Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Multiplier / Số Nhân

Là tỷ số thay đổi trong thu nhập với thay đổi ban đầu trong chi tiêu mà tạo ra thay đổi thu nhập nói trên.

Multiplant Operations / Sự Vận Hành Đa Nhà Máy

Những yếu tố thông thường khuyến khích hình thức hoạt động nói trên là các thị trường phân tán về mặt địa lý cùng với chi phí vận chuyển cao, tính kinh tế về chi phí vốn cho sự hoạt động đa nhà máy và mức độ linh hoạt cao hơn trong việc đáp ứng những đòi hỏi của nhu cầu mà hình thức hoạt động đa nhà máy có thể có được.

Multiplant Economies / Tính Kinh Tế Nhờ Vận Hành Nhiều Nhà Máy

Tính kinh tế nhờ vận hành nhiều nhà máy có được qua việc giảm tổng chi phí trung bình nhờ vận hành nhiều hơn một nhà máy. Có ba nguyên nhân dẫn đến tính kinh tế này: 1. Do các thị trường phân tán về mặt địa lý và chi phí vận chuyển cao: việc vận hành nhiều nhà máy có thể có tác dụng làm giảm đơn giá vận chuyển, và nếu giảm được đáng kể thì tác dụng này có thể bù đắp được bất lợi trong việc vận hành nhà máy dưới quy mô cần thiết để đạt được giá thành sản xuất trung bình tối thiểu.2. Do đa dạng hóa sản phẩm, trong trường hợp có thể có những thuận lợi trong việc thực hiện chuyên môn hóa sản phẩm trong các nhà máy khác nhau - ví dụ như các công cụ chuyên dụng.3. Thêm nữa, người ta cho rằng các doanh nghiệp có nhiều nhà máy sẽ linh hoạt hơn trong hoạt động của mình. Ví dụ, sự suy giảm sản lượng tại một nhà máy có thể được bù đắp nhờ các nguồn cung từ các nhà máy khác, và do vậy có thể cắt giảm được chi phí bằng cách giảm mức hàng lưu kho cần để đáp ứng sự thiểu hụt.

Là việc giảm được tổng chi phí trung bình nhờ vận hành nhiều hơn một nhà máy.

Multinational Corporation / MNC / Công Ty Đa Quốc Gia

Công ty đa quốc gia còn được gọi là Công ty xuyên quốc gia. Có rất nhiều nỗ lực nhằm phân biệt hai loại hình tổ chức công ty này, nhưng tất cả các nghiên cứu của giới học thuật đều coi hai loại hình công ty này không khác nhau. Tham khảo thêm tác phẩm Leviathans - Multinational Corporations and the New Global History của Anfred D. Chandler và Bruce Mazlish, 2005.

Multinational Corporation / Công Ty Đa Quốc Gia

Là một doanh nghiệp lớn đóng trụ sở tại một nước nhưng lại điều hành các công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn hoặc một phần của học ở các nước khác.

Multilateral Trade / Thương Mại Đa Phương

Là hình thức thương mại giữa một số nước với nhau, những lượng hàng xuất và nhập của các nước này không cân bằng giữa từng cặp nước với nhau, mặc dù nước nào cũng có xu hướng cân bằng trong tổng chi ngoại thương và tổng thu ngoại thương.

Multilateral Investment Guarantee Agency (MIGA) / Cơ Quan Bảo Hiểm Đầu Tư Đa Phương

Là một thành viên của Ngân hàng thế giới. MIGA được hình thành lập vào năm 1988 với chức năng chuyên trách là khuyến khích đầu tư cổ phần và các đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển.

Multilateral Aid / Viện Trợ Đa Phương

Là viện trợ bằng tiền hoặc hiện vật do một nhóm các nước cùng nhau cung cấp hoặc thông qua một tổ chức quốc tế cho một nhóm các nước khác.

Multi-Index Option / Quyền Chọn Đa Chỉ Số

Là một loại hình đầu tư, trong đó tiền chi trả phụ thuộc vào sự khác biệt về hiệu năng giữa hai chỉ số, hoặc tài sản tài chính khác. Việc hoàn trả từ các quyền chọn được quy định bởi sự thay đổi trong sự chênh lệch giữa các chỉ số và tài sản. Các quyền chọn này thường được thanh toán bằng tiền mặt. Việc hoàn trả một quyền chọn đa chỉ số không phụ thuộc vào định hướng thị trường, mà là sự thay đổi trong mức chênh lệch.

