Market Research / Nghiên Cứu Thị Trường
Thu thập và phân tích có hệ thống dữ liệu liên quan đến bán và phân phối các sản phẩm và dịch vụ tài chính. Nghiên cứu thị trường là bước đầu tiên trong quá trình tiếp thị, và bao gồm phân tích nhu cầu thị trường đối với sản phẩm mới, hoặc các sản phẩm hiện tại, cũng như các phương pháp thích hợp để phân tích nhu cầu thị trường đối với sản phẩm mới, hoặc các sản phẩm hiện tại, cũng như các phương pháp thích hợp để phân phối những sản phẩm này. Các kỹ thuật trong nghiên cứu thị trường bao gồm bảo bỏ phiếu qua điện thoại, và những cuộc phỏng vấn nhóm tiêu điểm để xác định thái độ của khách hàng, mức độ nhạy về giá, và thái độ sẵn sàng sử dụng những phương án phân phối thay thế. Hầu hết những ngân hàng lớn đều có các phòng nghiên cứu thị trường, đánh giá không chỉ qua mạng lưới ngân hàng chi nhánh để bán hầu hết những sản phầm ngân hàng
Market Rate Of Interest / Lãi Suất Thị Trường
Lãi suất được xác định bởi cung và cầu vốn trong thị trường tiền tệ, như lãi suất các quỹ của Fed. Lãi suất thị trương tăng lên hoặc giảm xuống, phụ thuộc vào nhu cầu vốn, tình hình kinh tế và chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên Bang. Lãi suất mà ngân hàng đưa ra để thu hút tiền ký gởi, có thể bằng hoặc vượt lãi suất do đối thủ cạnh tranh đưa ra.
Market Capitalization / Số Vốn Hóa Thị Trường
Giá cổ phiếu hiện tại của một tổ chức được nhân với số cổ phiếu đang lưu hành với số cổ phiếu đang lưu hành. Khi thể hiện như tỉ số so với lợi nhuận, kết quả là Tỷ số giá/ lợi nhuận hoặc bội số của P/E.
Marital Deduction / Khấu Trừ Chiết Giảm Trong Hôn Phối
Một phần di sản có thể chuyển sang cho vợ/chồng còn sống mà không phải chịu thuế di sản liên bang. Có một số loại khấu trừ trong hôn phối: khấu trừ thuế thu nhập liên bang cho vợ/chồng không làm việc, khấu trừ thuế quà tặng liên bang đối với các chuyển giao khi còn sống, và thuế di sản liên bang cho những chuyển giao theo di chúc.
Maintenance Requirements / Yêu Cầu Duy Trì
Số dollar mà một ngân hàng hoặc một khách hàng môi giới phải duy trì như vốn bảo chứng trong tài khoản giao dịch. Khách hàng có thể vay trên cơ sở tổng giá trị chứng khoán trong tài khoản, nhưng có thể được yêu cầu bổ sung tiền bảo chứng, nếu giá trị tiền bảo chứng rơi xuống dưới mức quy định. Yêu cầu duy trì là sự kiểm soát tín dụng có chọn lọc bởi Úy ban Dự trữ Liên bang, và được thực hiện thông qua Quy định T và Quy định U của Dự trữ Liên bang. Nhìn chung, các mức tiền bảo chứng được thiết lập ở mức 50% giá trị thị trường, nhưng có thể tăng lên hoặc hạ xuống khi cần thiết.
Maintenance Margin / Phạm Vi Bảo Trì
1. Trong các hợp đồng kỳ hạn, tiền mà khách hàng phải giữ trong tài khoản bảo chứng khi một vị thế đang hiện diện. Số tiền thường thấp hơn số tiền bảo chứng được đưa ra. Giá trị của các vị thế được đối chiếu hàng ngày với thị trường. Nếu các khoản lỗ của vị thế vượt quá số bảo chứng duy trì, thì doanh nghiệp phát hành một yêu cầu bảo chứng đề nghị khách hàng thêm tiền bảo chứng bổ sung. 2. Trong chứng khoán, yêu cầu tiền bảo chứng mà một khách hàng môi giới phải duy trì mọi lúc trong tài khoản môi giới với số dư nợ. Quy định T của Dự trữ Liên bang, quy định đối với thương nhân – nhà môi giới yêu cầu ký thác ban đầu là $2000 trong tài khoản môi giới, và thiết lập yêu cầu bảo chứng (50% kể từ 1974) để trang trải việc bảo chứng trên tài khoản khách hàng.
