Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Market Imperfection / Sự Không Hoàn Hảo Của Thị Trường

Là bất kỳ sự sai lệch nào khỏi các điều kiện cần thiết để có được cạnh tranh hoàn hảo.

Sự Không Hoàn Hảo Của Thị Trường (Market Imperfection) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Sự Không Hoàn Hảo Của Thị Trường (Market Imperfection) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Market If Touched Order - MIT / Lệnh Đến Mức

Market if touched order có nghĩa là: lệnh đến mức. Lệnh mua hay bán chứng khoán hay hàng hoá ngay khi đạt đến giá thị trường đã định trước, tới điểm này nó trở thành lệnh thị. Ví dụ, khi bắp đang bán giá $4,75/bashel một người nào đó có thể tham gia thị trường nếu MIT để mua là $4,50. Ngay khi giá giảm còn $4,50 hợp đồng sẽ được mua với danh nghĩa khách hàng theo bất cứ giá thị trường nào đang hiện hành khi lệnh được thực hiện.

Market Forces / Các Tác Nhân Thị Trường

Là những tác nhân phát sinh từ quan hệ tự do giữa cung và cầu của thị tường dẫn đến việc phải điều chỉnh giá bán và/hoặc số lượng được giao dịch.

Market Failures / Thất Bại Của Thị Trường

Các thất bại của thị trường là thuật ngữ quen thuộc trong kinh tế học, thường được sử dụng để lý giải vai trò và sự cần thiết của Chính phủ  trong nền kinh tế. Thuật ngữ này bắt nguồn từ thời kỳ các cuộc Đại khủng hoảng (những năm 1930) và đầu những năm 1960. Các nhà kinh tế và chính khách đã nhận thấy một nền kinh tế thị trường tự do, thậm chí là nền kinh tế tự do giầu bậc nhất như Hoa Kỳ, vẫn rơi vào những tình huống không đáp ứng nổi một số nhu cầu cơ bản của xã hội. Ví dụ như những chu kỳ thất nghiệp kéo dài.  Trong thời kỳ Đại khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ lên đến 25% và sản lượng quốc gia sụt giảm khoảng 30% vào năm 1929. Cuộc suy thoái khiến nhiều vấn đề vốn đã tồn tại từ lâu trở nên trầm trọng hơn. Nhiều người mất hết số tiền tích cóp nhiều năm khi hệ thống ngân hàng sụp đổ và thị trường chứng khoán tan rã. Nhiều người lớn tuổi không còn nguồn sinh sống. Nhiều chủ nông trại nhận thấy số tiền họ thu được từ bán nông sản ít ỏi tới mức họ không thể thanh toán nổi các khoản cầm cố và phá sản trở nên hiển nhiên. Để chống lại suy thoái, Chính phủ liên bang Hoa Kỳ khong chỉ đóng vai trò tích cực trong ổn định hoạt động kinh tế mà còn thông qua luật pháp để giải quyết nhiều vấn đề xã hội như: bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tiền gửi, các chương trình trợ giá nông sản và hàng loạt chương trình hướng tới các mục tiêu an sinh xã hội khác. Sau Thế chiến thứ hai, nền kinh tế thế giới đã phục hồi và dần trở lại phồn thịnh. Song, cũng cần thấy rõ rằng không phải tất cả mọi người đều được hưởng sự thịnh vượng và sung túc đó. Nhiều người, do điều kiện sinh ra, trưởng thành và phát triển, đã phải chịu cảnh nghèo đói, không được học hành đầy đủ, không có cơ hội tiếp cận việc làm tốt. Đây là lý do để nhiều chương trình "chống đói nghèo" ra đời. Mục tiêu chung của nhiều chương trình "chống đói nghèo" là đảm bảo "một tấm lưới an toàn" (safety-net) cho những người cần thiết như: cung cấp lương thực thực phẩm và chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, chương trình đào tạo lại mang lại nhiều hơn cơ hội phát triển kinh tế cho những người ở hoàn cảnh kém thuận lợi... Những hoạt động của Chính phủ có giảm nhẹ được các thất bại của thị trường? Sự thành công của các chương trình do Chính phủ thực hiện cần được đánh giá thế nào? Vẫn tiếp tục còn nhiều trao đổi quanh vấn đề này. Nhưng người ủng hộ sự nỗ lực tiếp tục của Chính phủ cho rằng những người phê bình đã phóng đại những điểm chưa tốt trong các chương trình của Chính phủ. Bài học cần thiết không phải là "Chính phủ nên từ bỏ nỗ lực của mình để giải quyết những vấn đề xã hội và kinh tế mà quốc gia đang gặp phải," mà là "cần phải thận trọng hơn trong việc xây dựng và hiệu quả hơn trong việc triển khai các chương trình của Chính phủ."