Multicollitnearity / Tính Đa Cộng Tuyến

Là một bài toán kinh tế lượng trong đó hai hoặc nhiều BIẾN SỐ GIẢI THÍCH trong một phân tích hồi quy có tương quan mật thiết với nhau.

Multi Level Marketing / Bán Hàng Đa Cấp

Bán hàng đa cấp là phương thức kinh doanh kết hợp giữa bán hàng trực tiếp (direct marketing) và nhượng quyền thương mại (franchising). Đại diện bán hàng đa cấp (hay còn gọi là nhà phân phối, hợp tác viên, đại lý,… nhận hoa hồng từ hiệu quả bán hàng của chính mình. Ngoài ra, khi kêu gọi được những thành viên mới tham gia hệ thống của, họ còn nhận được hoa hồng từ hiệu quả bán hàng của các thành viên mới (gọi là cấp dưới). Trong franchising, hoa hồng được trả cho cá nhân người kinh doanh franchise và người nhượng quyền franchise. Còn trong hệ thống bán hàng đa cấp, tiền hoa hồng được trả cho nhiều người (tùy theo số cấp, ít nhất là 2). Bán hàng đa cấp xuất hiện lần đầu tại Mỹ, vào cuối thế kỷ 19. Công ty đầu tiên có hình thức bán hàng này là Avon Products,inc. Đến nay, bằng hình thức kinh doanh duy nhất là bán hàng đa cấp, Avon đã trở thành công ty dẫn đầu trong lĩnh vực bán mỹ phẩm trực tiếp với doanh thu khoảng 6,8 tỉ USD/năm và có mặt tại 114 quốc gia trên thế giới.Bán hàng đa cấp có mặt tại Việt Nam từ năm 1998, tuy nhiên đã có nhiều công ty lợi dụng phương pháp này để thực hiện hành vi lừa đảo, gây hoang mang và bất bình trong nhân dân. (Công ty Thế giới mới, Sinh Lợi,…)Nghị định 110/CP ban hành ngày 24/8/2005 đã thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động bán hàng đa cấp chân chính, đồng thời tạo hành lang pháp lý để xiết chặt quản lý đối với mô hình kinh doanh này.

MP / Lệnh Thị Trường

Lệnh thị trường là lệnh mua tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh MP vẫn chưa thực hiện hết thì lệnh MP sẽ được xem là lệnh mua tại mức giá bán cao hơn hoặc lệnh bán tại mức giá mua thấp hơn tiếp theo hiện có trên thị trường.Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh MP vẫn còn, lệnh MP sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua (bán) tại mức giá cao (thấp) hơn một đơn vị yết giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó.Trường hợp giá thực hiện cuối cùng là giá trần đối với lệnh MP mua hoặc giá sàn đối với lệnh MP bán thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại giá trần hoặc lệnh giới hạn bán tại giá sàn.Các thành viên không được nhập lệnh MP vào hệ thống giao dịch khi chưa có lệnh giới hạn đối ứng đối với chứng khoán đó.Các lệnh mua MP của nhà đầu tư nước ngoài nếu không được thực hiện hết sẽ tự động bị huỷ bỏ.Lệnh thị trường chỉ sử dụng trong phiên khớp lệnh liên tục (9:00 - 10:00).Bạn có thể thấy quá trình sử dụng lệnh thị trường rõ hơn qua sơ đồ và ví dụ sau: Lệnh không ghi giá (ghi MP - giá thị trường) Ví dụ:  Mua REE 1.000cp @MP            Bán SAM 500cp @MPTrình tự khớp:Lệnh đối ứng? Không có >> Lệnh bị từ chốiCó >> Xét Giá tốt nhất: Khớp hết? >> Chấm dứtKhông khớp hết >> Giá tốt kế tiếp. Khớp hết? >> Chấm dứtKhông khớp hết >> Giá tốt kế tiếp…Khối lượng lệnh MP hết? >>  Chấm dứtKhối lượng lệnh MP còn >> Chờ trên sổ lệnh tại mức giá thực hiện cuối cùng +1 đơn vị yết giá nếu là lệnh MP mua (-1 đơn vị yết giá nếu là lệnh MP bán).Ví dụ về lệnh thị trường:Sổ lệnh cổ phiếu BBB như sau: KL Mua   Giá mua   Giá bán   KL Bán   500 MP 1200 1000     121 2000 Kết quả khớp lệnh: - 3000  - 1000(120)          - 2000(121)- 2000 chuyển thành lệnh LO mua tại mức giá 122.Sổ lệnh cổ phiếu BBB sau khi so khớp như sau: KL Mua   Giá mua   Giá bán   KL Bán   2000 122             Kết quả khớp lệnh: - 3000  - 1000(120)         - 2000(121) - 2000 chuyển thành lệnh LO mua tại mức giá 122...

