Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Medium Term Note - MTN / Trái Phiếu / Thương Phiếu Trung Hạn

Một công cụ nợ có thể giao dịch và có thể chiết khấu do các ngân hàng phát hành, nhận một lãi suất hàng năm trước khi hết hạn khi đáo hạn với mệnh giá quy định.

Missing In Action - MIA / Biến Mất Trong Khi Thực Hiện Hoạt Động

Một thuật ngữ mô tả những gì xảy ra với hầu hết các môi giới phát hành riêng khi họ không thể thực hiện theo lời hứa của họ. Một ngày nào đó, họ đang thao thao bất tuyệt qua điện thoại của bạn, ngày hôm sau họ biến mất, không thể tìm thấy được.

Myrdal, Gunnar K / 1898-1987

Là một nhà kinh tế học, chính trị gia và nhà hoạt động quốc tế người Thuỵ Điển, Myrdal đã kiên định thách thức tư duy kinh tế chính thống trên một loạt các chủ đề. Trong các lĩnh vực, Myrdal đều bày tỏ quan điểm rằng các yếu tố về thể chế quan trọng hơn các quan hệ thị trường trong việc quyết định những sự kiện kinh tế. Myrdal cũng có những đóng góp cho học thuyết kinh tế "thuần tuý", và những tác phẩm trước đó của ông, đặc biệt là các tác phẩm Cân bằng tiền tệ (1931) đã phát triển thêm kinh tế học của Knut Wicksell và dự báo được phần lớn những nghiên cứu sau này của J.M.Keynes. Trong phạm vi vấn đề này, Myrdal là người đã đưa ra những khái niệm EX ANTE VÀ EX POST. Ông đã sử dụng những ý tưởng này để bàn về những quyết định đầu tư chủ chốt và mối quan hệ của chúng với tổng sản lượng quốc dân ở điểm cân bằng theo cách thức mà người ta cho là giống của Keynes. Những tác phẩm quan trọng khác của ông bao gồm: Một nền kinh tế quốc tế: Những vấn đề về triển vọng (1956); Học thuyết kinh tế và các khu vực kém phát triển (1957); Thách thức với sự phong lưu (1963); và Lội ngược dòng (1973). Myrdal được trao giải thưởng Nobel kinh tế (cùng với F.A.von HAYEK) vào năm 1974 do có những nỗ lực mở rộng phạm vi nghiên cứu kinh tế học.

Mutually Exclusive Projects / Các Dự Án Loại Trừ Lẫn Nhau

Đây là nói tới tình huống trong đó có hai hoặc nhiều dự án không thể cùng thực thi vì chúng cần có một đầu vào mà chỉ có thể được dùng cho một dự án.

Mutually Exclusive Projects / Các Dự Án Loại Trừ Nhau

Đây là tình huống trong đó có hai hay nhiều dự án không thể thực hiện đồng thời cùng lúc vì chúng cần cùng một đầu vào mà chỉ có thể sử dụng cho một dự án. Ví dụ, một mảnh đất có thể được dùng để xây một khu nhà văn phòng hoặc một khu căn hộ nhưng không thể thực hiện cả hai. Trong trường hợp này, cần phải xếp hạng các dự án. Thường thì việc xếp hạng dựa trên giá trị hiện tại ròng sẽ đem lại lợi tức tối đa cho chủ dự án khi bị thiếu vốn.

Mutual Fund's Profit Evaluation Tools / Công Cụ Đánh Giá Lợi Nhận Của Quỹ Tương Hỗ

