Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Marketing / Marketing

Là một thuật ngữ dùng để chỉ những hoạt động của các doanh nghiệp liên quan đến việc bán và phân phối sản phẩm. Hiện nay trong các tác phẩm về marketing trên thế giới, có trên 2000 định nghĩa về Marketing. Tuy nhiên các định nghĩa ấy về thực chất không giống nhau lắm và điều lý thú là chưa có định nghĩa nào được coi là duy nhất đúng.    Hãy tham khảo một vài định nghĩa về Marketing. 1. Định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ:  Marketing là tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng. 2. Việt Marketing của Anh: Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất-kinh doanh, từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể, đến việc sản xuất và đưa các hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đảm bảo cho Công ty thu được lợi nhuận dự kiến. 3. Định nghĩa của học việc quản lý Malaysia: Marketing là nghệ thuật kết hợp, vận dụng các nguồn lực thiết yếu nhằm khám phá, sáng tạo, thoả mãn và gợi lên những nhu cầu của khách hàng để tạo ra lợi nhuận. 4. Định nghĩa của giáo sư Philip Kotler: Marketing- đó là một hình thức hoạt động cuủacon người hướng vào việc đáp ứng nhu cầu thông qua trao đổi. 5. Công ty General Electric (Mỹ) đã coi Marketing như một triết lý kinh doanh mà tiêu điểm của nó là người tiêu dùng và lợi nhuận. Tóm lại, Marketing là tổng thể các hoạt động của doanh nghiệp hướng tới thoả mãn, gợi mở những nhu cầu của người tiêu dùng trên trị trường để đạt được mục tiêu lợi nhuận.

Mortgage / Thế Chấp

Là một sự thu xếp về mặt pháp lý theo đó một hình thức sở hữu một loại tài sản nào đó được người đi vay chuyển cho người cho vay như một sự bảo đảm đối với khoản vay đó.

Market Value-Weighted Index / Chỉ Số Giá Trị Thị Trường Gia Quyền

Market value-weighted index có nghĩa là: chỉ số giá trị thị trường gia quyền, hay chỉ số nghiêng về trị giá thị trường. Chỉ số chứng khoán có những thành tố hướng theo tổng trị giá thị trường của các cổ phần hiện hành (do cổ đông và người mua giữ). Nó cũng còn được gọi là chỉ số nghiêng về tư bản hoá (capitalization-weighted index). Sự thay đổi giá cả của một thành tố có tác động tương ứng đối với toàn thể trị giá thị trường của chứng khoán trái phiếu. Thí dụ, chỉ số kỹ thuật vi tính được mua bán trên thị trường AMEX (American Stock Exchange) có 30 chứng khoán thành tố. Tỷ trọng của mỗi chứng khoán chuyển biến liên tục dùng với những thay đổi giá cả chứng khoán và số lượng cổ phần hiện hành. Chỉ số biến chuyển cùng với giá chứng khoán thay đổi.

