiểu khả năng gặp rủi ro của mỗi quyết định đầu tư. Thuật ngữ này ban đầu được phổ biến bởi Benjamin Graham ( người được biết tới như là cha đẻ của đầu tư) và các học trò của ông, trong đó nổi bật nhất là Warren Buffett. Biên an toàn không có khả năng đảm bảo rằng đầu tư của bạn chắc chắn sẽ thành công và vẫn có thể khiến cho những đánh giá phân tích của bạn bị sai lệch. Việc đánh giá giá trị thực sự của một công ty (tức là giá trị nội tại của công ty đó) thường mang tính chủ quan của người phân tích. Mỗi nhà đầu tư có một cách khác nhau để tính toán giá trị nội tại của một công ty, cách tính đó có thể đúng nhưng cũng hoàn toàn có khả năng bị sai. Đó là chưa kể tới việc đánh giá được doanh thu, lợi nhuận của công ty là vô cùng khó khăn. Tuy nhiên biên an toàn có thể giảm nhẹ các sai số trong việc tính toán. Khái niệm biên an toàn được sử dụng không chỉ trong lĩnh vực tài chính mà còn được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực khác. Ví dụ: giả sử rằng các kĩ sư xây dựng đang xây một chiếc cầu chịu được trọng tải 100 tấn. Như vậy liệu có phải chiếc cầu này được xây dựng với khả năng chống đỡ chính xác là 100 tấn ? Chắc chắn là không rồi vì con số 100 tấn có thể còn có những sai số, và lượng giao thông qua cầu sẽ có lúc nào đó vượt ngưỡng 100 tấn, vì thế sẽ là an toàn hơn nếu xây một chiếc cầu có thể chịu được trọng tải là130 tấn, như vậy biên an toàn đối với cây cầu là 30 tấn và nó sẽ đảm bảo rằng cây cầu sẽ không sập khi bị quá tải trong phạm vi 30 tấn. Việc đầu tư vào chứng khoán cũng tương tự như vậy. Bạn thấy rằng chứng khoán này đáng giá đến tận 10 đôla, việc mua nó ở mức giá 7.50 đôla sẽ cho bạn một biên an toàn trong trường hợp các phân tích của bạn không chính xác và cổ phiếu thực chất chỉ trị giá 9 đôla. Trong kế toán thì biên an toàn là khoảng chênh lệch giữa doanh số bán hàng kì vọng và điểm hoà vốn. Không có một tiêu chuẩn toàn cầu nào để xác định xem độ rộng của biên an toàn bao nhiêu thì hợp lý. Mỗi nhà đầu tư phải tự tìm ra phương cách xác định cho riêng mình. Sử dụng biên an toàn, bạn có thể mua một chứng khoán khi trị giá thực của nó cao hơn giá thị trường. Đây là ý tưởng chính trong lý thuyết đầu tư giá trị của Benjamin Graham, trong đó việc bảo toàn vốn đầu tư là nguyên tắc số một. Benjamin Graham cho rằng chúng ta nên xem xét các công ty nhỏ, không mấy nổi tiếng, có tỉ lệ P/E thấp. Nhà đầu tư cũng có thể phân tích các báo cáo tài chính và các ghi chú để hiểu được liệu công ty có che giấu cáctài sản có thể dễ dàng bị bỏ qua, không chú ý tới hay không, ví dụ như các khoản đầu tư vào công ty khác. Warren Buffett, có lẽ là nhà đầu tư nổi tiếng nhất hiện nay, là học trò của Benjamin Graham ở trường đại học Columbia, đã từng nói rằng " ba từ quan trọng nhất đối với đầu tư chính là: biên an toàn_margin of safety".
Margin Loan / Vay Kí Quỹ
Vay kí quỹ là khoản vay mà một người môi giới vay người đầu tư để mua chứng khoán. Vay kí quỹ thường được sử dụng với cho mục đích, nhưng thông thường là cho việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác. Một khoản vay kí quỹ luôn đi kèm giá kỹ quỹ (tiền lãi đánh trên khoản vay), và phí ký quỹ này phụ thuộc vào sự hiện diện của đồ ký quỹ. Khách hàng sử dụng khoản vay kí quỹ khi họ không có đủ tiền để mua chứng khoán hoặc để thu lợi từ những chứng khoán có khả năng tăng giá mang lại lợi nhuận. Vay kí quỹ là mục đích chính của một tài khoản kí quỹ.