Bạn có thể sử dụng một số các benchmarks (cách thức chuẩn đánh giá) và khung thời gian nào đó làm tiêu chuẩn để đánh giá lợi nhuận của một quỹ. Có một số công cụ bạn có thể sử dụng để đánh giá một quỹ đơn lẻ hoạt động tốt đến mức nào hoặc các quỹ tương hỗ nói chung đang có lãi nhiều đến đâu.  Tờ tạp chí phố Wall thường xuất bản đều đặn một bảng các chỉ số chuẩn đánh giá và chỉ số trung bình - bảng này theo dõi các hạng mục đầu tư khác nhau, bao gồm các cổ phiếu và trái phiếu là những khoản đầu tư của các quỹ tương hỗ. Ngoài ra còn có các chỉ số khác theo dõi các quỹ phân loại theo mục tiêu đầu tư.  Ví dụ, nếu bảng chỉ số cổ phiếu chuẩn S&P 500 thông báo một khoản lãi của cổ phiếu một công ty lớn, điều rất hợp lý mà bạn có thể dự đoán là một quỹ tương hỗ nào đó cũng sẽ thu về một khoản lãi nào đó. Tương tự nếu bạn cảm thấy nản lòng với kết quả của một quỹ cổ phiếu vốn nhỏ nào đó của bạn, có lẽ bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn nếu biết rằng quỹ Chỉ số công ty nhỏ Vanguard - theo dõi chỉ số Russell 2000 (một chỉ số chuẩn các công ty vốn nhỏ) được thông báo là đã lỗ một khoản trong năm vừa qua. Các công cụ sau đây: 1. Các chỉ số quỹ tương hỗ2. Bảng tiêu chuẩn so sánh kết quả 3. Các đồ thị lợi nhuận 4. Tác động của các loại phí

Mutual Fund's Performance Yardsticks / Bảng Tiêu Chuẩn So Sánh Kết Quả

Vào thứ Sáu hàng tuần, bảng Tiêu chuẩn so sánh kết quả (Performance Yardsticks) sẽ cung cấp thông tin về tổng lợi nhuận thu về của 32 hạng mục quỹ, mỗi quỹ với một mục tiêu đầu tư khác nhau. Bảng này thể hiện các nhóm quỹ hoạt động như thế nào - không chỉ trong khoảng thời gian từ ngày 31 tháng 12 đến nay mà còn trong các khung thời gian khác trong vòng 5 năm qua. Trong khi các biến động thị trường gần nhất thường được đưa lên đầu đề tin nóng, thì các kết quả kinh doanh dài hạn lại là một chỉ báo tốt hơn nhiều để phản ánh một hạng mục quỹ nào đó hoạt động tốt đến đâu. Ví dụ, mặc dù các quỹ trong hạng mục Sức khỏe và Công nghệ sinh học giảm 0,65% so với đầu năm, kết quả kinh doanh của các quỹ đó lại tăng 22,31% trong 5 năm qua, chỉ xếp thứ hai sau hạng mục quỹ Khoa học Công nghệ.

Mutual Fund's NAV / Giá Trị Tài Sản Ròng Của Quỹ Hỗ Tương

Giá trị tài sản ròng (NAV) của qũy hỗ tương đại diện cho giá trị thị trường trên mỗi cổ phần của quỹ đó. Đây là mức giá mà các nhà đầu tư mua cổ phần của quỹ từ một công ty quản lý quỹ và bán chúng (giá chuộc lại) cho một công ty quản lý quỹ. NAV được tính bằng cách lấy tổng giá trị bao gồm tất cả tiền mặt và chứng khoán trong danh mục đầu tư của qũy trừ đi bất cứ một lượng nợ phải trả nào, sau đó chia cho tổng số cổ phần đang lưu hành. NAV được tính tóan một lần vào cuối ngày giao dịch dựa trên giá đóng cửa của các chứng khóan trong danh mục. Ví dụ: Nếu tài sản của một quỹ là $50 triệu và nợ phải trả là $10 triệu, thì giá trị NAV của quỹ là $40 triệu Con số này rất quan trọng đối với nhà đầu tư bởi vì, từ giá trị của NAV mà chúng ta có thể tính được giá trị một cổ phần của quỹ bằng cách lấy NAV chia cho tổng số cổ phần đang lưu hành. Trong ví dụ trên, nếu quỹ này có 4 triệu cổ phần đang lưu hành thì, giá mỗi cổ phần của nó sẽ bằng $40 triệu chia cho 4 triệu bằng $10 một cổ phần.Hệ thống định giá cho các cổ phần đang giao dịch của một quỹ hỗ tương thì rất khác so với việc định giá một cổ phần thường đựoc phát hành bởi các công ty cổ phần niêm yết trên sàn chứng khóan. Ví dụ: một công ty phát hành một lượng cổ phần xác định thông qua IPO và có thể phát hành thêm, sau đó chúng được giao dịch trên thị trường thứ cấp. Trong thị trường này, giá cổ phần được thiết lập bởi cung và cầu thị trường. Hệ thống định giá cổ phần chỉ hòan tòan dựa vào tình cảm của thị trường.Bởi vì hầu hết quỹ hỗ tương phân phối tất cả thu nhập và phần thặng dư vốn cho các cổ đông của quỹ, do đó giá trị NAV của quỹ là thước đo tương quan không đáng kể trong việc đánh giá khả năng thể hiện của quỹ. Khả năng thể hiện của quỹ được đánh giá tốt nhất bằng thước đo tổng sinh lợi của nó.