Maintenance Fee / Phí Duy Trì
Phí định kì để duy trì một tài khoản, như phí thẻ tín dụng hàng năm hoặc phí dịch vụ tài khoản séc hàng tháng, để trang trải chi phí dịch vụ tài khoản và chuẩn bị báo cáo. Phí tài khoản séc có thể được bỏ qua nếu khách hàng duy trì số dư tối thiểu nào đó.
Magnetic Strip / Dải Có Từ Tính
Dải băng từ, gắn vào thẻ tín dụng ngân hàng và thẻ nợ, được mã hóa với thông tin nhận dạng chủ thẻ, như số tài khoản ban đầu và ngày thẻ hết hạn, cho phép xử lý tự động các giao dịch. Tiêu chuẩn ngành thẻ ngân hàng đổi với dải từ cho phép ba đường rãnh riêng biệt của dữ liệu mã hóa. Rãnh 1: được phát triển bởi Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế về tự động hóa dán nhãn trong ngành hàng không. Rãnh 2: phát triển bởi Hiệp hội Ngân hàng Mỹ về tự động hóa các giao dịch tài chính. Rãnh 3: phát triển bởi ngành tiết kiệm cho các cổng tài chính vận hành theo mode ngoại tuyến (off - line) (không kết nối với bộ xử lý của máy chủ) cho việc cấp phép giao dịch.
Magnetic Ink Character Recognition (MICR) / Nhận Dạng Ký Tự Mực Từ Tính
Ký tự kỹ thuật số trên mép dưới của tấm chi phiếu chữa mã số chuyển ABA của ngân hàng phát hành (nhận dạng ngân hàng) và ký hiệu tuyến chi phiếu (thẻ hiện sẵn có khả năng nguồn vốn). Khi chi phiếu được thanh toán qua hệ thống ngân hàng, thì số tiền đôla của chi phiếu được cộng vào dòng MICR có thể đọc bằng máy. Sự phát triển của MICR trong thập niên 1950 tạo thuận tiện lớn cho thanh toán chi phiếu, giúp các ngân hàng gần như tự động hóa việc xử lý hàng tỉ chi phiếu mỗi năm. Xem ENCODING.
Money Supply / Lượng Cung Tiền Tệ; (Mức) Cung Tiền Tệ; Phát Hành Tiền Tệ
Tổng lượng tiền dành cho các khoản giao dịch và đâu tư trong nền kinh tế. Ủy ban Dự trữ Liên bang sử dụng nhiều số đo thống kê khác nhau, để đo lường nhiều hình thức khác nhau của nguồn tiền cung ứng. Tổng lượng tiền của nguồn cung ứng tiền được cập nhật hàng tuần bởi Ủy ban Dự trữ Liên bang. Khi Fed theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộng, thì ngân hàng trung ương bổ sung các khoản dự trữ vào hệ thống ngân hàng, và có thể cho vay nhiều hơn. Điều này kích thích tăng trưởng nguồn cung tiền, bởi vì những người vay kinh doanh giữ một phần các khoản vay dưới hình thức ký gửi ngân hàng. Kể từ năm 1983, từ khi tổng lượng tiền được điều chỉnh lần cuối, cùng thì các thành phần của cung tiền như sau: M1: Tiền do công chúng giứ, cộng với chi phiếu vãng lai, tiền gửi không kỳ hạn, tài khoản Lệnh rút tiền khả nhượng (NOW), tài khoản Super NOW, tài khoản dịch vụ chuyển tiền tự động (ATS), và hối phiếu cổ phần của hiệp hội tín dụng. M2: M1 cộng với các khoản tiết kiệm và khoản tiền gửi kỳ hạn có mệnh giá nhỏ, tài khoản tiền gửi Thị trường Tiền tệ, cổ phần trong các quỹ Tương hỗ của thị trường tiền tệ được sở hữu bởi các nhà đầu tư cá nhân. M3: M2 cộng với tiền gửi kỳ hạn dài, thỏa thuận mua lại kỳ hạn mệnh giá lớn, cổ phần trong các quỹ hỗ tương của thị trường tiền tệ sở hữu bởi các nhà đầu tư định chế, và một số tiền gửi đo la Châu Âu. L: Tài khoản thanh toán dài hạn bao gồm M3 cộng với các khoản đầu tư phi ngân hàng vào các trái phiếu tiết kiệm Hoa Kỳ, chứng khoán Kho bạc ngắn hạn, thương phiếu và phiếu chấp nhận của ngân hàng.