Margin Call / Yêu Cầu Bảo Chứng
Nhà môi giới - thương nhân chứng khoán, hoặc trung tâm thanh toán hợp đồng kỳ hạn yêu cầu đối với một thành viên thanh toán, về tiền hoặc thế chấp bổ sung để bù đắp khoản lỗ trong một tài khoản bảo chứng. Nếu một khoản vay của ngân hàng được bảo đảm bởi những chứng khoán có bảo chứng, thì bên cho vay có thể thu hồi khoản vay, nếu khách hàng không đăng ký thế chấp bổ sung hoặc trả hết khoản vay. Nếu yêu cầu bảo chứng bằng chứng khoán, thì khách hàng được yêu cầu gởi thêm tiền mặt hoặc chứng khoán đủ điều kiện vào một thời gian nhất định ngày hôm sau, hoặc tài sản thế chấp được bán để thỏa mãn khoản vay hiện hữu. Trong hoạt động đặt cọc kinh doanh chứng khoán các nhà đầu tư không chỉ kinh doanh bằng vốn tự có mà còn sử dụng cả vốn vay từ những nhà môi giới. Với một thị trường biến động mạnh, giá cổ phiếu tăng giảm rất thất thường. Giá trị số chứng khoán của nhà đầu tư trong tài khoản đặt cọc có thể nhanh chóng sụt xuống dưới số tiền mà nhà môi giới cho vay. Để tránh điều này, ngoài giới hạn đối với tỉ lệ đặt cọc ban đầu, nhà đầu tư còn phải duy trì một tỉ lệ đặt cọc luôn cao hơn một mức tối thiểu để đảm bảo an toàn cho nhà môi giới. Tỉ lệ này thương được quyết định bởi FED và bản thân các công ty môi giới chứng khoán. Các tỷ lệ tối thiểu đối với nhà đầu tư cá nhân bao giờ cũng khắt khe hơn nhà đầu tư tổ chức. Khi tài khoản đặt cọc của nhà đầu tư không đáp ứng được các mức giới hạn nói trên, nhà môi giới có thể yêu cầu nhà đầu tư tăng đặt cọc. Nếu nhà đầu tư không tăng đặt cọc nhà môi giới có thể bán số chứng khoán đặt cọc ấy để bù đắp phần vốn đã cho nhà đầu tư vay. Ví dụ: nhà đầu tư X có $10,000 và vay thêm $10,000 từ người môi giới để mua một lô cổ phiếu giá $20,000. Nếu giá thị trường của lô cổ phiếu đó giảm xuống còn $15,000, thì giá trị thuần của khoản đầu tư chỉ còn $5000 ($15,000 - $10,000). Nếu tỉ lệ đặt cọc tối thiểu là 25% thì nhà đầu tư phải có ít nhất là $15,000 x 25% = $3,750 trong tài khoản. Như vậy với $5000, nhà đầu tư vẫn chưa gặp phải vấn đề gì. Tuy nhiên, nếu tỉ lệ đặt cọc tối thiểu là 40% ($6000) thì người môi giới sẽ gửi đến nhà đầu tư một yêu cầu tăng đặt cọc $1000 vào tài khoản để đạt được tỉ lệ 40%. Nếu nhà đầu tư không thực hiện yêu cầu này, người môi giới sẽ thanh lý số chứng khoán kia. Nếu vì bất cứ lý do gì, nhà đầu tư không thực hiện yêu cầu tăng đặt cọc của công ty môi giới, công ty môi giới có quyền bán chứng khoán trong tài khoản của nhà đầu tư cho đến khi tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư trong tài khoản vượt qua mức tối thiểu. Điều đáng sợ hơn là các nhà môi giới có thể không cần tham vấn nhà đầu tư trước khi quyết định bán chứng khoán. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào qui định trong hợp đồng giữa hai bên.