Mutual Fund Management / Điều Hành Quỹ Tương Hỗ

Mỗi quỹ mua và bán chứng khoán trên một thị trường tài chính cụ thể nào đó hoặc trên nhiều thị trường. Ví dụ, một quỹ cổ phiếu, mua và bán cổ phiếu qua người môi giới tại các thị trường cổ phiếu, qua quầy hoặc trong các giao dịch cá nhân. Do họ mua với số lượng lớn nên các quỹ tương hỗ thường được biết đến như những người giao dịch có tổ chức. Trong khi khách hàng không thể nói chuyện với một đại diện trực điện thoại tại quỹ trước 8h sáng (giờ địa phương) thì các báo cáo về lợi nhuận thu được của quỹ trong ngày hôm trước đã luôn luôn có sẵn trong các báo chí tài chính và trên mạng ngay trước thời điểm đó. Hàng ngày người quản lý và các nhà phân tích tài chính của quỹ sẽ tổng kết thị trường đã hoạt động như thế nào trong ngày giao dịch trước đó, quỹ đứng ở vị trí nào so với các quỹ khác và so với các chỉ số chuẩn của quỹ, và các tin tức kinh tế có thể gây ra ảnh hưởng gì đối với giá trị của quỹ. Các nhà quản lý và phân tích tài chính của quỹ thường xuyên có mặt ở thị trường để tìm mua những chứng khoán mới phù hợp với mục tiêu đầu tư của quỹ. Đội ngũ nghiên cứu của quỹ sẽ cung cấp các phân tích và thông tin về giá theo từng phút. Những người quản lý giao dịch của quỹ sẽ đăng ký các lệnh đặt mua và đặt bán. Những người giao dịch, với mục tiêu đạt được một mức giá tốt nhất, sẽ liên tục theo dõi trên màn hình máy tính và qua điện thoại cầm tay. Những người khác thì liên tục đếm các bản cân đối của quỹ.  Đến thời điểm khớp với thời hạn thông báo báo chí, chi tiết về các giá trị hiện tại của quỹ và những thay đổi so với ngày giao dịch trước được các nhân viên của quỹ tính toán và gửi tới Hiệp hội quốc gia các nhà giao dịch chứng khoán (National Association of Securitites Dealers - NASD).