Market Value Ratios / Các Chỉ Số Giá Trị Thị Trường

Có thể rút ra nhiều kết luận có ý nghĩa từ việc phân tích kỹ bảng cân đối kế toán và kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, có một đặc tính rất quan trọng của doanh nghiệp lại không thể tìm thấy trong các báo cáo kế toán: giá trị thị trường của doanh nghiệp. Giá thị trường. Giá thị trường của một cổ phiếu phổ thông là mức giá mà người mua và người bán xác lập khi thực hiện giao dịch cổ phiếu đó. Giá trị thị trường của một doanh nghiệp được tính bằng giá thị trường một cổ phiếu nhân với tổng số cổ phiếu của doanh nghiệp. Đôi khi, cụm từ ``giá thị trường hợp lý'' được sử dụng để mô tả giá thị trường. Giá thị trường hợp lý là mức tại đó cổ phần phổ thông được chuyển từ người sẵn sàng mua sang người sẵn sàng bán, và cả hai đều có đầy đủ các thông tin liên quan cần thiết. Trong một thị trường chứng khoán hiệu quả, giá thị trường phản ánh đầy đủ mọi yếu tố liên quan tới doanh nghiệp. Bởi vậy, giá thị trường thể hiện giá trị thực của các tài sản cơ sở của doanh nghiệp. Người phân tích tài chính xây dựng các chỉ số để lọc thông tin độc lập với qui mô của doanh nghiệp.   Chỉ số giá-thu nhập (P/E). Chỉ số P/E được tính bằng cách chia giá thị trường hiện tại cho thu nhập với một cổ phiếu phổ thông trong năm gần nhất.   Thu nhập cổ tức. Thu nhập cổ tức được tính qui đổi mức thanh toán cổ tức lần gần nhất về thu nhập cổ tức thường niên và chia cho giá thị trường hiện tại. Thu nhập cổ tức liên quan tới nhận định của thị trường về tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao về cơ bản sẽ có thu nhập cổ tức thấp.   Giá trị thị trường-ghi sổ (M/B) và chỉ số Q. Chỉ số giá trị thị trường-ghi sổ được tính bằng cách chia giá thị trường một cổ phiếu cho giá trị ghi sổ của một cổ phiếu. Còn có một chỉ số khác, gọi là Tobin's Q, rất giống với chỉ số M/B. Chỉ số Q chia giá trị thị trường của tất cả các khoản nợ và vốn cổ phần của doanh nghiệp cho giá trị thay thế toàn bộ tài sản. Khác biệt giữa chỉ số Q và chỉ số M/B nằm ở chỗ chỉ số Q sử dụng giá trị thị trường của các khoản nợ và vốn cổ phần. Chỉ số này cũng thường sử dụng giá trị thay thế tài sản chứ không phải giá trị chi phí quá khứ. Doanh nghiệp có chỉ số Q lớn hơn 1 sẽ có động lực đầu tư cao hơn doanh nghiệp có chỉ số Q nhỏ hơn 1. Doanh nghiệp có chỉ số Q cao thường là doanh nghiệp hấp dẫn nhà đầu tư và có năng lực cạnh tranh tốt.

Market Value / Giá Trị Thị Trường

Giá trị thị trường có thể được hiểu như sau: 1. Giá niêm yết tại đó nhà đầu tư mua và bán cổ phiếu phổ thông hoặc trái phiếu tại một thời điểm định sẵn. Còn được gọi là "giá thị trường." 2. Giá trị vốn hóa thị trường cộng với giá trị thị trường của các khoản nợ. Đôi khi còn được hiểu là "tổng giá trị thị trường." Đối với chứng khoán, giá trị thị trường thường khác so với giá trị ghi sổ bởi vì thị trường tính cả tiềm tăng phát triển trong tương lai của chứng khoán. Hầu hết các nhà đầu tư sử dụng kĩ thuật phân tích cơ bản để lựa chọn loại cổ phiếu tốt đều xem xét giá trị thị trường của công ty và sau đó quyết định xem giá trị thị trường là hợp lí hay nó đang có giá trị thấp so với giá trị ghi sổ, so với giá trị tài sản thuần hoặc so với một số cách đo khác.

Market Socialism / Chủ Nghĩa Xã Hội Theo Cơ Chế Thị Trường

Là một hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa nhưng lại nhường quyền điều hành các hoạt động hàng ngày của nền kinh tế cho cơ chế thị trường.

Market Share / Thị Phần

Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh. Thị phần = doanh số bán hàng của doanh nghiệp / Tổng doanh số của thị trường hay Thị phần = Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp / Tổng sản phẩm tiêu thụ của thị trường. Thị phần nói rõ phần sản phẩm tiêu thụ của riêng doanh nghiệp so với tổng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Để giành giật mục tiêu thị phần trước đối thủ, doanh nghiệp thường phải có chính sách giá phù hợp thông qua mức giảm giá cần thiết, nhất là khi bắt đầu thâm nhập thị trường mới. Bên cạnh đó, còn xem xét tới thị phần tương đối ( Relative market share ) Thị phần tương đối = Phần doanh số của doanh nghiệp / Phần doanh số của đối thủ cạnh tranh hay Thị phần tương đối = Số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp / Số sản phẩm bán ra của đối thủ cạnh tranh. Nếu thị phần tương đối lớn hơn 1, thì lợi thế cạnh tranh thuộc về doanh nghiệp Nếu thị phần tương đối nhỏ hơn 1, thì lợi thế cạnh tranh thuộc về đối thủ Nếu thị phần tương đối bằng 1, thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và của đối thủ như nhau.