Market Failure / Thất Bại Thị Trường

Đây là một thuật ngữ để chỉ một tình huống trong đó lượng cầu của người tiêu dùng về hàng hoá không cân bằng với lượng cung trên thị trường. Đây là hậu quả trực tiếp của việc thiếu một số nhân tố kinh tế lý tưởng khiến cho nền kinh tế không thể đạt được trạng thái cân bằng. Thất bại thị trường có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế vì khi đó các nguồn lực sẽ không được phân bổ một cách tối ưu. Nói cách khác là không thể giảm thiểu được các chi phí xã hội của hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ ( gồm cả các chi phí cơ hội của các đầu vào đã được sử dụng để sản xuất) và một số nguồn lực đã bị lãng phí. Ví dụ xét qui luật về mức lương tối thiểu. Quy luật về mức lương tối thiểu (minimum wage) thường đưa ra các mức lương cao hơn mức cân bằng trên thị trường nhằm làm tăng mức lương thị trường và khuyến khích nhân viên làm việc năng suất hơn, do đó thị trường lao động sẽ đạt được điểm cân bằng mới. Các nhà phê bình thường cho rằng chính chi phí lao động cao hơn sẽ khiến cho các công ty có xu hướng thuê ít nhân công có mức lương tối thiểu hơn. Do đó sẽ có nhiều công nhân có mức lương tối thiểu bị mất việc làm, làm gia tăng chi phí cho xã hội và dẫn tới thất bại thị trường.

Market Economy / Kinh Tế Thị Trường

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế lấy khu vực kinh tế tư nhân làm chủ đạo. Những quyết định kinh tế được thực hiện một cách phi tập trung bởi các cá nhân người tiêu dùng và công ty. Việc định giá hàng hóa và phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế được cơ bản tiến hành theo qui luật cung cầu. Trái với kinh tế thị trường là cơ chế kế hoạch hóa tập trung, lấy khu vực kinh tế Nhà nước làm chủ đạo và chịu sự điều tiết bởi bàn tay hữu hình của Nhà nước. Ưu điểm của kinh tế thị trường là bốn vãn đề sản xuất cái gì, ai sản xuất, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai được giải quyết rất hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, nếu lượng cầu hàng hóa cao hơn lượng cung, thì giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, mức lợi nhuận cũng tăng khuyến khích người sản xuất tăng lượng cung. Người sản xuất nào có cơ chế sản xuất hiệu quả hơn, thì cũng có tỉ suất lợi nhuận cao hơn cho phép tăng qui mô sản xuất, và do đó các nguồn lực sản xuất sẽ chảy về phía những người sản xuất hiệu quả. Những người sản xuất kém hiệu quả sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp, khả năng mua nguồn lực hạn chế, sức cạnh tranh kém sẽ bị đào thải. Cái ưu việt nhất của kinh tế thị trường là đã tạo ra một môi trường tự do cạnh tranh, đó là động lực để phát triển xã hội và năng lực cá nhân. Nhưng nhược điểm của kinh tế thị trường thể hiện ở những thất bại thị trường. Cơ chế phân bổ tài nguyên của nó có thể dẫn tới bất bình đẳng, bên cạnh đó là vấn đề thông tin không hoàn hảo có thể dẫn tới phân bổ tài nguyên không hoàn toàn hiệu quả. Quy luật cung cầu trên thị trường sẽ đẩy tới tình trạng không kịp điều chỉnh cung cầu, và gây ra tình trạng thất nghiệp lạm phát. Trong thực tế hiện nay không có một nền kinh tế thị trường hoàn hảo cũng như không có một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoàn toàn (trừ nền kinh tế Bắc Triều Tiên). Thay vào đó là nền kinh tế hỗn hợp, có thể giúp phát huy ưu điểm và khắc phục một số nhược điểm của kinh tế thị trường, tùy mỗi nước mà các yếu tố thị trường nhiều hay ít. Hiện nay đã có nhiều nước đưa ra các tiêu chí để xác định nền kinh tế một quốc gia là thị trường hay chưa. Ta có thể xem xét 6 tiêu chí Mỹ đánh giá Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế thị trường hay phi thị trường trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế: - Khả năng chuyển đổi của đồng tiền: tất nhiên về khía cạnh đầu tiên này Việt nam chưa thể đạt được, đồng tiền Việt Nam chưa hoàn toàn tự do chuyển đổi trên thị trường vốn - Tự do thảo thuận mức lương - Đầu tư nước ngoài - Sở hữu hoặc quản lý của Nhà nước đối với các ngành sản xuất: quá trình tư nhân hóa ở Việt Nam diễn ra chậm chạp và Nhà nước vẫn duy trì sự hiện diện đáng kể trong nền kinh tế. - Quản lý của nhà nước đối với sự phân bổ các nguồn lực: luôn thiếu vắng quyền sở hữu đất tư, cải cách trong ngân hàng mang quy mô hạn chế. - Các yếu tố thích hợp khác  Nên có thể kết luận trong thời điểm hiện tại, quanh năm 2000, Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi và chưa phải nền kinh tế thị trường.