Mutual Fund Indexes / Các Chỉ Số Quỹ Tương Hỗ

Kết quả kinh doanh của 21 hạng mục quỹ tương hỗ, mỗi quỹ với một mục tiêu khác nhau sẽ được thông báo hàng ngày trong Bảng chỉ số Lipper. Mười chỉ số theo dõi các quỹ đầu tư vào cổ phiếu và mười một chỉ số khác theo dõi các loại quỹ trái phiếu. Mỗi chỉ số thông báo kết quả lỗ hoặc lãi của một hạng mục quỹ, dựa trên kết quả kinh doanh của các quỹ lớn nhất trong hạng mục đó. Các con số trong cột đầu tiên của bảng chỉ số nói trên chỉ ra NAV kết hợp của tất cả các quỹ xuất hiện trong bảng. Các con số này sẽ giúp bạn nhận thấy mục quỹ nào là lớn nhất, cụ thể là các quỹ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cổ phiếu, mục tiêu tăng trưởng và thu nhập. Ba cột tiếp theo chỉ ra tỉ lệ phần trăm NAV hiện hành đã tăng lên hoặc giảm xuống so với gày giao dịch trước đó, trong suốt tuần đó hoặc từ ngày 31 tháng 12 năm trước. Những biến động về giá trị này được thể hiện theo tỉ lệ phần trăm, có nghĩa là bạn có thể so sánh khoản lỗ và lãi của các hạng mục quỹ khác nhau. Ví dụ, kết quả kinh doanh tốt nhất ở đây là những quỹ thuộc hạng mục Các thị trường đang tăng trưởng, một trong những hạng mục có số lượng quỹ ít nhất và là một trong những hạng mục đã từng phải chịu lỗ lớn trong năm trước đó (mặc dù thường thì những thông tin như vậy không xuất hiện trong bảng này).

Mutual Fund - Private Fund / Quỹ Công Chúng - Quỹ Thành Viên

Quỹ đầu tư chứng khoán là một công cụ huy động và đầu tư  rất hiệu quả trên thị trường vốn hiện nay. Có thể hiểu Quỹ đầu tư như một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác. Căn cứ vào nguồn vốn huy động, nó được chia làm hai dạng chính là quỹ công chúng và quỹ thành viên. 1.Quỹ công chúng (Mutual Fund), hay còn gọi là quỹ đầu tư tập thể, là những quỹ được hình thành từ vốn góp của rất nhiều nhà đầu tư và sau đó ủy thác cho một công ty đứng ra quản lý quỹ để thực hiện các hoạt động đầu tư của quỹ. Thuật ngữ Mutual Fund có nghĩa là Quỹ tương hỗ, thuật ngữ này được dùng rất nhiều ở Mỹ, nơi có hệ thống các quỹ đầu tư rất phát triển. Việc huy động vốn của quỹ công chúng được thực hiện qua những đợt phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng. Khi tham gia vào các quỹ công chúng, các nhà đầu tư được hưởng các lợi ích như -Đa dạng hóa hình thức và danh mục đầu tư, nhờ đó, giảm thiểu các rủi ro hệ thống. -Giảm thiểu các chi phí đầu tư do quy mô đầu tư của các quỹ thường lớn. -Vốn của các nhà đầu tư được quản lý bởi các chuyên gia đầu tư có chuyên môn và giàu kinh nghiệm của một công ty quản lý quỹ. -Các chứng chỉ quỹ cũng có tính thanh khoản như một loại cổ phiếu, nhờ đó các nhà đầu tư có thể dễ dàng bán các chứng chỉ quỹ khi cần thiết. Do nguồn vốn của quỹ công chúng được huy động từ nhiều nhà đầu tư nên hoạt động đầu tư của quỹ này phải tuân thủ rất nhiều hạn chế nghiêm ngặt của pháp luật. Công ty quản lý quỹ thực hiện công việc quản lý cũng phải tuân thủ rất nhiều điều kiện khắt khe trong hoạt động quản lý quỹ này. Mục đích của những hạn chế và những điều kiện này là nhằm bảo đảm sự an toàn cho Quỹ đầu tư chứng khoán và bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng cho các nhà đầu tư. 2.Quỹ thành viên (Private Fund), hay gọi là Quỹ đầu tư cá nhân, quỹ này chỉ giới hạn ở một số nhà đầu tư tham gia góp vốn. Mục tiêu chủ yếu của việc thành lập Quỹ thành viên là để thực hiện các hoạt động đầu tư có tính chất tương đối mạo hiểm. Các hoạt động đầu tư này có thể mang lại khoản lợi nhuận tiềm năng rất cao tuy nhiên cũng chứa đựng những rủi ro rất lớn, mà thường công ty quản lý sẽ không thể dùng Quỹ công chúng để đầu tư vì sự an toàn vốn các nhà đầu tư.  Với tính chất rủi ro, Quỹ thành viên không phù hợp với việc huy động vốn từ công chúng. Quy mô và phạm vi huy động vốn của quỹ chỉ tập trung vào một số ít nhà đầu tư lớn, có tiềm lực tài chính và có khả năng chấp nhận rủi ro cao trong hoạt động đầu tư. Với tính chất và mục tiêu đầu tư  như vậy, Quỹ thành viên không phải chịu nhiều các hạn chế như Quỹ công chúng và hiện nay ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển đều có hình thức Quỹ đầu tư này.

