Luxury Tax / Thuế Hàng Xa Xỉ
Tăng thuế cho ngân sách chính phủ có thể rất rắc rối ở các nước kém phát triển. Việc đánh thuế hàng xa xỉ có khi cũng bị từ bỏ vì sợ tham nhũng tràn lan. Một phương pháp hiệu quả là thông qua thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. Phần lớn các nước đang phát triển đều cố gắng đánh thuế vào hàng xa xỉ. Một số mặt hàng hóa và dịch vụ được coi là xa xỉ là: thuốc lá điếu, xì gà, ô tô, rượu, tàu bay, du thuyền, kinh doanh vũ trường, kinh doanh casino... Ví dụ, thuế nhập khẩu đối với ô tô ở Việt Nam hiện tại là trên 80%, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng này là từ 10% đến 60%, tùy vào chủng loại.
Luxury / Hàng Xa Xỉ (Cúng Coi Là Hàng Thượng Lưu)
Một thuật ngữ không được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học hiện đại, nhưng nếu có dùng thì để chỉ một hàng hoá có Độ co giãn cầu theo thu nhập lớn hơn 1, do đó khi thu nhập tăng thì hàng đó chiếm một tỷ lệ cao hơn trong thu nhập của người tiêu dùng.
Lus / Số Dư Tuyến Tính Vô Hướng Không Chệch
Tính từ dùng để mô tả các số dư tuyến tính (L), không chệch (U) và có ma trận hiệp phương sai chéo vô hướng (S).
Lucas Critique / Luận Điểm Phê Phán Của Lucas
Bài phê bình về việc sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá kết quả của các quyết định chính sách vì các tham số ước lượng ngầm bao hàm ảnh hưởng của chính sách.
Luận Điểm Về Tính Có Thể So Sánh / Luận Điểm Về Tính Có Thể So Sánh
Một sự tin tưởng rằng các cá nhân làm cùng công việc và sản xuất cùng lượng sản phẩm nên được trả cùng một mức lương.
L-Shaped Recovery / Mô Hình Phục Hồi Hình Chữ L
L-Shaped Recovery - một thuật ngữ dùng để chỉ mô hình suy thoái và khôi phục kinh tế có biểu đồ giống hình chữ L. Đặc biệt mô hình khôi phục hình chữ L có hình dáng biểu đồ có được từ những thước đo kinh tế như lao động, GDP và sản lượng công nghiệp. Trong mô hình khôi phục hình chữ L có sự giảm mạnh sau đó không tăng trưởng hoặc tăng trưởng rất trì trệ. Một ví dụ điển hình của mô hình này là suy thoái kinh tế Nhật Bản thời kỳ những năm 1990. Khi đó nền kinh tế Nhật không tăng trưởng trong một thập kỷ.
Loss Offsetting Provisions / Các Điều Khoản Bù Lỗ
Thường nói đến thoả thuận, theo đó các khoản lỗ của một dự án có thể được bù lại bởi thu nhập từ các nguồn khác.
Loss Leader Pricing / Bán Hạ Giá Trước
Khi các doanh nghiệp có hàng hoá đa dạng choà bán một phần trong loạt sản phẩm của họ ở mức giá thấp hơn chi phí, và tin rằng điều này sẽ thúc đảy việc tiêu thụ các sản phẩm có chênh lệch lợi nhuân cao hơn.
Loss Given Default - LGD / Thiệt Hại LGD
Đây là số thiệt hại về vốn mà một ngân hàng hay các tổ chức tài chính phải gánh chịu khi những người vay từ họ mất khả năng thanh toán nợ. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số cách thức để tính toán được các khoản thiệt hại này, nhưng một trong những phương pháp tính toán được sử dụng nhiều nhất đó là phương pháp có so sánh giữa khoản thiệt hại thực tế và các khoản thiệt hại có thể phải gánh chịu vào thời điểm khách hàng mất khả năng thanh toán_phương pháp Gross LGD. Một phương pháp khác là tính toán dựa trên tỉ lệ thiệt hại chia phần vốn cho vay không có tài sản đảm bảo. Phương pháp này có tên gọi Blankco' LGD. Phương pháp Gross LGD được sử dung phổ biến bởi nó tương đối đơn giản, dễ sử dụng và các nhà nghiên cứu chỉ cần thu thập các số liệu trên thị trường trái phiếu, nơi mà giá trị của các tài sản đảm bảo là không rõ ràng, không thể tính toán được hoặc thậm chí là không hợp lý. Blankco' LGD trái lại, được một số ngân hàng (những người ưa thích thực tế hơn và cần những phân tích thực tế ) ưa thích hơn bởi họ có trong tay rất nhiều tài sản đảm bảo do đó họ muốn có sự tách bạch giữa các khoản thiệt hại trên lượng tín dụng có đảm bảo và thiệt hại trên lượng tín dụng không được đảm bảo. Blaknco' LGD được tính toán dựa trên mô hình Basel II nhưng cách tính toán tương đối phức tạp vì thế hiện nay nhiều ngân hàng vẫn chưa thể sử dụng cách