Market Disruption / Trục Trặc Thị Trường

Trục trặc thị trường là tình huống trong đó thị trường không còn hoạt động như bình thường nữa, thường thể hiện bằng tốc độ suy thoái nhanh chóng. Trục trặc thị trường có thể là hậu quả do thị trường chứng khoán mang lại hoặc các hoạt động thương mại bất thường. Trong cả hai trường hợp, trục trặc thị trường gây ra tâm lý hoang mang và dẫn đến tình trạng hỗn loạn trên thị trường.                          Sau cuộc suy thoái năm 1987, người  ta đã áp dụng các hệ thống quản lý nhằm giảm thiểu các rủi ro do trục trặc thị trường mang lại, ví dụ như đưa ra các tiêu chuẩn giới hạn giá cả. Hệ thống này được thiết kế để hạn chế hoạt động thương mại trong thời kì suy thoái nghiêm trọng, tránh gây tâm lý hoang mang trên thị trường.

Market Demand Curve For Labour / Đường Cầu Của Thị Trường Đối Với Lao Động

Với một mức giá bán sản phẩm không đổi, đường cầu của thị trường hay của một nghành sản xuất chính là sự tổng hợp theo chiều ngang các đường DOANH THU SẢN PHẨM BIÊN của các doanh nghiệp tham gia.

Market Demand Curve / Đường Cầu Của Thị Trường

Đường cầu thị trường là tổng hợp của một loạt các đường cầu riêng rẽ đối với một loại hàng hóa. Như vậy, nếu ở mức giá Px cá nhân 1 mua 10 hàng hóa X, cá nhân 2 mua 15 đơn vị hàng hóa, cá nhân 3 mua 4 đơn vị, thì đường cầu biểu thị bằng 10 + 15 + 4 = 29 đơn vị sẽ được mua với giá Px. Hình thức tổng hợp này hạn chế ở chỗ nó chỉ áp dụng được đối với hàng hóa của cá nhân và các cá nhân này độc lập, không có một sự phụ thuộc nào. Hình thức này không áp dụng cho hàng hóa công cộng, bởi việc cung cấp một lượng hàng hóa công cộng nhất định cho một cá nhân này thì cũng sẽ phải cung cấp hàng hóa đó cho những cá nhân khác.

Market Definition / Khái Niệm Chung Về Thị Trường

Thị trường là một sự sắp xếp của xã hội, cho phép người mua và người bán tìm hiểu, khai thác thông tin và tiến hành những hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ một cách tự nguyện. Thị trường là một trong hai tổ chức cốt lõi tiến hành tổ chức hoạt động thương mại, cùng với quyền sở hữu tài sản. Với nghĩa thông thường, Thị trường là nơi gặp nhau giữa người bán và người mua, nơi hàng hoá được giao dịch, trao đổi. Thị trường còn được gọi là cái chợ hoặc phố chợ. Với sự phát triển của kinh tế - xã hội - khoa học kĩ thuật như ngày nay, thuật ngữ thị trường đã được chia nhỏ thành nhiều nghĩa.

Market Classification / Phân Loại Thị Trường

Có rất nhiều cách khác nhau để phân loại thị trường.