Mutual Fund / Quỹ Tương Hỗ

Là quỹ được điều hành bởi công ty đầu tư nhằm huy động vốn cổ đông và đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option, hàng hoá hay các chứng khoán trên thị trường tiền tệ, thường phát hành chứng khoán quỹ để huy động vốn. Đây là một loại chứng khoán tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nhỏ có khả năng tiếp cận với một danh mục đầu tư đa dạng và có một sự quản lý chuyên môn. Mỗi cổ đông đều có cơ hội được hưởng lãi từ hoạt động đầu tư của quỹ nhưng đồng thời cũng phải chịu lỗ nếu như đầu tư không thành công. Tổng tài sản ròng của quỹ (net asset valua) được tính toán theo từng ngày. Mỗi quỹ tương hỗ đều tiến hành đầu tư theo danh mục đã xác định rõ từ đầu trong các bản cáo bạch. Tuy nhiên các nghiên cứu đều cho thấy phần lớn các quỹ đầu tư đều không đạt được mục tiêu. Quỹ tương hỗ đã ngày càng trở nên phổ biến trong vòng 20 năm qua. Phương thức đầu tư vốn chẳng mấy được chú ý này bỗng trở nên vô cùng hấp dẫn. Khoảng hơn 80 triệu người Mỹ, và một nửa số hộ gia đình đầu tư vào các quỹ tương hỗ. Điều đó có nghĩa là chỉ tính riêng nước Mỹ thôi cũng đã có tới hàng nghìn tỉ đô la được đầu tư vào các quỹ này. Trên thực tế, đối với nhiều người đầu tư có nghĩa là mua cổ phiếu của các quỹ tương hỗ. Họ cho rằng đầu tư vào các quỹ tương hỗ thì tốt hơn là để tiền nằm im lìm trong các tài khoản tiết kiệm, và đối với phần lớn thì đó là tất cả những gì họ hiểu về quỹ tương hỗ. Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả. Ban đầu, quỹ tương hỗ được thành lập như là một cách để người ta có thể kiếm lợi từ thị trường. Thay vì tiêu tốn thời gian để ngồi đọc thời báo Wall Street, tất cả những việc mà bạn cần làm đó là mua cổ phiếu quỹ tương hỗ và thế là bạn đã tự giải phóng mình khỏi những áp lực về mặt tài chính như nên đầu tư vào đâu, làm gì để sinh lợi, ngày mai giá cả sẽ biến động ra sao...Nhưng trên thực tế thì mọi chuyện không dễ dàng như thế. Về mặt lý thuyết quỹ tương hỗ là một ý tưởng tuyệt vời nhưng không phải quỹ đầu tư nào cũng có đủ khả năng khiến cho tiền của bạn sinh sôi nảy nở. Bạn sẽ phải đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro của mình trước khi quyết định xem quỹ nào tương xứng với khả năng. Ngoài ra, việc định thời điểm mua hay bán còn tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế, tình trạng thị trường chứng khoán trái phiếu, lãi suất và các nhân tố khác.