Moving Average Convergence Divergence - MACD / MACD

Đây là một chỉ số được sử dụng nhiều trong phân tích kĩ thuật, thể hiện xu thế thị trường, cho thấy mối quan hệ giữa hai mức bình quân trượt của giá cả. MACD được tính toán bằng cách lấy chỉ số EMA (mức bình quân trượt EMA) của 12 ngày trừ đi chỉ số EMA của 26 ngày liên tiếp. Mức EMA 9 ngày của MACD, còn được gọi là đường dấu hiệu, sẽ được vẽ trên đỉnh của MACD, thể hiện dấu hiệu mua vào hay bán ra.   Thông thường, có ba cách diễn giải MACD:Xét các giao điểm: như trên đồ thị đã chỉ rõ, khi MACD  xuống dưới đường dấu hiệu, khi đó thị trường có xu hướng đi xuống, và đây có thể là thời điểm để bán ra. Ngược lại, khi MACD lên trên đường giới hạn, thị trường có xu hướng đi lên (bullish), giá các tài sản có thể sẽ tăng, và đây là thời điểm tốt để mua vào. Rất nhiều nhà đầu tư chờ đợi đến khi có thể chắc chắn được các giao điểm nằm bên trên đường giới hạn rồi mới tiến hành mua vào nhằm tránh rủi ro. (thể hiện bằng mũi tên đầu tiên trên đồ thị).Phân kì: khi giá chứng khoán vượt ra khỏi MACD, đó là dấu hiệu cho thấy xu thế hiện tại đã kết thúc, xu thế mới đang xuất hiện. Tăng đột biến: Khi MACD tăng đột biến, tức là khi đường bình quân trượt ngắn hạn bị tách ra khỏi đường bình quân trượt dài hạn hơn, đây là dấu hiệu cho thấy hoạt động mua bán chứng khoán đang nóng quá mức, và do đó nó sẽ sớm trở về mức thông thường. Các nhà đầu tư cũng thường xem xét các chuyển động lên xuống quanh đường Zero vì nó sẽ cho thấy mối tương quan giữa đường bình quân trượt ngắn hạn và dài hạn. Khi MACD trên mức zero, đường bình quân ngắn hạn sẽ nằm trên đường bình quân dài hạn, thể hiện rằng thị trường có xu hướng đi lên. Ngược lại, khi MACD thấp hơn mức zero, thị trường có xu hướng đi xuống.  Như trên đồ thị thể hiện thì đường zero nằm trong phần diện tích giữa đường kháng cự và hỗ trợ.