Market Segmentation / Phân Đoạn Thị Trường

Market Segmentation - Phân đoạn thị trường hay phân khúc thị trường. Phân đoạn thị trường dùng để chỉ một nhóm người hoặc tổ chức có những đặc điểm chung nhất định, từ đó có nhu cầu tiêu dùng giống nhau. Việc phân đoạn thị trường chính là việc phân chia thị trường thành những phân khúc riêng biệt và đối xử như nhau đối với phân khúc đó. Đối với một phân đoạn thị trường thực sự đồng nhất về nhu cầu và  thái độ, quan điểm, nhà kinh doanh có thể áp dụng 1 chiến lược Marketing Mix (bao gồm: Sản phẩm, dịch vụ - Product, Giá – Price, Phân phối – Place và các biện pháp xúc tiến hỗ trợ - Promotion) một cách cụ thể và chính xác nhất. Các yêu cầu cần có để phân đoạn thị trường thành công: Tính đồng nhất: Các đối tượng khách hàng trong cùng một phân đoạn thị trường có sự đồng nhất về nhu cầu và nhận định Tính riêng biệt: Các phân đoạn thị trường khác nhau có những đặc điểm khác nhau Có thể nhận biết được: Các phân đoạn thị trường phải đo lường được và nhận biết được Có thể thâm nhập và hoạt động hiệu quả: Sau khi chọn được phân đoạn thị trường thích hợp, nhà kinh doanh áp dụng các biện pháp marketing và có thể thâm nhập và kinh doanh hiệu quả trong đoạn thị trường đó Phân đoạn thị trường phải đủ lớn để sinh lợi nhuận. Những tiêu chuẩn này có thể tổng kết bằng từ DAMAS: D – Differential, A – Actionable, M – Measurable, A – Accessible, S - Substantial

Market Price Of Risk / Lợi Tức Bù Rủi Ro Thị Trường

Đây là mức lợi tức chênh lệch giữa kỳ vọng lợi suất của danh mục thị trường so với kỳ vọng lợi suất của tài sản phi rủi ro. Lợi tức bù rủi ro thị trường = E(rM) - rf Mức chênh lệch lợi tức này là một phần nội dung của mô hình CAPM.

Market Price / Giá Thị Trường

1. Giá mà tại đó, người bán và người mua đồng ý giao dịch trên thị trường mở.2. Trong định giá chuyển nhượng nội bộ, giá thị trường là giá chuyển nhượng tốt nhất (ví dụ, giá có thể tối đa hóa lợi nhuận của công ty nói chung), thỏa mãn các điều kiện sau: Tồn tại một giá thị trường cạnh tranh. Các bộ phận hoàn toàn độc lập với nhau. Nếu các bộ phận được tự do mua và bán bên ngoài công ty, việc sử dụng giá thị trường giúp giữ vững sự độc lập của từng bộ phận và giúp cho các bộ phận hoạt động theo cách có thể tối đa hóa lợi nhuận của toàn công ty.

Market Power / Quyền Lực Thị Trường; Sức Mạnh Đối Với Thị Trường

Là việc các nhà sản xuất có xu hướng đặt nhà máy của họ gần thị trường tiêu thụ sản phẩm chứ không phải ở nơi khác, chẳng hạn như gần nguồn nguyên liệu.