Market Capitalization, Market Cap / Giá Trị Vốn Hóa Thị Trường

Giá trị vốn hoá thị trường là thước đo qui mô của một công ty, là tổng giá trị thị trường của một công ty, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ công ty này trong điều kiện hiện tại. Giá trị vốn hoá thị trường tương đương với giá thị trường của cổ phiếu nhân với số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành. Khi tính giá trị vốn hoá thị trường người ta chỉ tính đến các cổ phiếu phổ thông chứ không tính đến cổ phiếu ưu đãi, vì chỉ cổ phiếu phổ thông mới đem lại cho người sở hữu quyền tham gia điều hành công ty. Không nên nhầm lẫn giữa giá trị vốn hoá thị trường với tổng giá trị cổ phần của công ty (equity value), vì trong tổng giá trị cổ phần còn bao gồm cả các quyền mua cổ phiếu chưa thực hiện và trái phiếu, cổ phiếu chuyển đổi nữa. Qui mô và tốc độ tăng của giá trị vốn hoá thị trường là thước đo vô cùng quan trọng để đánh giá thành công hay thất bại của một công ty niêm yết công khai. Tuy vậy giá trị vốn hoá thị trường còn có thể tăng giảm do một số nguyên nhân ko liên quan gì đến kết quả hoạt động, ví dụ như việc mua lại một công ty khác, bán bớt một số bộ phận của tập đoàn, hay mua lại chính cổ phiếu của mình trên thị trường chứng khoán. Giá trị vốn hoá thị trường phản ánh giá cổ phiếu của một công ty, trong khi giá này có thể thay đổi theo kì vọng của các nhà đầu tư, vì vậy chỉ số này không phản ánh hoàn toàn chính xác giá trị thực sự của công ty đó. Tổng giá trị vốn hoá thị trường của tất cả các công ty niêm yết trên NYSE vào tháng 1/2007 là khoảng (15,400 tỷ USD), lớn hơn cả GDP của nước Mỹ năm 2006(12,980 tỷ USD). Còn nếu tính tổng giá trị vốn hoá thị trường của tất cả các sàn giao dịch chứng khoán trên thế giới thì con số này là 43,600 tỷ USD vào 4/2006. Số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường của một công ty thường nhỏ hơn tổng số cổ phiếu mà nó phát hành, bởi một phần không nhỏ số cổ phiếu này nằm trong tay các thành viên nội bộ của công ty(insider), một phần khác thì được công ty mua lại trở thành cổ phiếu quĩ (treasury stock). Thêm vào đó, một phần không nhỏ số lượng cổ phiếu lưu hành ít ỏi này lại do các tổ chức đầu tư nắm giữ lâu dài và ít khi đem ra giao dịch. Kết quả là chỉ có một tỉ lệ nhỏ cổ phiếu thực sự được đem ra mua bán trong ngày, ví dụ: vào một ngày giao dịch chỉ có khoảng 1.6% lượng cổ phiếu của Yahoo (20triệu cổ phiếu / 1,200 triệu cổ phiếu) được đem ra mua bán. Việc một lượng lớn hoặc toàn bộ cổ phiếu của một công ty đột nhiên xuất hiện trên thị trường, khi công ty và các thành viên nội bộ bán cổ phiếu của mình ra, có thể làm giá cổ phiếu đó tụt dốc ngay lập tức. Chưa có một chuẩn mực nào cho việc phân loại công ty theo giá trị vốn hoá thị trường nhưng theo Investopedia, ở mức độ tương đối có thể phân ra thành 6 nhóm sau: Mega Cap          : trên 200 tỷ USDBig/Large Cap   : 10 đến 200 tỷ USDMid Cap            : 2 đến 10 tỷ USDSmall Cap         : 300 triệu đến 2 tỷ USDMicro Cap         : 50 triệu đến 300 triệu USDNano Cap          : dưới 50 triệu USD Blue chip thường được hiểu tương đương với các công ty có qui mô từ Big/Large Cap trở lên, trong khi đó các nhà đầu tư luôn coi cổ phiếu của các công ty micro-cap và nano-cap làpenny stock, bất kể giá cổ phiếu của nó thế nào.