Margin Call / Lệnh Gọi Ký Quỹ
21/01/2008. Trong quá trình thực hiện giao dịch mua ký quỹ, khi sử dụng tài khoản ký quỹ, nhà đầu tư phải luôn đảm bảo tỷ lệ ký quỹ (bằng cách lấy giá trị chứng khoán sở hữu chia cho tổng giá trị chứng khoán trên tài khoản) ở mức tỷ lệ ký quỹ duy trì do UBCK quy định. Trường hợp tỷ lệ ký quỹ trên tài khoản ký quỹ nhỏ hơn tỷ lệ ký quỹ phải duy trì, CTCK sẽ phát lệnh ký quỹ yêu cầu nhà đầu tư phải bổ sung thêm tiền hoặc chứng khoán vào tài khoản để đảm bảo tỷ lệ ký quỹ ở trên mức tỷ lệ ký quỹ duy trì. Nếu nhà đầu tư không thực hiện lệnh gọi ký quỹ, CTCK có thể sẽ bán số chứng khoán của nhà đầu tư trên tài khoản.
Margin Buying / Đặt Cọc Mua Chứng Khoán
Đặt cọc mua chứng khoán là việc mua chứng khoán bằng tiền của mình cộng với tiền vay từ nhà môi giới. Nhà đầu tư sẽ dùng một số tiền nhỏ để đặt cọc cho người môi giới, sau đó vay phần tiền còn lại để mua chứng khoán. Số chứng khoán này, sau đó lại được sử dụng như khoản đặt cọc cho khoản vay. Chênh lệch giữa giá trị của số chứng khoán này và khoản vay chính là giá trị đầu tư thuần. Mức chênh lệch này phải luôn lớn hơn mức đặt cọc tối thiểu để bảo vệ nhà môi giới trước sự giảm giá của số chứng khoán đó xuống dưới giá trị khoản vay. Đây là một kĩ thuật nhân vốn đầu tư, giúp nhà đầu tư có thể sử dụng một số tiền lớn hơn số vốn thực tế của anh ta để đầu tư vào chứng khoán. Kiểu đầu tư này là một cách tuyệt vời để kiếm được lợi nhuận lớn từ số vốn đầu tư tương đối nhỏ, nhưng nó cũng có thể làm cho nhà đầu tư bị thua lỗ cực kì nặng nề. Ví dụ: một nhà đầu tư có trong tay $1000 và dự định đầu tư vào một cổ phiếu Y. Hãy xem xét hai cách đầu tư sau: Cách 1: nhà đầu tư mua số cổ phiếu đó hoàn toàn bằng tiền của mình, anh ta sẽ mua được số cổ phiếu trị giá $1000. Nếu số cổ phiếu đó tăng giá gấp đôi lên $2000 thì nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận $1000 - tương đương 100%. Nếu số cổ phiếu trên sụt xuống chỉ còn $500, thì nhà đầu tư lỗ mất $500, thật tồi tệ, nhưng dù sao ông ta vẫn còn lại chút ít vốn để đầu tư. Cách 2: nhà đầu tư dùng $1000 này làm khoản đặt cọc, để vay thêm $3000 nữa từ công ty chứng khoán và mua số cổ phiếu trị giá $4000. Sau đó toàn bộ số cổ phiếu này cũng được công ty chứng khoán giữ lại như một khoản đặt cọc. Ở đây giá trị đầu tư thuần lúc đầu là $4000 - $3000 = $1000, và sẽ thay đổi tùy theo biến động giá chứng khoán. Nếu giá cổ phiếu tăng gấp đôi lên $8000, giá trị đầu tư thuần lúc này tăng lên $5000, nhà đầu tư sẽ kiếm được $4000, trừ tiền lãi vay và chi phí giao dịch anh ta vẫn đạt được tỉ suất lợi nhuậngần 400%. Ngược lại nếu giá cổ phiếu giảm xuống