Market Portfolio / Danh Mục Thị Trường

Là cách gọi ngắn hơn của Danh mục đầu tư đại diện cho toàn thị trường. Thị trường ở đây chính là thị trường vốn, thị trường chứng khoán. Đó là một danh mục đầu tư trong đó chúng ta giả tưởng rằng tất cả các hàng hóa có trên thị trường vốn sẽ đều có mặt với tỉ lệ ngang bằng trong rổ tài sản của chúng ta. Dĩ nhiên, điều này không bao giờ có thể xảy ra, vì không ai làm như vậy. Thay thế cách đó, người ta sử dụng các chỉ số có số lượng cổ phiếu tham gia kiến thiến tương đối lớn, ví dụ FT 500 hoặc S&P 500. Tất nhiên 500 cũng chưa thể đại diện được cho thị trường, nhưng nó có khả năng thay thế khá tốt, vì có rất nhiều cố phiếu có đặc tính giống nhau, đồng biến, nên việc loại bớt một số tài sản có cùng tính chất vẫn đảm bảo danh mục vận hành theo các đặc tính chung của thị trường. Giới tài chính có sinh ra phương án đầu tư theo các chỉ số lớn. Khi đầu tư theo cách này, thực chất bạn nắm giữ một lượng tài sản có xu hướng vận động gần như trùng khớp với xu hướng của toàn bộ thị trường.

Market Porfolio / Danh Mục Thị Trường

Danh mục đầu tư thị trường là một danh mục đầu tư bao gồm tất cả các tài sản tài chính có rủi ro trên thị trường. Đây là một danh mục giả định. Mỗi tài sản tài chính trong danh mục thị trường sẽ có một trọng số riêng, sự tồn tại của tất cả các tài sản tạo lên tính rủi ro của thị trường trong cùng một danh mục đầu tư sẽ làm cho rủi ro phi hệ thống chung của mỗi tài sản được bù đắp - ta vẫn thường gọi là đa dạng hóa rủi ro.

Market Orientation / Định Hướng Theo Thị Trường

Là việc các nhà sản xuất có xu hướng đặt nhà máy của họ gần thị trường tiêu thụ sản phẩm chứ không phải ở nơi khác, chẳng hạn như gần nguồn nguyên liệu.

Market Oder / Lệnh Thị Trường

lệnh mua, bán chứng khoán với giá tốt nhất có thể- giá thị trường- cách phổ biến nhất để thực hiện việc mua bán. Thông thường qui trình giao dịch chứng khoán đã niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) trải qua các bước sau: nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại một công ty chứng khoán; tiếp công ty chuyển lệnh mua bán này cho người đại diện của công ty tại TTGDCK và người đại diện này sẽ nhập lệnh vào hệ thống của TTGDCK; tiếp trung tâm giao dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết quả giao dịch cho công ty chứng khoán biết và công ty sẽ thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư; cuối cùng nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua. Như vậy lệnh mua bán chứng khoán chính là yêu cầu của nhà đầu tư đặt ra muốn mua hoặc bán một loại chứng khoán nào đó, và ghép lệnh hay khớp lệnh có nghĩa là TTGDCK dựa trên tình hình cung cầu chứng khoán đó để đưa ra một lệnh thị trường - một mức giá tốt nhất - để các nhà đầu tư mua bán chứng khoán đó, nhằm đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất (giá trị giao dịch). Thông thường TTGDCK ở Việt Nam mỗi ngày có 2-3 phiên khớp lệnh. Phương thức giao dịch khớp lệnh mà TTGDCK thực hiện dựa trên nguyên tắc: Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất Nếu có nhiều mức giá thỏa mãn điều kiện một thì mức giá trùng hoặc gần với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn Nếu vẫn còn nhiều mức giá thỏa mãn điều kiện hai thì mức giá cao nhất sẽ được chọn. Nguyên tắc "Ưu tiên về giá": khi các nhà đầu tư chấp nhận "lệnh thị trường" thì lệnh mua của nhà đầu tư nào có mức giá cao hơn được thực hiện trước, tức là nhà đầu tư đó được quyền mua chứng khoán đó trước; và lệnh bán có mức giá thấp hơn được thực hiện trước. Nguyên tắc "Ưu tiên về thời gian": trường hợp các lệnh mua, bán có cùng mức giá thì lệnh giao dịch nhập trước vào hệ thống giao dịch được ưu tiên thực hiện trước.