Money Order (Money-Order) / Phiếu Chuyển Tiền; Thư Chuyển Tiền; Bưu Phiếu; Măng-Đa
Công cụ trao đổi được phát hành có tính phí, thường được sử dụng bởi những người không có tài khoản séc để thanh toán hóa đơn hoặc gửi tiền, cho ai đó ở một thành phố xa xôi. Lệnh chi tiền thường được phát hành bởi các bưu điện và định chế tài chính, thường với số tiền nhỏ hơn $500, và có tên người thanh toán và người được thanh toán. Những lệnh này được phát hành bởi một ngân hàng để rút tiền tại một ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng trung gian.
Money Multiplier / Số Nhân Tiền Tệ
Quan hệ giữa cơ sở riền tệ và cung tiền tệ. Số nhân tiền giải thích tại sao nguồn cung tiền thuộc khoản dự trữ vượt quá được bổ sung vào một hệ thống ngân hàng. Khi một ngân hàng cho vay thì nó tạo ra tiền, một vì một phần của khoản vay trở thành khoản tiền gửi. Về phương tiện thực tiễn, các ngân hàng đưa tiền vào lưu thông bằng cách gia hạn tín dụng. GIả sử ngân hàng cho vay $100,000 và dự trữ 10% hoặc $10,000 để đáp ứng Yêu cầu Dự trữ, kí gưi $90,000 trong ngân hàng của bên vay. Ngân hàng bên vay giành riêng một khoản $9,000, còn lại $81,000 để dành cho khoản vay và ký gửi khác. Nếu tiến hành sự mở rộng logic này thì một khoản vay gốc là $100,000 sẽ mở rộng thành hơn $500,000 trong tiền gửi và $400,000 trong các khoản vay mới. Xem FRACTIONAL RESERVES.
Money Market / Thị Trường Tiền Tệ; Thị Trường Tài Chính; Thị Trường Cho Vay Ngắn Hạn
Thị trường phát hành và giao dịch chứng khoán nợ ngắn hạn. Thị trường tiền tệ là một mạng lưới không chính thức các thương nhân và các nhà đầu tư định chế, thay vì là thị trường được tổ chức như Sở Giao dịch Chứng khoán New York. Một ngân hàng được bán các chứng chỉ tiền gửi, được tham gia các hoạt động của thị trường tiền tệ. Chứng khoán thị trường tiền tệ thường ngắn hạn, điển hình nhắn hơn 90 ngày, và là những khoản đầu tư có khả năng thanh khoản cao,được phát hành bởi các công ty có xếp hạng tín dụng tốt. Những người tham gia bao gồm những nhà giao dịch chứng khoán của chính phủ, các ngân hàng và những định chế tài chính khác, và những người quản lý các quỹ thị trường tiền tệ. Một phần quan trọng của thị trường tiền tệ toàn cầu là thị trường tiền tệ Châu Âu, một thị trường lớn không được điều tiết, các công cụ tài chính bằng các loại đồng tiền khác nhau được giao dịch sôi động bên ngoài quốc gia được xuất xứ. Xem MONEY MARKET INSTRUMENT.