Market Capitalization / Giá Trị Vốn Hóa Thị Trường

Giá trị vốn hoá thị trường hay còn được viết tắt bằng tiếng Anh là market cap, là thước đo quy mô của một doanh nghiệp, thường tính bằng cách lấy giá hiện tại của cổ phiếu nhân với lượng cổ phiếu đang lưu thông. Xét trong một chừng mực nào đó thì chỉ số này có sự khác biệt so với vốn cổ phần vì một doanh nghiệp có thể có các quyền chọn cổ phiếu đang lưu hành (outstanding stock options) hoặc có các chứng khoán có khả năng chuyển đổi. Quy mô và tốc độ phát triển của giá trị vốn hoá thị trường của một doanh nghiệp luôn được xem là một trong những chỉ tiêu chủ yếu và quan trọng nhất đo lường sự thành công hay thất bại của một công ty cổ phần. Tuy nhiên, mức vốn hoá thị trường có thể tăng hoặc giảm vì các nguyên nhân không liên quan tới hiệu quả hoạt động của công ty như hoạt động sáp nhập hay mua bán lại cổ phần. Giá trị vốn hoá thị trường chính bằng lượng cổ phiếu thường nhân với giá trị hiện tại của số cổ phiếu đó. Thuật ngữ này đôi khi được thay thế bằng thuật ngữ "mức vốn hoá" (capitalization), tuy nhiên thường thì mức vốn hoá thể hiện tổng lượng vốn được sử dụng để duy trì cân đối tài chính của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy giá trị vốn hoá thị trường cộng với các khoản nợ (tính trên sổ sách hoặc theo giá thị trường) cộng với giá trị cổ phiếu chuyển đổi.  Theo thống kê thì tổng giá trị vốn hoá thị trường của tất cả các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán New york lớn hơn so với lượng tiền hiện có ở Mỹ. Giá trị vốn hoá thị trường toàn cầu (gồm tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đạt khoảng 43.6 nghìn tỉ USD vào thời điểm tháng 3 năm 2006). Hiện tại chưa có một định nghĩa rõ ràng về phân loại mức vốn hoá thị trường. Tại Mỹ, các công ty và cổ phiếu thường được phân loại theo giá trị vốn hoá thị trường như sau: Công ty vốn hoá nhỏ: giá trị vốn hoá nhỏ hơn 1 tỉ USD (có khoảng 2800 công ty, không gồm công ty có mức vốn hoá quá nhỏ không đáp ứng yêu cầu niêm yết trên  NYSE) Công ty vốn hoá trung: giá trị vốn hoá từ 1 tỉ $ đến 5 tỉ $ (có khoảng 1350 công ty) Công ty vốn hoá lớn: giá trị vốn hoá từ 5 tỉ $ trở lên (có khoảng 835 công ty)   Định nghĩa về công ty có mức vốn hoá nhỏ thì thường gây nhiều tranh cãi hơn hai loại còn lại. Thông thường thì thang giá trị vốn hoá được liệt kê như sau: Loại vốn hoá rất nhỏ (Micro-cap): giá trị vốn hoá dưới 100 triệu $ Loại vốn hoá siêu nhỏ (Nano-cap): giá trị vốn hoá dưới 50 triệu $ Các công ty Blue chip thường là công ty có giá trị vốn hoá thị trường lớn. Một số nhà đầu tư thường coi cổ phiếu do các công ty  micro-cap hoặc nano-cap phát hành là penny stock, bất kể giá cổ phiếu là thế nào.

Market / Thị Trường

Đầu tư: 1. Thường dùng để chỉ thị trường vốn sở hữu nơi mà các cổ phiếu được trao đổi, nhưng cũng có thể dùng để chỉ trái phiếu, hợp đồng quyền chọn, hoặc thị trường hàng hóa. 2. Những người với mong muốn và khả năng mua một loại hàng hóa nhất định. "Thị trường hôm nay giảm" ý chỉ giá trị thị trường chứng khoán đi xuống. Marketing: 1. Hệ thống kinh tế tập trung lực lượng cung và cầu của một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể. Một thị trường bao gồm khách hàng, nhà cung cấp và các kênh phân phối, hệ thống thiết lập giá và các giao dịch đang có hiệu lực. Ví dụ: thị trường nước giải khát bao gồm nhà máy sản xuất, đóng chai, các nhà phân phối, người bán lẻ, các nhà hàng và khác hàng. 2. Chỉ việc bán hàng hóa hay dịch vụ.