Côn ty đầu tư tổ hợp vốn từ cổ đông bằng cổ phiếu, trái phiếu, chúng khoán chính phủ, và công cụ thị trường tiền tệ ngắn hạn. Những quỹ hỗ tương có thể cũng đầu tư trong những tài sản khả mại khác, như hợp đồng ký hạn, quyền chọn bộ sưu tập. Một quỹ hỗ tương cũng được biết đến như một công ty dạng mở, có nghĩa là có sự phát hành liên tục những cổ phần mơi và mua lại những cổ phần đang lưu hành. Khi cổ phần được bán, giá trị vốn hóa của quỹ tăng lên, nó giảm xuống khi các cổ phần được chủ đầu tư mua lại (không giống như dạng quỹ đóng, cổ phần không giao dịch trên sàn giao dịch có tổ chức). Các chủ sở hữu một quỹ hỗ tương sẽ nắm giữ tỉ lệ cổ phần trong tổ hợp các chứng khoán mà quỹ này đầu tư, và trả thuế trên các khoản phân phối từ quỹ này. Hầu hết các cổ phần của quỹ hỗ tương sẽ có thể mua lại với giá trị tài sản thuần hiện tại, mặc dù một số có phí trả sau hoặc phí mua lại, khi các cổ phần được thanh toán. Trong bất kỳ quỹ hỗ tương nào, thì giá trị cổ phần sở hữu phụ thuộc vào giá trị thị trường hiện tại của danh mục đầu tư, thường được xác định lại hàng ngày. Xem ANNUITY; MONEY MARKET FUND.

Municipal Bond / Trái Phiếu Đô Thị

Trái phiếu đô thị là những loại trái phiếu do Chính phủ hay chính quyền địa phương (cấp tỉnh, thành phố) phát hành nhằm huy động vốn tài trợ cho các dự án đầu tư hạ tầng như xây dựng trường học, tu bổ phát triển đường sá, xử lý nước, cầu cảng, sân bay… Kỳ hạn trái phiếu này là từ 10 đến 30 năm. Các trái phiếu này thường được các ngân hàng mua khiphát hành, sau đó các ngân hàng tổ chức bán lại trên thị trường chứng khoán cho các Công ty Bảo hiểm, Công ty Tài chính, các người có tài sản lớn, thu nhập cao. Nếu xem xét từ gốc độ kinh doanh tài chính, trái phiếu đô thị là một loại chứng khoán có giá trị đầu tư tương đối cao. Đối với các nước có thị trường tài chính phát triển ở trình độ cao, chẳng hạn như Mỹ và các nước Châu Âu thì hình thức phát hành trái phiếu đô thị phát triển mạnh và rất đa dạng. Tóm lại, trái phiếu đô thị có vị trí quan trọng trong hệ thống các công cụ tài sản tài chính của đất nước. Để trái phiếu đô thị phát huy hết tác dụng. người phát hành và người đầu tư cần hiểu rõ các đặc tính của nó. Tại các các nước phát triển (đặt biệt là Mỹ) chính quyền có thể pháthành các loại giấy nợ dưới dạng ngắn hạn (thời gian đáo hạn từ 1 đến 2 năm) hay dài hạn (thời gian đáo hạn từ 10 đến 30 năm). Loại ngắn hạn (notes) chủ yếu dùng để bù đắp nhưng thiếu hụt tạm thời ngân sách nhà nước của chính quyền địa phương. Nó có thể được phát hành để duy trùy dòng tiền mặt của chính quyền cho đến khi có các nguồn thu mới từ thuế, từ các nguồn thu khác hoặc từ các nguồn hỗ trợ từ Trung ương. Loại ngắn hạn thường được sử dụng gồm:- TANs (Tax Anticipation Notes): Công khố bù đắp thuế là loại giấy nợ được đảm bảo bằng nguồn thu từ thuế trong tương lai. Khoản ngân khố dự kiến (Revernue Anticipation Notes) được chính quyền đảm bảo bằng nguồn thu trong tương lai. Hầu hết loại này được phát hành là những ngân hàng thương mại địa phương.- BANs (Bond Anticipation Notes bonds) là loại được sử dụng tài trợ tạm thời cho dự án dài hạn trước khi phát hành trái phiếu dài hạn. BANs được phát hành để có nguồn tài chính tạm thời giúp cho dự án có thể bắt đầu trước khi trái phiếu dài hạn chính thức được phát hành.- TECP (Tac Exempt Commercial Paper) tương tự như hối phiếu thương mại của công ty có lãi suất cố định, kỳ hạn thanh toán trong vòng 270 ngày.- GANs (Grant Anticipation Notes) là loại giấy nợ đảm bảo bằng trợ cấp trong tương lai chúng được phát hành trên thị trường trái phiếu Mỹ, GANs được phát hành khi địa phương biết trước chuẩn bị có nguồn hổ trợ từ Trung ương nhằm có ngay nguồn tài trợ vốn cho các dự án.Trái phiếu đô thị dài hạn hiện nay cũng có rất nhiều loại, nhưng nhìn chung có thể chia làm 3 loại chính dựa vào các hình thức đảm bảo trả nợ là:- Trái phiếu nhận nợ chung- Trái phiếu chính quyền- Trái phiếu lợi tức.