Money Market Preferred / Cổ Phiếu Ưu Tiên Của Thị Trường Tiền Tệ
Loại cổ phiếu ưu đãi đối với hình thức chia cổ tức thả nổi. Cổ tức được thiết lập lại sau 49 ngày, khoản thời gian tối thiểu mà người sở hữu cổ phiếu, có quyền yêu cầu khoản miễn thuế cổ tức 70%- bởi các nhà đầu tư chào giá mua cổ phiếu với một tỉ lệ cổ tức nhất định. Các cổ phiếu ưu đãi của thị trường tiền tệ hàm ý bảo đảm rằng các cổ phiếu ưu đãi được giao dịch bằng hoặc gần với mệnh giá, nhưng được xem là thất bại nếu việc phát hành không thể thu hút được giá chào mua với tỉ lệ chia cổ tức mong muốn bởi người phát hành. Theo những quy tắc về vốn căn cứ rủi ro của các cơ quan điều tiết tài chính, thì cổ phiếu ưu đãi của thị trường tiền tệ không được tính như vốn cơ sở hoặc vốn Bậc 1 của ngân hàng. xem ADJUSTABLE RATE PREFERRED STOCK; TRUST PREFERRED STOCK.
Money Market Instruments / Các Công Cụ Của Thị Trường Tiền Tệ
Công cụ nợ được phát hành bởi các tổ chức tư nhân, chính phủ, và các cơ quan chính phủ, thường với kỳ đáo hạn một năm hoặc ngắn hơn. Những công cụ này là những khoản đầu tư có tính thanh khoản cao, bao gồm trái phiếu kho bạc, phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng, thương phiếu, chứng khoán đô thị miễn thuế ngắn hạn, và CD khả nhượng của ngân hàng. Công cụ thị trường tiền tệ được giao dịch sôi động chủ động trong những thị trường tài chính của trung tâm tiền tệ tại New York, London và Tokyo. Những hợp đồng tương lai trên trái phiếu kho bạc Mỹ, và một số công cụ thị trường tiền tệ khác cũng được giao dịch trên thị trường tài chính kỳ hạn.
Money Market Fund (MMF) / Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Của Thị Trường Tiền Tệ
Quỹ tương hỗ đầu tư vào các công cụ nợ ngắn hạn, như giấy chấp nhận thanh toán, trái phiếu kho bạc, thương phiếu và chúng chỉ tiền gửi khả nhượng. Hầu hết các quỹ đều đầu tư vào những chứng từ có chất lượng cao, mặc dù một số quỹ đã mua vào những chứng khoán có xếp hạng không đầu tư đem lại lợi suất tốt hơn. Những quỹ thị trường tiền tệ, được quản lý bởi những công ty đầu tư có đăng ký với Ủy ban giao dịch và Chứng khoán, thường mua chúng từ có giá với kỳ đáo hạn là 60 ngày hoặc ngắn hơn. Một quỹ bá cổ phần cho đầu tư nhận các khoản chi trả tiền lãi đều đặn. Số tiền lãi mà các nhà đầu tư thu được phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm mức lãi suất chung, chi phí quản lí, hoặc hoa hồng tính bởi người quản lý quỹ, và có thể có phí khi mua lại hoặc không. Cơ cấu phí trong quỹ hỗ tương của thị trường tiền tệ và đặc điểm đầu tư của danh mục đầu tư được nêu trong bản báo cáo bạch của quỹ. Xem MONEY MARKET DEPOSIT ACCOUNT.