Moving Average - MA / Trung Bình Trượt

Ở đây, tôi muốn đưa khái niệm Trung bình trượt được sử dụng cho phân tích kỹ thuật trong kinh doanh chứng khoán (không bàn tới khái niệm Trung bình trượt và hiệu ứng MA(q) của thống kê, kinh tế lượng). Trung bình trượt là số thống kê được sử dụng trong phân tích kĩ thuật, dùng để chỉ mức biến động bình quân của giá cả, thu nhập hay khối lượng giao dịch của các chứng khoántrong một khoảng thời gian nhất định. Trung bình trượt thường được sử dụng để đo lường các xung lực và xác định phạm vi kháng cự hay chống đỡ trên đồ thị phân tích, làm rõ các xu thế của thị trường hoặc để giảm nhẹ mức độ biến động của giá cả hay các nhân tố "gây nhiễu" ảnh hưởng đến việc diễn giải các đồ thị và dự đoán tình hình thị trường trong tương lai. Thông thường, ta có thể khẳng định một xung lực đẩy thị trường đi lên là chắc chắn nếu mức mức bình quân ngắn hạn cao hơn mức bình quân dài hạn (vd: mức bình quân trong vòng 50 ngày). Ngược lại xung lực đẩy thị trường đi xuống là chắc chắn khi mức bình quân ngắn hạn thấp hơn mức bình quân dài hạn. Khoảng biến thiên giữa giá trị ngắn hạn và giá trị dài hạn phụ thuộc vào các công thức tính được sử dụng, phương pháp tính, qua đó các thông số về mức bình quân trượt được phản ánh tương ứng. Có hai cách tính MA, có thể tính theo công thức đơn giản hoặc tính theo công thức số bình quân gia quyền. MA có lẽ là một trong các biến được sử dụng nhiều nhất trong phân tích kĩ thuật bởi số liệu này được sử dụng để hình thành các bảng biểu cho thấy xu hướng tăng giảm của thị trường trong thời gian tới. MA có thể được sử dụng để theo dõi các biến động theo ngày, theo giờ hoặc tháng. Mỗi số liệu của ngày, tuần, tháng mới nhất sẽ được thế vào công thức tính để tìm ra các số liệu mới, vì thế trung bình trượt là số liệu thay đổi liên tục qua thời gian. Nhìn chung, thời gian tính càng ngắn thì mức giá càng cho thấy xu hướng biến động mạnh, ví dụ: mức đường thể hiện mức trung bình trượt trong 20 ngày sẽ cho thấy mức biến động rõ rệt hơn đường thể hiện các mức MA tính cho 200 ngày. MA được thể hiện bằng đường SMA(x) trên biểu đồ.

Moving Average / Trung Bình Động

Là một phương pháp nhằm loại bớt những biến động số liệu. Một trung bình động trong một giai đoạn n được tính từ một chuỗi thời gian bằng cách trước tiên tính trung bình đơn giản của n quan sát đầu tiên, tiếp đó là tính trung bình của phép đo thứ hai cho đến thứ (n+1) sau đó là của phép thứ ba cho đến (n+2), và cứ tiếp tục như vậy. Phương pháp này thường được sử dụng để loại trừ những yếu tố thời vụ (hoặc những biến đổi khác xảy ra trong năm) khỏi các số liệu, thường là trong các trường hợp cần có số trung bình động trong một giai đoạn 12 tháng (hoặc 4 quý).

Là một phương pháp nhằm loại bớt những biến động số liệu.

Most Favoured Nation; MFN / Đãi Ngộ Tối Huệ Quốc

Đãi ngộ tối huệ quốc (Most favoured nation; MFN) là chính sách không phân biết đối xử trong thương mại, nó đề ra cho tất cả các đối tác thương mại quy chế hải quan và thuế quan như nhau được gọi là “tối huệ quốc”. Đãi ngộ Tối huệ quốc là một trong những quy chế pháp lý quan trọng trong thương mại mại quốc tế hiện đại. Quy chế này được coi là một trong những nguyên tắc nền tảng của hệ thống thương mại đa phương của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đây là nghĩa vụ bắt buộc trong GATS, theo đó các nước cam kết dành cho nhau những "ưu đãi" đối với mọi lĩnh vực dịch vụ, ngoại trừ các lĩnh vực đã được đưa vào danh mục loại trừ đãi ngộ Tối huệ quốc tạm thời. Mục tiêu của các loại trừ này nhằm đảm bảo rằng lợi ích của một nước trong thỏa thuận đặc biệt với một nước nào đó sẽ không tự động dành cho các nước khác không thuộc đối tượng của thỏa thuận đó hưởng. Thuật ngữ "đãi ngộ Tối huệ quốc" được ra đời vào cuối thế kỷ 19 trong thực tiễn thương mại của Hoa Kỳ. Vào thời điểm đó, Hoa Kỳ đã đưa ra chế độ Tối huệ quốc trong các hiệp định song phương như cơ sở để xúc tiến thương mại với một số đối tác châu Âu có quan hệ thương mại mật thiết với mình (ví dụ: Pháp, Hà Lan). Đãi ngộ Tối huệ quốc vào thời điểm ra đời chỉ mang ý nghĩa của chế độ thương mại thuận lợi nhất mà quốc gia sở tại có thể dành cho hàng hoá nhập khẩu đối tác thương mại của mình. Quy chế này mang tính chất có đi có lại. Nói cách khác đó là "chế độ đối xử bình đẳng giữa những thực thể được ưu đãi". Tuy nhiên, trong bối cảnh thương mại hiện đại, quy chế Tối huệ quốc mang ý nghĩa chuẩn mực của sự đối xử ưu đãi mà một quốc gia phải dành cho các đối tác thương mại của mình. Nói cách khác, quốc gia phải bảo đảm dành cho tất cả các quốc gia đối tác một chế độ ưu đãi thương mại thuận lợi như nhau. Trong các điều ước quốc tế về thương mại cũng như luật thương mại quốc gia, đãi ngộ tối huệ quốc thường được thể hiện dưới dạng quy định yêu cầu các sản phẩm hàng hoá dịch vụ có xuất xứ từ một quốc gia đối tác được hưởng chế độ thương mại "không kém ưu đãi hơn chế độ ưu đãi nhất" mà quốc gia sở tại dành cho các những sản phẩm hàng hoá dịch vụ tương tự của bất kỳ quốc gia nào khác. Với sự tồn tại của chế độ đãi ngộ tối huệ quốc, các quốc gia sẽ được bảo đảm rằng quốc gia đối tác thương mại của mình sẽ không dành cho quốc gia khác chế độ thương mại ưu đãi hơn, qua đó triệt tiêu lợi thế cạnh tranh tự nhiên của họ đối với sản phẩm hàng hoá dịch vụ cụ thể trong cạnh tranh với các quốc gia liên quan đó.