Theo thuật ngữ Marketing, Thị trường được hiểu là nhóm khách hàng hoặc tổ chức, và những đối tượng quan tâm đến sản phẩm, có khả năng mua hàng, và được luật pháp và các quy định cho phép mua sản phẩm.  Thị trường được phân thành các mức sau:  Toàn bộ dân số (total population); Thị trường tiềm năng (potential market): Những người nằm trong toàn bộ dân số quan tâm đến việc mua sản phẩm Thị trường sẵn có (available market): Những người trong thị trường tiềm năng, có đủ tiền để mua sản phẩm Thị trường sẵn có đủ tiêu chuẩn (qualified available market): những người ở trong nhóm thị trường sẵn có được pháp luật cho phép mua sản phẩm Thị trường mục tiêu (target market): phân đoạn của thị trường sẵn có đủ tiêu chuẩn mà công ty đặt chiến lược phục vụ Thị trường thâm nhập (penetrated market): những người ở trong thị trường mục tiêu đã mua sản phẩm Sản phẩm được hiểu là sản phẩm hữu hình và dịch vụ. Độ lớn của thị trường không nhất thiết bị cố định. Ví dụ, độ lớn của thị trường sẵn có có thể trở nên lớn hơn nếu giá của sản phẩm giảm, và độ lớn của thị trường sẵn có đủ tiêu chuẩn có thể rộng hơn nếu luật pháp nới lỏng các quy định về đối tượng mua sản phẩm.

Thông thường, đó là bất kỳ khung cảnh nào trong đó diễn ra việc mua bán các loại hàng hoá và dịch vụ.

Sự hình thành cung và cầu nơi người mua và người bán nắm thông tin gặp nhau, và thiết lập giá cả công khai cho sản phẩm và dịch vụ. Ví dụ, thị trường tín dụng, thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ, thị trương thế chấp và thị trường thứ cấp. Địa điểm công cộng, như sàn giao dịch chứng khoán, hoặc giao dịch chứng khoán, hoặc giao dịch hợp đồng kỳ hạn ở đó diễn ra các giao dịch. nó ngụ ý sự hiện diện của những người tạo ra thị trường sẵn sàng mua hoặc bán tài sản của chính họ, hoặc cho khách hàng với mức giá niêm yết. Sàn giao dịch hợp đồng kỳ hạn là các thị trường ở đó giá được thiết lập bởi sự tương tác trực tiếp hay còn gọi là tín hiệu tay, bởi những thương nhân trên sàn giao dịch. Sàn giao dịch chứng khoán ở đó chứng khoán niêm yết được bán, gồm các giao dịch bởi nhà môi giới và thương nhân hành động thay mặt người mua và người bán, duy trì tiếp xúc với sàn giao dịch qua điện thoại. Bán bất kỳ thứ gì có giá trị cho bên muốn mua với mức giá do hai bên thương lượng.

Mark To Model / Hạch Toán Theo Mô Hình

Phương pháp hạch toán theo mô hình là việc định giá một khoản mục đầu tư cụ thể dựa trên giả định nội bộ hoặc các mô hình tài chính. Điều này trái ngược với phương pháp truyền thống là định giá theo giá trị thị trường, trong đó giá cả thị trường được sử dụng để tính toán giá trị cũng như lỗ lãi của danh mục đầu tư. Tài sản được định giá theo mô hình không cần một thị trường để thường xuyên cung cấp các mức giá chính xác, và cũng không định giá dựa trên tập hợp các biến tham chiếu và khung thời gian. Điều này tạo nên một tình huống mà sự phỏng đoán và giả định được sử dụng để gán giá trị cho tài sản. Những tài sản này thường là các hợp đồng phái sinh hoặc các công cụ chứng khoán hóa dòng tiền mặt, và hầu hết không có thị trường giao dịch mang tính thanh khoản. Chính vì lý do đó mà phương pháp này cũng gây ra những rủi ro cho nhà đầu tư. Trong cuộc khủng hoảng thế chấp cấp thấp năm 2007, hàng tỷ đô la tài sản thế chấp chứng khoán đã được đưa lên bảng cân đối kế toán của các công ty vì các giả định xác định giá trị sử dụng hóa ra không chính xác. Nhiều giá trị xác định theo mô hình đã giả định về tính thanh khoản, một thị trường thứ cấp có trật tự với mức mặc định đã có trong lịch sử. Các giả định này đã được chứng minh là sai lầm khi tính thanh khoản không còn và mức mặc định thế chấp cũng tăng vọt trên mức bình thường.