Money Market Deposit Account (MMDA) / Tài Khoản Ký Thác Của Thị Trường Tiền Tệ
Tài khoản tiết kiệm với lãi suất cao được cấp phép bởi đạo luật các định chế ký thác Garn-ST GERMAN năm 1982, cho phép các định chế tài chính ký thác cạnh tranh hoàn toàn với các quỹ tương hỗ của thị trường tiền tệ, trong thu hút tiền gửi của ngân hàng. MMDA còn được gọi là các "tài khoản thị trường tiền tệ", trả lãi suất thị trường không có quy định giới hạn, miễn là số dư tài khoản trên $1,000. Khi số dư xuống thấp hơn $1,000 MMDA sẽ trả cùng lãi suất như tài khoản của lệnh rút tiền khả nhượng (NOW). Các ngân hàng và các định chế tiết kiệm có quyền yêu cầu thông báo rút tiền bảy ngày trước khi được chấp thuận chuyển khoản, nhưng hầu hết đã từ bỏ yêu cầu này. Do đó, các tài khoản của MMDA được xem như những tài sản thanh khoản, trả lãi suất cạnh tranh với các quỹ tương hỗ của thị trường tiền tệ, mặc dù lãi suất của mỗi ngân hàng sẽ thay đổi, phụ thuộc vào các định chế tài chính hoạt động cạnh tranh trong thị trường đã cho. Xem MONEY MARKET CERTIFICATE; MONEY MARKET FUND; SUPER NOW ACCOUNT.
Money Market Certificate (MMC) / Giấy Chứng Nhận Tiền Gửi Của Thị Trường Tiền Tệ
Chứng chỉ tiền gửi không thể chuyển nhượng, với mệnh giá tối thiểu từ $2,500 vào thời kỳ đáo hạn gốc ít nhất bảy ngày. Trước tháng giêng năm 1983, khi MMC không bị điều tiết, thì một chứng chỉ CĐ sáu tháng yêu cầu khoản ký gửi căn đầu là $10,000 để mở một tài khoản và trả lãi suất gắn với lợi suất trái phiếu sáu tháng Kho bạc Mỹ. Với sự bãi bỏ của quy định này, thì ngày đáo hạn và lãi suất trả cho những người ký gửi được thiết lập bởi chính sách của giới quản lý trong các định chế tài chính tư nhân, không phải theo quy định của chính phủ. Xem MONEY MARKET DEPOSIT ACCOUNT; NINETY-DAY SAVINGS ACCOUNT; PASSBOOK; STATEMENT SAVINGS ACCOUNT.
Money Laundering / Sự Rửa Tiền
Sự chập nhận các khoản ký gửi tiền mặt lớn từ các cá nhân và doanh nghiệp, khi tiền này bị nghi ngờ được sử dụng cho mục đích không rõ ràng. Theo bộ luật bảo mật tài chính ngân hàng, thì các định chế tài chính được yêu cầu báo cáo những khoản ký gửi tiền mặt từ $10,000 trở lên, và nhiều khoản ký gửi từ một khoản tiền ký gửi tổng cộng lên tới $10,000. Những giao dịch này được báo cáo cho Bộ Tài chính và Sở Bảo mật Hoa Kỳ. Đạo luật kiểm soát rửa tiền năm 1986 yêu cầu thêm rằng các ngân hàng và những định chế tài chính tiết kiệm có một hệ thống báo cáo để giám sát những giao dịch tiền mặt dưới $10,000. Theo quy định liên bang thì một vài giao dịch tiền mặt dưới $10,000 có thể được báo cáo trong một vài tiểu bang.
Money Center Bank / Ngân Hàng Trung Tâm Tiền Tệ; Ngân Hàng Lớn
Ngân hàng tọa lạc trong trung tâm tài chính lớn, tham gia vào các thị trường tiền tệ quốc gia và quốc tế. Ngân hàng tiền trung tâm cung ứng cho các ngân hàng khu vực và ngân hàng cộng đồng sự tiếp cận dịch vụ tín thác tổng thể, ngoại hối, dịch vụ ký gửi tiền, cũng như thanh toán chi phiếu thông qua mạng lưới ngân hàng trung gian. Các ngân hàng tiền trung tâm được tìm thấy chủ yếu tại New York, Chicago, San Francisco, và cũng hiện diện tại các trung tâm tài chính khác trên thế giới.