Most Favoured Nation Clause / Điều Khoản Tối Huệ Quốc

Là điều khoản trong một hợp đồng thương mại quốc tế quy định rằng các bên tham gia hợp đồng có nghĩa vụ phải dành cho nhau sự đối xử mà họ dành cho bất kỳ nước nào khác trong lĩnh vực thuế xuất nhập khẩu và trong các quy định khác về thương mại.

Mortgage Stock / Cầm Cố Chứng Khoán

Cầm cố chứng khoán (CK) là một nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán có ít nhất có hai chủ thể tham gia. Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người đi vay uỷ quyền giao chứng khoán cho bên nhận cầm cố; Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người cho vay uỷ quyền nhận cầm cố chứng khoán bên cầm cố. Việc thực hiện cầm cố chứng khoán trên cơ sở hợp đồng pháp lý  chứng của hai chủ thể tham gia, trong đó quy định rõ giá trị CK cầm cố, số tiền vay, lãi suất và thời hạn trả nợ, phương thức xử lý CK cầm cố. Trung tâm giao dịch chứng khoán sau khi kiểm tra thủ tục, nhất là tính hợp pháp, hợp lý của nó thì trung tâm phải mở tài khoản cầm cố và chuyển CK vào tài khoản cầm cố theo yêu cầu của bên cầm cố. Trường hợp bên cho vay (hoặc bên vay) không phải là thành viên lưu ký, bên cho vay (hoặc bên vay) phải uỷ quyền việc nhận cầm cố CK (hoặc việc giao CK cầm cố) cho một thành viên lưu ký khác. Tài khoản cầm cố phải tách biệt với tài khoản lưu ký các CK khác của bên cầm cố. Sau khi ghi vào tài khoản cầm cố CK, thì phải đình chỉ việc rút, chuyển khoản hoặc chuyển nhượng các CK trên tài khoản cầm cố trong thời gian cầm cố. TTGDCK gửi thông báo bằng công văn cho bên nhận cầm cố về việc đã thực hiện cầm cố CK. Việc giải toả cầm cố CK được thực hiện theo các nguyên tắc: Người giải toả cầm cố CK phải là bên nhận cầm cố CK; Có thể giải toả toàn bộ hoặc một phần CK cầm cố bằng hình thức rút chứng chỉ hay chuyển khoản; Có văn bản đề nghị giải toả cầm cố CK của bên nhận cầm cố. Trên cơ sở đó, TTGDCK thực hiện huỷ bỏ việc cầm cố CK trong đăng ký người sở hữu CK và thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố việc huỷ bỏ cầm cố CK và giải toả tài khoản cầm cố sang tài khoản khác. Nếu bên cầm cố CK thực hiện không đúng theo thoả thuận thì CK cầm cố đó được xử lý do các bên thoả thuận hoặc đưa ra bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