tính này. Điều tất nhiên là các ngân hàng hay các định chế tài chính sẽ không chỉ đơn thuần là tính toán LGD đối với một khoản tín dụng duy nhất, thay vào đó, họ sẽ xem xét toàn bộ danh mục đầu tư của mình và tính toán LGD dựa trên các khoản thiệt hại tích lũy hay các khoản nợ khó đòi. Thông thường, các ngân hàng hay định chế tài chính sẽ tính toán thiệt hại từ hoạt động cấp tín dụng thông qua số vốn thực tế khách hàng đã vay mà không thanh toán được (actual loan defaults) tức là dựa trên các khoản lỗ thực tế. Mặc dù việc tính toán, lượng hóa các khoản thua lỗ nhìn chung là đơn giản, song trong một số trường hợp, việc tính toán này có thể gặp nhiều khó khăn chịu tác động của nhiều biến số. Ví dụ Nếu ngân hàng X cho công ty ABC vay 1 triệu đôla, sau đó công ty này bị phá sản và mất khả năng thanh toán. Thiệt hại của ngân hàng đối với khoản cho vay 1 triệu đôla không nhất thiết phải là 1 triệu đôla bới khi cho vay ngân hàng có thể yêu cầu công ty ABC có các tài sản thế chấp, do đó nếu cần thiết họ có thể yêu cầu tòa án tiến hành thanh lý tài sản này để thu hồi nợ. Có nhiều yếu tố tác động có thể khiến cho thiệt hại của ngân hàng thấp hơn nhiều so với con số 1 triệu đôla nói trên, và quá trình phân tích các biến số tác động tới các khoản cho vay trong danh mục đầu tư của ngân hàng cũng chính là quá trình tính toán xác định LGD của ngân hàng.
Loss Function / Hàm Thua Lỗ
Một hàm phi thoả dụng mà một nhà lập chính sách muốn tối thiểu hoá.
Loss Aversion / Sự Không Thích Mất Mát
Một giả thiết cho rằng ĐỘ PHI THOẢ DỤNG do bị mất một hàng hoá nhiều hơn so với độ thoả dụng của hàng hoá ấy.
Loss / Lỗ
Trong tài chính, lỗ là khi chi phí vượt quá bán hàng hoặc doanh thu, ví dụ hàng hóa hoặc dịch vụ được bán với giá thấp hơn chi phí của họ.
Long-Term Investments / Các Khoản Đầu Tư Dài Hạn
Các khoản đầu tư dài hạn là một tài khoản nằm bên phần tài sản trên bảng cân đối kế toáncủa một công ty, nó thể các khoản đầu tư mà một công ty có ý định thực hiện trong khoảng thời gian từ hơn 1 năm trở lên. Chúng có thể bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản và tiền mặt. Điểm khác nhau cơ bản giữa tài khoản các khoản đầu tư dài hạn với tài khoản các khoản đầu tư ngắn hạn là các khoản đầu tư ngắn hạn có thể dễ dàng được bán đi trong khi các khoản đầu tư dài hạn thì không thể. Dạng thường thấy nhất của việc đầu tư dài hạn đó là khi công ty A đầu tư một phần khá lớn vào công ty B và nắm giữ vị một vị thế ảnh hưởng quan trọng trong công ty B nhưng không sở hữu nhiều cổ phần có quyền biểu quyết. Trong trường hợp này, giá mua có thể được thể hiện như một khoản đầu tư dài hạn.
Long-Term Equity Anticipation Securities / LEAPS
Là các hợp đồng quyền chọn được giao dịch rộng rãi, có ngày hết hạn dài trên 1 năm. Xét về mặt cấu trúc, LEAPS không khác gì so với hợp đồng quyền chọn ngắn hạn, nhưng ngày đáo hạn dài hơn tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư có hội tiếp xúc nhiều hơn với những thay đổi về giá trong thời gian dài mà không cần phải kết hợp với việc sử dụng các hợp đồng quyền chọn có thời hạn ngắn hơn. Tiền lãi của LEAPS cao hơn so với các hợp đồng quyền chọn mua bán cùng một loại cổ phần bởi gì ngày đáo hạn dài hơn tạo ra cho tài sản cơ sở nhiều thời gian hơn để đạt được những thay đổi về giá có ý nghĩa và tạo cho các nhà đầu tư nhiều lợi nhuận hơn. LEAPS là một cách rất hay đối với các nhà kinh doanh dài hạn để đạt được lợi thế với xu hướng thay đổi của một chứng khoán xác định mà không phải kết hợp thêm một số các hợp đồng ngắn hạn khác. Khả năng mua được một hợp đồng quyền chọn bán/ mua mà hết hạn sau 1 đến 2 năm là rất hấp dẫn bởi vì nó tạo cho người giữ hợp đồng lợi thế nhiều hơn đối với những thay đổi về giá trong dài hạn mà không cần phải đầu tư một lượng tiền lớn, mà nếu mua tài sản cơ sở thì phải đầu tư khoản tiền đó ngay lập tức. Những hợp đồng quyền chọn dài hạn này có thể là các cổ phần riêng biệt, và cũng có thể là các chỉ số cổ phiếu (ví dụ S&P 500).