Công cụ nợ là nghĩa vụ của một tiểu bang hoặc chính quyền đô thị, và các phân nhánh và các cơ quan chính trị của những chính quyền này. Có một số phân loại trái phiếu đô thị bao gồm trái phiếu nợ chung và trái phiếu thu nhập. Trái phiếu đánh giá đặc biệt là những trái phiếu phải trả từ sự đánh giá của các sở hữu chủ hưởng lợi từ tài sản, bao gồm phố đường sá và hành lang. Trái phiếu thuế đặc biệt là trái phiếu được phát hành vì một mục đích đặc biệt, mà số thu từ thuế đặc biệt đó được thế chấp. Trái phiếu công ty nước và cách hãng tiện ích khác phải trả chủ yếu từ doanh thu các hãng tiện ích, nhưng cũng được cơ quan thuế hỗ trợ- vì vậy được gọi là nghĩa vụ có rào chắn kép. Một số loại trái phiếu đô thị được phát hành sau tháng tám năm 198, gọi là trái phiếu mục đích tư nhân, là những trái phiếu chịu thuế đầy đủ nếu, ví dụ, hơn 10% số thu từ phát hành trái phiếu này được sử dụng cho phát triển tư nhân (trái với cải thiện công ích như phát triển đường cao tốc) và dịch vụ nợ được trả bởi những tổ chức kinh doanh tư nhân. Xem INDUSTRIAL DEVELOPMENT BOND; PRIVATE PURPOSE BOND; PUBLIC PURPOSR BOND.

Mundell - Fleming Model / Mô Hình Mundell - Fleming

Là một Mô hình do hai nhà kinh tế học Mundell và Fleming xây dựng một cách độc lập, nó cho thấy tác động mở rộng của các biến số chính sách, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH và CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ đều biến đổi tuỳ thuộc vào chế độ tỷ giá hối đoái được giả định.

Multivariate Analysis / Phân Tích Đa Biến Số

Là một phân tích (thường là mang tính thống kê) trong đó có từ hai biến số trở lên.