Mortgage Loan / Cho Vay Có Tài Sản Thế Chấp

Đây là thuật ngữ để chỉ các khoản cho vay được bảo đảm bởi các tài sản thế chấp. Thông thường các khoản cho vay có thế chấp chịu mức lãi thấp hơn so với các hình thức cho vay khác bởi vì giá trị của chính tài sản thế chấp đã phần nào giảm bớt rủi ro đối với người cho vay. Thường thì các khoản cho vay có thế chấp là các khoản nợ dài hạn, việc thanh toán định kì của khoản nợ này cũng tương tự như việc bạn mua trả góp một món đồ, được tính toán dựa trên công thức giá trị tiền tệ theo thời gian. Các chủ nợ thường cho vay trên cơ sở là người vay sẽ phải trả một khoản tiền cố định hàng tháng trong khoảng thời gian từ 10 đến 20 năm, tuỳ từng điều kiện cụ thể. Trong khoảng thời gian này, tiền gốc của khoản vay sẽ được trả dần. Trên thực tế, việc cho vay có thế chấp ở các quốc gia và ngay giữa các vùng của một quốc gia có nhiều nét khác biệt. Những người cho vay thường ưa thích cho vay bằng tiền hơn là cho vay bằng tài sản vì họ sẽ nhận được tiền lãi. Lượng tiền mà họ cho vay có thể do tự huy động được thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc nhận tiền gửi tiết kiệm. Chính vì vậy chi phí huy động tiền của người cho vay sẽ quyết định tới giá mà anh ta cho vay. Ở nhiều quốc gia, người cho vay có thể bán lại khoản nợ có thế chấp này cho một bên thứ ba muốn nhận được thanh toán của người đi vay. Khi cho vay có thế chấp, người cho vay cũng đồng thời phải xác định mức độ rủi ro của khoản vay bao gồm rủi ro về mặt lãi suất, rủi ro về tài chính và thanh toán chậm của khách hàng. Nếu người vay không thanh toán được nợ, người cho vay sẽ thanh lý tài sản thế chấp, thu lại một phần hoặc toàn bộ tiền gốc. Có rất nhiều loại hình thế chấp được sử dụng trên thế giới, tuy nhiên các loại hình này đều có chung một số đặc tính nhất định và chịu sự điều chỉnh của luật pháp mỗi nước. Lãi suất đối với khoản cho vay này có thể là cổ định hoặc được điều chỉnh lại tại các mốc thời gian đã định trước giữa các bên. Người đi vay có thể trả nợ dần qua các kì và do đó kéo dài được thời gian vay nợ. Số tiền thanh toán của mỗi kì có thể là như nhau hoặc tăng giảm dần tuỳ theo thoả thuận của các bên. Tuy nhiên một số ngân hàng và công ty tài chính có thể sẽ yêu cầu người vay thanh toán toàn bộ số nợ vào một ngày xác định.