còn một nửa - $2000, anh ta thua lỗ $2000, không chỉ mất luôn số vốn đầu tư mà thậm chí còn bị lâm vào nợ nần chồng chất. Trên đây chỉ là ví dụ minh họa cách thức mà kiểu đầu tư này nhân lãi và lỗ lên nhiều lần. Trên thực tế, công ty chứng khoán hiếm khi buông lỏng nhà đầu tư để mình tự rơi vào hoàn cảnh khó khăn như trên, vì khi nhà đầu tư thua lỗ thì công ty chứng khoán cũng khó có thể đảm bảo khả năng thu hồi được khoản vay của mình. Kể từ thập niên 1920 đến nay, hoạt động đặt cọc mua chứng khoán này đã có những thay đổi đáng kể. Vào thời đó, các qui định giám sát hoạt động đầu tư kiểu này còn khá lỏng và yêu cầu đặt cọc tối thiểu là rất thấp. Khi giá chứng khoán sụt giảm giá trị đầu tư thuần sẽ nhanh chóng giảm xuống dưới mức tối thiểu đó, buộc nhà đầu tư phải bán tháo chứng khoán ra và đây là một nhân tố dẫn đến cuộc Đại khủng hoảng và suy thoái năm 1929. Hiện nay, các nhà môi giới có xu hướng đặt ra mức yêu cầu đặt cọc tối thiểu cao hơn, để tự bảo vệ họ trước những biến động của thị trường. Ở Mỹ, Ủy ban chứng khoán Liên Bang đã đặt ra một số quy định điều chỉnh hoạt động đặt cọc mua chứng khoán, và các tổ chức tự điều chỉnh như NASD hay NYSE cũng có những qui định của riêng mình. Trong các qui định này quan trọng nhất là mức đặt cọc tối thiểu bắt buộc, trên NYSE mỗi nhà đầu tư phải đặt cọc tại công ty môi giới $2000 và bị giới hạn tỉ lệ vay không quá 50% tổng giá trị khoản đầu tư.
Margin Account / Tài Khoản Ký Quỹ Hay Tài Khoản Bảo Chứng
Một loại tài khoản môi giới trong đó người môi giới cho khách hàng vay tiền mặt để mua chứng khoán. Khoản vay trong tài khoản được ký quỹ bởi chứng khoán và tiền mặt. Nếu giá trị của cổ phiếu sụt giảm quá một mức nhất định đã được xác định trước, người chủ tài khoản sẽ được yêu cầu đặt thêm tiền hoặc bán một phần cổ phiếu. Khi sử dụng một tài khoản ký quỹ, nghĩa là bạn đang đầu tư bằng tiền của người môi giới cho mình. Bằng cách sử dụng sức mạnh đòn bẩy của khoản vay, bạn có thể làm khuếch đại cả lãi và khoản lỗ của khoản đầu tư. Tài khoản ký quỹ được quản lý trong đạo luật T bởi Hiệp hội các nhà buôn bán chứng khoán Mỹ (National Association of Securities Dealers), Sàn giao dịch chứng khoán New York, và những luật lệ của từng công ty môi giới. Các yêu cầu ký quỹ có thể được trả bởi tiền mặt hoặc các chứng khoán đủ tư cách. Trong trường hợp chứng khoán được bán khống, một khoản tương đương của chứng khoán đó thường được "mượn" mà không phải chịu lãi từ một nhà môi giới khác để thực hiện việc bán, trong khi quá trình được lưu giữ trong bản giao kèo do người thứ 3 giữ để làm bằng dưới dạng ký quỹ cho bên cho mượn chứng khoán.