Multistage Dividend Discount Model / Mô Hình Chiết Khấu Cổ Tức Đa Bước

Đây là mô hình định giá cổ phiếu được xây dựng dựa trên mô hình tăng trưởng Gordon bằng cách đưa các tốc độ tăng trưởng khác nhau vào công thức tính toán. Theo như mô hình chiết khấu cổ tức đa bước, các tốc độ tăng trưởng cổ tức khác nhau sẽ được áp dụng cho các giai đoạn thời gian khác nhau. Có rất nhiều mô hình chiết khấu cổ tức đa bước, trong đó được sử dụng phổ biến nhất là mô hình chiết khấu hai bước, mô hình H, và mô hình chiết khấu ba bước. Mô hình chiết khấu hai bước là mô hình trong đó giai đoạn đầu tốc độ tăng trưởng cổ tức không ổn định, có thể âm hoặc dương. Vấn đề với mô hình này là tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn đầu được giả định sẽ biến động theo sự biến động của tốc độ tăng trưởng bền vững qua đêm (stable growth rate overnight.) Mô hình H là mô hình trong đó tốc độ tăng trưởng cổ tức ở giai đoạn đầu khá cao, sau đó sẽ giảm dần qua thời gian. Mô hình này giả định rằng tỉ lệ trả cổ tức của một công ty và chi phí cổ phần (cost of equity) sẽ duy trì không đổi.Mô hình chiết khấu ba bước là mô hình trong đó giai đoạn đầu tốc độ tăng trưởng cổ tức ở mức cao, ổn định và kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Trong giai đoạn tiếp theo, tốc độ tăng trưởng sẽ giảm tuyến tính cho đến khi đạt mức tăng trưởng ổn định cuối cùng. Mô hình này là sự hoàn thiện của hai mô hình đầu (chiết khấu hai bước và mô hình H), và có thể được áp dụng cho hầu hết các công ty.

Multisector Growth Model / Mô Hình Tăng Trưởng Đa Ngành

Là mô hình được sử dụng trong lý thuyết tăng trưởng theo đó cho phép sản xuất nhiều loại hàng hoá.

Multiproduct Firm / Hãng Sản Xuất Đa Sản Phẩm

Là một doanh nghiệp kết hợp các yếu tố sản xuất với nhau để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm.

Multiplier Effect / Hiệu Ứng Số Nhân

Đây là sự mở rộng lượng cung tiền của một quốc gia bắt nguồn từ việc cho vay quá nhiều của các ngân hàng. Quy mô của hiệu ứng này tuỳ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của môt quốc gia. Nói cách khác, hiệu ứng số nhân là lượng tiền được sử dụng để tạo ra nhiều tiền hơn, tính toán bằng cách lấy tổng lượng tiền gửi ngân hàng chia cho tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Hiệu ứng số nhân phụ thuộc vào lượng dự trữ bắt buộc quy định từ đầu. Vì vậy để tính toán tác động của hiệu ứng này đối với lượng cung tiền, ta sẽ phải bắt đầu từ lượng tiền mà ngân hàng thu được từ các khoản tiền gửi tiết kiệm, chia con số này cho tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Giả sử rằng tỉ lệ dự trữ bắt buộc là 20%, với mỗi khoản gửi tiết kiệm ngân hàng sẽ phải giữ lại 20$. Tuy nhiên, phần 80$ còn lại có thể dùng để cho các khách hàng khác vay. Khoản 80$ này sau đó lại được các khách hàng này gửi tại một ngân hàng khác, tiếp tục được giữ lại 20%, tương đương 16$, khoản 64$ còn lại được ngân hàng này sử dụng để cho vay. Chu kì này cứ tiếp tục kéo dài, ngày càng có nhiều người gửi tiền vào ngân hàng và các ngân hàng cứ tiếp tục cho vay. Cuối cùng khoản tiền gửi 100$ đã được tăng thành $500 ($100/0.2), đây chính là hiệu ứng số nhân. Khi mức dự trữ bắt buộc càng cao, nguồn cung tiền càng được quản lý chặt chẽ. Điều này sẽ làm giảm quy mô của hiệu ứng số nhân trên mỗi đồng tiền gửi. Ngược lại, nếu dự trữ bắt buộc càng thấp thì lượng cung tiền càng lớn, do đó lượng tiền được tạo ra trên mỗi đồng tiền gửi sẽ nhiều hơn, làm tăng mức độ ảnh hưởng của hiệu ứng số nhân.

Multiplier - Accelerator Interaction / Tác Động Qua Lại Giữa Số Nhân - Gia Tốc

Một phương pháp dùng để giải thích những biến động trong mức độ phát triển của hoạt động kinh tế - CHU KỲ KINH DOANH - vốn phụ thuộc vào những tác động qua lại giữa SỐ NHÂN và GIA TỐC.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55