Mortgage Backed Security / Chứng Khoán Bảo Đảm Bằng Thế Chấp

Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là loại chứng khoán được phát hành dựa trên cơ sở một hoặc một nhóm các khoản thế chấp. Về bản chất, chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là một loại trái phiếu. Thay vì, trả cho nhà đầu tư một khoản trái tức cố định và tiền gốc, thì người phát hành chứng khoán thanh toán bằng dòng tiền phát sinh từ những khoản thế chấp được dùng để đảm bảo cho số chứng khoán đó. Dạng đơn giản nhất của chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp là kiểu "sang tay thế chấp", trong đó tất cả số tiền gốc và lãi thanh toán hàng tháng (sau khi đã trừ đi phí dịch vụ) trong một hợp đồng thế chấp sẽ được "sang tay" cho nhà đầu tư. Vd: công ty X kinh doanh địa ốc có 1 toà văn phòng cho thuê trị giá 90 triệu USD. Để thực hiện một dự án xây chung cư khác, công ty này đang cần vay thêm 60 triệu USD. Sau khi đánh giá các phương án, họ quyết định tìm đến ngân hàng X, thế chấp toà văn phòng trên để vay 60 triệu USD trong 5 năm, thanh toán tiền gốc và tiền lãi hàng tháng  với lãi suất 1%. Tuy nhiên, tình hình tài chính ngân hàng hiện đang "mấp mé" hạn mức tín dụng cho phép nên không thể cho vay thêm, nhưng ngân hàng cũng không muốn mất khách hàng này. Ngân hàng quyết định phát hành 60.000 trái phiếu được đảm bảo bằng khoản thế chấp của công ty X, với kì hạn 5 năm, ra thị trường. Thay vì được thanh toán tiền gốc và lãi như thông thường, người nắm giữ những trái phiếu này sẽ được hưởng số tiền mà công ty X thanh toán cho ngân hàng tuỳ theo số trái phiếu mà anh ta có. Giả dụ, một quĩ đầu tư mua 6000(10%) trái phiếu, thì mỗi tháng họ sẽ được hưởng: 10% x [(60.000.000/5/12) + 1%x (số tiền còn nợ)]. Theo thời gian, khi số tiền gốc được hoàn trả dần thì cả tiền lãi và giá trị của trái phiếu này cũng giảm tương ứng. Ngược lại với các trái phiếu thông thường, khi đáo hạn mới được thanh toán tiền gốc, thì trái phiếu loại này khi đáo hạn có giá trị bằng 0. Người nắm giữ chứng khoán loại này gần như không gặp phải rủi ro gì vì đã có khoản thế chấp làm vật đảm bảo, tuy nhiên nói như vậy cũng không có nghĩa là nó hoàn toàn không có rủi ro nào. Theo luật một số nước (ví dụ như Mỹ), người thế chấp tài sản để vay tiền hoàn toàn có quyền "thanh toán nhanh", nghĩa là họ sẽ thanh toán số tiền lớn hơn định mức. Trong ví dụ trên, thay vì trả $100.000 tiền gốc mỗi tháng, công ty X có thể trả $200.000 để giảm nhanh số tiền nợ, đồng thời giảm số tiền lãi phải trả trong thời gian tiếp theo. Đương nhiên là người nắm giữ chứng khoán này cũng sẽ nhận được số tiền thanh toán cao lên tương ứng và có thể tái đầu tư vào nơi khác. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ, người đi vay (ở ví dụ trên là công ty X) thường chỉ áp dụng việc thanh toán nhanh khi lãi suất cho vay trên thị trường xuống thấp còn khi lãi suất thị trường cao thì không. Tiếp tục xem xét ví dụ trên, giả sử sang năm thứ 2, lãi suất ngắn hạn trên thị trường chỉ còn có 0.5%/tháng, công ty X sẽ lập tức vay tiền với lãi suất thấp để trả cho người nắm giữ trái phiếu để tránh lãi suất cao. Người nắm giữ trái phiếu nhận được số tiền thanh toán tăng thêm trong giai đoạn lãi suất thấp thì đương nhiên khó có thể tái đầu tư để thu đượclãi suất cao. Như vậy khi mà người đi vay có quyền chọn cách thức thanh toán thì chính người cho vay là người chịu rủi ro. Rủi ro này được gọi là "rủi ro thanh toán trước",  chính vì rủi ro này mà lãi suất đối với các loại chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp bao giờ cũng cao hơn lãi suất thị trường một chút. Đối với loại chứng khoán này, vai trò của Ngân hàng chỉ là người trung gian, thu phí để cung cấp dịch vụ chứ hoàn toàn không phải gánh chịu rủi ro nào. Ngân hàng đóng vai trò làm người đại diện cho công ty đi vay để phát hành chứng khoán, thanh toán định kì cho người nắm giữ chứng khoán và tiến hành các thủ tục khác cho công ty đó. Phí mà ngân hàng được hưởng được khấu trừ từ chính tiền lãi mà nhà đầu tư được hưởng, ví dụ: lãi suất cho vay thế chấp đúng ra là 12.5%/năm, và mức phí ngân hàng thu là 0.5%/năm, thì lãi suất mà nhà đầu tư được hưởng sẽ còn 12%/năm. Chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp được phân ra một số loại như: loại "sang tay" (pass through), loại collaterized  và loại stripped. Sự khác nhau giữa các nhóm này chủ yếu ở các ràng buộc về lộ trình thanh toán hoặc dòng tiền đảm bảo cho chúng.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55