Margin / Khoản Đặt Cọc
Margin là khoản đặt cọc của người kinh doanh chứng khoán khi thực hiện một số nghiệp vụ như: vay tiền từ một đối tác khác để mua chứng khoán hay quyền chọn, bán khống chứng khoán hoặc quyền chọn hoặc khi tham gia vào một hợp đồng tương lai. Người kinh doanh chứng khoán có thể đặt cọc bằng tiền mặt hoặc chứng khoán, và khoản đặt cọc đó được ghi vào tài khoản đặt cọc. Với hợp đồng tương lai thì khoản đặt cọc này thường được hiểu là đặt cọc thực hiện hợp đồng - bảo chứng. Đặt cọc được phân ra một số loại như sau: Đặt cọc thanh lý tức thời (current liquidating margin): tương đương với giá trị của thương vụ kinh doanh chứng khoán nếu nó được thanh lý ngay lập tức. Ví dụ, nếu người kinh doanh tiến hành nghiệp vụ bán khống thì đây là số tiền cần thiết để mua lại số chứng khoán đã bán. Đặt cọc phí quyền chọn: người bán quyền chọn có nghĩa vụ phải giao các tài sản cơ sở (cổ phiếu, trái phiếu...) của hợp đồng quyền chọn nếu người mua quyết định thực hiện quyền chọn của mình. Để đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ này, người bán phải đặt cọc 1 khoản tiền tương đương với khoản phí cần thiết để mua lại quyền chọn đó và kết thúc hợp đồng. Đặt cọc bổ sung: khoản đặt cọc bổ sung được sử dụng để đề phòng sự sụt giá của khoản đầu tư trong những ngày giao dịch tiếp theo, tương đương với khoản lỗ trong tình huống xấu nhất. Khi tiến hành một thương vụ nào đó, nhà đầu tư có thể cùng lúc phải đảm bảo từng mức tối thiểu của các loại đặt cọc trên. Tổng tất cả các mức tối thiểu đó được gọi là yêu cầu đặt cọc tối thiểu, và nhà đầu tư phải duy trì tài khoản đặt cọc không thấp hơn mức này. Ví dụ: Một nhà đầu tư bán một hợp đồng quyền chọn, theo đó người mua có quyền mua 100 cổ phiếu X với giá $90/cp. Đổi lại, anh ta nhận được phí quyền chọn $14/cp. Số tiền này tương đương với số tiền đặt cọc phí quyền chọn (premium margin). Trong trường hợp anh ta muốn phá bỏ hợp đồng thì người mua quyền chọn sẽ được bồi thường bằng số tiền này. Theo tính toán, đến 99% khả năng là giá hợp đồng quyền chọn này sẽ không vượt qua $17/cp vào ngày tiếp theo. Do đó khoản đặt cọc bổ sung tối thiểu là $3/cp. Như vậy nhà đầu tư phải duy trì tài khoản đặt cọc tối thiểu là $17/cp. Khi mức đặt cọc trong tài khoản đặt cọc thấp hơn mức hơn mức đặt cọc tối thiểu, người môi giới hoặc công ty chứng khoán sẽ đưa ra yêu cầu tăng đặt cọc (margin call). Lúc này nhà đầu tư hoặc phải tăng khoản đặt cọc hoặc phải kết thúc thương vụ tại đây. Liên quan đến khoản đặt cọc là tỉ lệ thu nhập trên mức đặt cọc (ROM - Return on margin), thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh vì nó phản ánh mức lãi lỗ thuần so với rủi ro của thương vụ phản ánh trên số đặt cọc cần thiết (số vốn đầu tư).
Manufacturing Expense / Manufacturing Cost / Chi Phí Sản Xuất
Trong kế toán, chi phí sản xuất là chi phí của công ty sản xuất trong quá trình làm ra sản phẩm, bao gồm nguyên vật liệu trực tiếp, lao động trực tiếp, và toàn bộ chi phí cho nhà máy. Ví dụ, trong quá trình sản xuất ôtô, nếu nguyên vật liệu trực tiếp là 2000 đôla, chi phí trả công lao động trực tiếp là 3000 đôla, và chi phí cho nhà máy (điện, nước...) là 1500 đôla, thì tổng chi phí sản xuất là 6500 đôla.
Manufacturing Account / Tài Khoản Sản Xuất
SẢN XUẤT TÀI KHOẢN là một báo cáo kế toán -một phần không thể thiếu của các tài khoản cuối cùng của một tổ chức sản xuất. Đối với bất kỳ khoảng thời gian cụ thể, nó cho thấy, trong số những thứ khác, nguyên tố chi phí sản xuất trực tiếp, chi phí sản xuất chung, tổng chi phí sản xuất, và chi phí sản xuất hàng hóa thành phẩm.
Manual Workers / Lao Động Chân Tay
Là những nhân viên làm các công việc chân tay và được trả tiền công theo tuần.
Manpower Policy / Chính Sách Về Nhân Lực
Là một nỗ lực nhằm tăng cường hoạt động của thị trường lao động, và nếu có thể, là sự đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm phát.