Mark To Market - MTM / Hạch Toán Theo Giá Thị Trường

Hạch toán theo giá trị thị trường là phương thức đặt ra mức giá của tài sản trên bảng cân đối phản ánh giá trị của chúng khi bán trên thị trường tại thời điểm hạch toán. Cách này có vẻ thật hợp lý về mặt  lý thuyết, nhưng trong thực hành mọi chuyện có thể không như vậy. Bởi, không phải tất cả mã chứng khoán đều có khả năng thanh khoản tốt - ở bất kỳ lúc nào một nhà đầu tư cũng có thể xác định mức giá sẵn sàng giao dịch của chứng khoán đó. Các khoản cho vay và chứng khoán chiếm một lượng lớn tài sản tại các ngân hàng. Do đó, phương pháp sử dụng để định giá các tài sản này trong quá trình chuẩn bị các báo cáo tài chính sẽ ảnh hưởng tới giá trị vốn góp cổ phần của cổ đông. (Vốn góp cổ phần của cổ đông = tổng tài sản - các nghĩa vụ nợ => Ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của ngân hàng.) Trên thực thế, với mã chứng khoán bất động sản được rao bán mà không có lệnh đề nghị mua thì sẽ dựa trên mức độ thanh khoản để định giá theo 3 nhóm sau: Tài sản thanh khoản tốt, có giá giao dịch trên thị trường  Tài sản không có giá giao dịch trên thị trường, được xác định giá dựa trên một mô hình định giá đáng tin cậy. Đây là mô hình có vô vàn biến số đầu vào có giá trị được xác định dễ dàng trên thị trường như lãi suất, giá của các chứng khoán tương đương... Tài sản không thể nào xác định được giá hợp lý với các mô hình đầu vào đầy đủ. Nhóm này buộc những người chuẩn bị các báo cáo tài chính phải đưa ra giả thiết về các giá trị đầu vào. Và phương thức định giá tài sản của nhóm được gọi với là "định giá theo trí tưởng tượng" (Mark to Imagination)

Mark To Market / Điều Chỉnh Theo Thị Trường, MTM

1. Việc ghi lại thị giá hoặc giá trị của một chứng khoán, danh mục đầu tư hoặc một tài khoản phản ánh giá trị thị trường hiện tại của nó chứ không phải giá trị trong sổ sách. 2. Khi nhắc đến quỹ tương hỗ, MTM là khi chỉ số giá trị tài sản thuần của quỹ được đánh giá cao hơn hầu hết các giá trị thị trường hiện tại. 1. Được thực hiện nhiều nhất với các tài khoản tương lai để đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu kí quỹ. Nếu giá trị thị trường hiện tại khiến cho tài khoản ký quỹ bị giảm xuống dưới mức yêu cầu, người giao dịch sẽ phải đối mặt với yêu cầu tăng đặt cọc. 2. Các quỹ tương hỗ được điều chỉnh theo thị trường hàng ngày tại phiên đóng cửa thị trường, như thế các nhà đầu tư sẽ có ý niệm về chỉ số giá trị tài sản thuần của quỹ.

Marginal Utitily Of Money / Độ Thỏa Dụng Cận Biên Của Tiền

Là tỷ lệ gia tăng thoả dụng của một cá nhân khi ngân sách của riêng người đó (thu nhập) tăng thêm 1 đơn vị.

Marginal Utility / Độ Thỏa Dụng Biên

Độ thỏa dụng biên là độ thỏa dụng phụ thêm có được từ việc có thêm một đơn vị của bất kỳ loại hàng hóa nào. Về mặt toán học, có thể biểu thị như sau:  MU = ∆U/∆X  Trong đó U là độ thỏa dụng, X là số lượng hàng hóa và ∆ là lượng thay đổi.

Marginal User Cost / Chi Phí Sử Dụng Cận Biên

Trong kinh tế học tài nguyên, đó là lợi ích ròng (việc định giá một đơn vị tài nguyên, tức là giá của nó trừ đi chi phí khai thác) mà thế hệ tương lai không có được do thế hệ hiện tại đã sử dụng một đơn vị tài nguyên hữu hạn.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55