Market Order / Lệnh Thị Trường

Lệnh thị trường là lệnh mua hay bán một loại cổ phiếu ở mức giá thị trường, nếu bạn không chỉ thị một cách rõ ràng thì người môi giới của bạn sẽ tự động thực hiện lệnh của bạn như một lệnh thị trường. Ưu điểm của lệnh thị trường là chừng nào mà có người sẵn lòng mua hoặc bán thì bạn gần như có thể chắc chắn là chỉ thị của bạn sẽ được thực hiện. Tùy thuộc vào số hoa hồng mà bạn phải trả cho công ty môi giới hoặc người môi giới chứng khoán mà lệnh thị trường có thể ít tốn kém hơn một lệnh giới hạn (Limit order). Tuy nhiên nhược điểm của loại lệnh này là mức giá khi bạn chỉ thị thực hiện lệnh không phải lúc nào cũng trùng khớp với mức giá vào thời điểm người môi giới thông báo cho bạn. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện thị trường và mức giá thay đổi nhanh chóng như hiện nay. Khi bạn chỉ thị thực hiện một lệnh thị trường, đặc biệt là với một số lượng cổ phiếu lớn, thì khả năng số lượng cổ phiếu này được thực hiện ở các mức giá khác nhau lại càng cao.

Market Neutral Funds / Các Quỹ Điều Hòa Theo Thị Trường

Một số quỹ tương hỗ ra đời sau này thường theo đuổi các chiến lược đầu tư gây nhiều tranh cãi: đầu tư điều hoà theo thị trường, còn được gọi là beta zero hay đầu tư với long/short portfolio (một kỹ thuật vận hành quỹ). Các quỹ này không nhằm vào doanh lợi vượt quá xa mức trung bình thị trường mà cố gắng duy trì thu nhập trung bình hàng năm cao hơn một vài điểm nào đó so với trái phiếu trung hạn Kho bạc Mỹ có thời hạn 3 tháng, bất chấp thị trường tăng hoặc giảm. Có nghĩa là điều này sẽ mang lại cho bạn một thước đo sự ổn định lợi suất của portfolio. Các quỹ này sử dụng hệ thống máy tính để lượng hoá các đánh giá và xếp hạng các khoản đầu tư khả thi, phân tích các yếu tố như: P/E, lợi suất, sự dao động bất ổn định và sự tăng trưởng của lợi nhuận. Sau đó, những quỹ này sẽ mua các cổ phiếu được xếp hạng cao nhất và short selling các cổ phiếu bị xếp hạng thấp nhất (xem phần Cổ phiếu). Một số quỹ điều hoà sử dụng nhiều nhaà quản lý với nỗ lực nhằm đa dạng hoá rủi ro của các quỹ này. Do khả năng đáp ứng được mục tiêu của quỹ phụ thuộc quá nhiều vào sự đánh giá chính xác biến động của thị trường trong tương lai nên đối với thu nhập nói chung của quỹ, các quyết định của những người quản lý thậm chí có thể còn quan trọng hơn là việc quỹ chỉ theo đuổi một phương pháp giao dịch thông thường nào đó.

Một số quỹ tương hỗ ra đời sau này thường theo đuổi các chiến lược đầu tư gây nhiều tranh cãi: đầu tư điều hoà theo thị trường, còn được gọi là beta zero hay đầu tư với long/short portfolio (một kỹ thuật vận hành quỹ). Các quỹ này không nhằm vào doanh lợi vượt quá xa mức trung bình thị trường mà cố gắng duy trì thu nhập trung bình hàng năm cao hơn một vài điểm nào đó so với trái phiếu trung hạn Kho bạc Mỹ có thời hạn 3 tháng, bất chấp thị trường tăng hoặc giảm. Có nghĩa là điều này sẽ mang lại cho bạn một thước đo sự ổn định lợi suất của portfolio. Các quỹ này sử dụng hệ thống máy tính để lượng hoá các đánh giá và xếp hạng các khoản đầu tư khả thi, phân tích các yếu tố như: P/E, lợi suất, sự dao động bất ổn định và sự tăng trưởng của lợi nhuận. Sau đó, những quỹ này sẽ mua các cổ phiếu được xếp hạng cao nhất và short selling các cổ phiếu bị xếp hạng thấp nhất (xem phần Cổ phiếu). Một số quỹ điều hoà sử dụng nhiều nhaà quản lý với nỗ lực nhằm đa dạng hoá rủi ro của các quỹ này. Do khả năng đáp ứng được mục tiêu của quỹ phụ thuộc quá nhiều vào sự đánh giá chính xác biến động của thị trường trong tương lai nên đối với thu nhập nói chung của quỹ, các quyết định của những người quản lý thậm chí có thể còn quan trọng hơn là việc quỹ chỉ theo đuổi một phương pháp giao dịch thông thường nào đó.