Long-Term Debt To Equity Ratio / Tỷ Lệ Nợ Dài Hạn Trên Vốn Chủ Sở Hữu
Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu so sánh tương quan giữa nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ này được được tính bằng cách chia nợ dài hạn cho vốn chủ sở hữu: Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu = Nợ dài hạn / Vốn chủ sở hữu Trong đó nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu được lấy từ báo cáo tài chính kỳ gần nhất (quý gần nhất hoặc năm gần nhất). Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu cũng tương tự như tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến nợ dài hạn, là những khoản nợ chưa phải trả trong năm tới. Mục đích của việc sử dụng tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu là để thấy được mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên (qua đó thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu) qua việc loại bỏ các khoản nợ ngắn hạn (tín dụng thương mại phi lãi suất và những khoản phải trả ngắn hạn).
Long-Haul Economies / Tính Kinh Tế Theo Quãng Đường
Xu hướng chi phí vận tải tăng ít hơn về tỷ lệ so với quãng đường chuyên chở.
Tính Kinh Tế Theo Quãng Đường (Long-Haul Economies) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Tính Kinh Tế Theo Quãng Đường (Long-Haul Economies) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Long-Dated Securities / Các Chứng Khoán Dài Hạn
Các chứng khoán ở dạng nợ chứ không phải dạng cổ phần - ví dụ như chứng khoán viền vàng hay trái khán công ty - có ngày đáo hạn dài, thường là hơn 10 năm.
Long / Short Equity - Equity Hedge / Chiến Lược Mua/Bán Khống Tài Sản Hay Chiến Lược Phòng Vệ Tài Sản
Chiến lược mua/bán khống tài sản là một chiến lược đầu tư thường được áp dụng bởi các quỹ thanh khoản linh hoạt. Cách thức cơ bản của chiến lược này là mua vào các các tài sản có khả năng tăng trưởng giá trị và bán khống các tài sản được kỳ vọng là sẽ giảm giá trị.Ví dụ:Một hedge fund có thể đồng thời bán khống cổ phiếu của một công ty hoạt động trong ngành sản xuất xe hơi và mua vào cổ phiếu của một công ty khác cũng hoạt động trong ngành này. Chẳng hạn bán khống 1 tỷ VNĐ Vinaxuki và mua vào 1 tỷ VNĐ cổ phiếu Trường Hải. Với vị thế sau khi thực hiện giao dịch, bất kỳ sự kiện nào gây giảm giá với các cổ phiếu ngành sản xuất xe hơi sẽ đều đem lại lợi nhuận với lượng đầu tư vào Vinaxuki và lượng lỗ tương ứng với cổ phiếu Trường Hải. Tình trạng tương tự cũng xảy ra khi có sự kiện làm tăng giá đồng loạt các cổ phiếu trong ngành xe hơi, vị thế của quỹ sẽ không bị thay đổi nhiều.Giả sử quỹ đó đã bán cổ phiếu của Vinaxuki và mua vào cổ phiếu Trường Hải với dự báo của ban quản lý quỹ là Trường Hải sẽ có hiệu quả vận hành tốt. Nếu dự báo này là đúng, quỹ sẽ thu được lợi nhuận mà không chịu nhiều ảnh hưởng từ thị trường và biến động ngành.
Long The Basis / Kĩ Thuật Trường Vị Phái Sinh Hàng Hóa
Một cá nhân hoặc một doanh nghiệp có thể sở hữu hoặc mua một loại hàng hóa nào đó ví dụ như dầu, vàng hoặc gỗ và sau đó phòng ngừa rủi ro vị thế của nó bằng việc bán các hợp đồng giao sau dựa trên tài sản cơ sở là hàng hóa họ sở hữu. Điều này tạo cho người nắm giữ hàng hóa một mức giá đảm bảo mà họ có thể bán hàng hóa của mình nếu trường hợp giá thị trường di chuyển ngược lại với vị thế cơ sở của chúng. Theo định nghĩa này, các công ty khai mỏ vàng duy trì một vị thế quan trọng trong kim loại quý. Tuy nhiên, bởi vì giá của vàng rất nhạy cảm với các áp lực thị trường và có thể dao động theo biên độ rất rộng tại mọi thời điểm, công ty có thể chọn để phòng ngừa vị thế của mình( qua việc bán các hợp đồng giao sau) và do đó sẽ chốt được vùng giá trị được đảm bảo. Một cá nhân hoặc một công ty thực hiện điều này( họ sở hữu hàng hóa thực sự và phòng ngừa vị thế của mình) được gọi là “ long the basis”.
Long Term Liability / Equity / Tỷ Lệ Nợ Dài Hạn Trên Vốn Chủ Sở Hữu
Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu so sánh tương quan giữa nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu.