Market Mechanism / Cơ Chế Thị Trường

Cơ chế thị trường là thuật ngữ kinh tế dùng để miêu tả sự tương tác giữa cung, cầu, và giá. Ví dụ: có hai nhà sản xuất nước ngọt có ga cạnh tranh với nhau, một nhà sản xuất nước cam, một nhà sản xuất nước chanh. Nếu ít người thích nước cam hơn, thì cầu về nước cam sẽ giảm và cầu đối với nước chanh sẽ tăng. Để ứng phó với cầu giảm, nhà sản xuất nước cam giảm giá bán xuống, để đáp lại với cầu tăng, nhà sản xuất nước chanh tăng giá lên. Bởi vì giá tăng lên nên người tiêu dùng mua ít nước chanh hơn, và mua nhiều nước cam hơn. Vì vậy cầu về hai mặt hàng này sẽ quay về mức ban đầu. Cơ chế thị trường được coi là cạnh tranh hoàn hảo và được điều tiết bởi quy luật cung cầu.

Market Maker / Người Tạo Lập Thị Trường

Người tạo lập thị trường (market-maker) là thuật ngữ nhằm ám chỉ cá nhân hoặc tổ chức (công ty) đứng ra tự giao dịch một hay một số loại công cụ tài chính, hàng hóa. Cách họ giao dịch là tự mình định ra mức giá mua vào và bán ra của những loại tài sản, hàng hóa trong danh mục kinh doanh của họ. Mức chênh lệch giá mua giá bán và những biến động giá là phương tiện chủ yếu để market-maker tìm kiếm lợi nhuận. Các thị trường chứng khoán là nơi market-maker hoạt động nhộn nhịp, ngay cả khi các hệ thống giao dịch hoàn toàn được điện tử hóa. Lấy ví dụ cụ thể ở các TTCK của Mỹ, đặc biệt là NASDAQ, thị trường sử dụng một số market-maker chính thức và cạnh tranh với nhau cho một loại chứng khoán nào đó. Những nhà tạo lập thị trường này được yêu cầu phải bảo đảm giao dịch hai chiều, cả mua và bán, trong giờ giao dịch. Do họ có nghĩa vụ phải mua và bán chứng khoán ở mức giá họ tự định cho các giao dịch hai chiều, nên chứng khoán có tính thanh khoản. Điều này giúp đảm bảo chức năng quan trọng nhất của TTCK là duy trì tính thanh khoản của tài sản tài chính, đặc biệt là các thị trường Order-Driven và Matched Bargain. Một trong những lợi thế của market-maker là được thực hiện giao dịch Naked Short, là loại giao dịch bán khống tài sản tài chính ngay cả khi họ chưa vay được tài sản đó để phục vụ giao dịch. Nhà tạo lập thị trường thường ít khi hoạt động trên các thị trường giao dịch dạng Quote-Driven.

Market Intelligence (MI) / Thông Minh Thị Trường

Là một quá trình có hệ thống nhằm thu thập, phân tích, cung cấp và sử dụng thông tin với mục đích đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác và hợp lí về cơ hội, chiến lược thâm nhập thị trường, và các kế hoạch phát triển thị trường mới. Trên phương diện một tổ chức, Market Intelligence có thể là tên của phòng chuyên nghiên cứu Market Intelligence và phân tích đối thủ cạnh tranh. Thông minh cạnh tranh (Competitive Intelligence) mô tả phạm vi rộng hơn của việc nghiên cứu, phân tích và hệ thống hoá thông tin-dữ liệu về toàn bộ môi trường của tổ chức. Trong khi đó thông minh kinh doanh (Business Intelligence) có vai trò xác định/đo lường thị phần của doanh nghiệp và đưa ra các mục tiêu phát triển.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55