Legal Lending Limit / Giới Hạn Cho Vay Pháp Lý
Số tiền tối đa mà một ngân hàng có thể cho vay đối với một cá nhân riêng lẻ. Các ngân hàng quốc gia bị giới hạn ở mức 15% vốn và dự trữ đối với những khoản cho vay không bảo hiểm (25% vốn nếu được bảo hiểm toàn bộ); các tổng công ty ngân hàng có thể cho một công ty ngân hàng liên kết vay đến 10% vốn và vốn thặng dư của công ty liên kết, hoặc lên đến 20% vốn của tất cả công ty liên kết được sở hữu bởi cùng tổng công ty. Trong Bộ Luật Cải cách, Khôi phục và Thực thi Định chế Tài chính năm 1989, thì những khoản tiết kiệm và các khoản vay được yêu cầu tuân thủ cùng giới hạn cho vay như các ngân hàng quốc gia đối với bên vay riêng lẻ.
Lead Bank / Ngân Hàng Dẫn Đầu
1. Ngân hàng thỏa thuận hình thành một Tập đoàn cho vay mà một số ngân hàng mua phần tham gia. Ngân hàng dẫn đầu thu phí quản lý từ việc hình thành tập đoàn và sắp xếp các kỳ hạn tài trợ. Trong thị trường trái phiếu châu Âu, ngân hàng hoạt động như một đại diện cho các thành viên của tập đoàn bảo lãnh. 2. Ngân hàng đầu tư quản lý việc bảo lãnh phát hành chứng khoán. Cũng được gọi là nhà quản lý dẫn đầu hoặc giám đốc điều hành bảo lãnh. 3. Ngân hàng nắm giữ khoản ký gởi ban đầu hoặc quan hệ cho vay với một tổ chức, thường là một công ty với hợp đồng dịch vụ nhiều ngân hàng về nhu cầu quản lý tín dụng và tiền mặt. Xem CONCENTRATION BANK.
Land Flip / Lừa Đảo Đất Đai
Loại lừa đảo bất động sản mà tài sản chưa hoàn chỉnh được bán từ chủ sở hữu này sang chủ sỡ hữu khác, thường ở mức giá cao hơn giá thị trường. Những định chế tài chính dành các khoản vay bất động sản cho những người phát triển đất đai, để có vị thế sở hữu thông qua đầu tư trực tiếp, hoặc phải chịu rủi ro thua lỗ nếu bất động sản bảo đảm cho khoản vay bị giảm giá trị.
Lagged Reserves / Dự Trữ Có Độ Trễ
Hệ thống hạch toán Dự trữ, theo đó các định chế ký thác duy trì số dư tài khoản dự trữ với Ngân hàng Dự trữ Liên Bang, đối với tài khoản séc, và những khoản ký gởi tài khoản giao dịch khác tiến hành hai tuần trước đó. Dự trữ Liên bang sử dụng phương pháp này để tính toán các khoản dự trữ từ cuối thập niên 1960 đến 1984, sau đó chuyển sang hệ thống báo cáo dự trữ đồng thời. Vào tháng Bảy năm 1998, Ủy ban Dự trữ Liên bang thay đổi dạng thức báo cáo số dư dự trữ trở về hạch toán dự trữ có độ trễ (lagged), có nghĩa là cải tiến độ chính xác số liệu được các định chế tài chính báo cáo. Các ngân hàng báo cáo số dư khoản dự trữ hàng tuần - một nhóm bao gồm hầu hết ngoại trừ những ngân hàng nhỏ nhất - tính toán yêu cầu dự trữ dựa vào số dư tài khoản 30 ngày trước đó.
Laddered Portfolio / Danh Mục Đầu Tư Bậc Thang
Danh mục đầu tư trái phiếu có số tiền của mỗi chứng khoán ngang nhau trong mỗi phạm vi đáo hạn, thí dụ như kỳ hạn 10 năm. Khi lãi suất tăng lên, thì tài sản có thể được chuyển vào những kỳ đáo hạn dài hơn. Những nhà giao dịch ngoại hối và thị trường tiền tệ cũng có thể sử dụng danh mục đầu tư bậc thang với danh sách những kỳ hạn, theo ngày hoặc tháng, của những hợp đồng hiện hành, để họ có thể dễ dàng kiểm soát độ lệch về kỳ đáo hạn, hoặc sự không tương xứng giữa các tài sản thuộc danh mục đầu tư khác nhau. Trái với "Barbell Portfolio".
L
Số đo tài sản có tính thanh khoản tiền mặt, được Ủy ban Dự trữ Liên bang xuất bản hàng tháng, bao gồm tổng tiền tệ M3, đồng dollar Châu Âu (Eurodollar) do công dân Mỹ sở hữu, hối phiếu thương mại, trái phiếu tiết kiệm và chứng khoán Kho bạc khả nhượng, và những khoản nợ của cơ quan liên bang. Chỉ số này được soạn ra vì mục đích thông tin, và nó không được Fed quản lý tích cực, bởi vì các thành phần của nó ít bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của Ủy ban Thị trường mở của Fed so với những khoản ký gởi trong các định chế tài chính.
Long Term Debt / Nợ Dài Hạn
Thường đề cập đến khoản nợ đáo hạn trong năm năm hoặc lâu hơn. Ví dụ, cầm cố nhà ở hoặc khoản vay vốn mua nhà có kỳ hạn cố định.
Long-Term / Dài Hạn
1. Khoản vay có kỳ đáo hạn gốc dài hơn 10 năm, ví dụ, khoản vay thế chấp điển hình 30 năm. 2. Những nghĩa vụ, như trái phiếu, sẽ không phải trả trong một năm hoặc lâu hơn. 3. Thời gian lưu giữ (ít nhất một năm) để sở hữu chứng khoán có đủ điều kiện, theo những quy định của Cục thuế thu nhập nội địa, để xử lý như khoản lãi (hay lỗ) vốn dài hạn. Tỉ suất trên những khoản lợi nhuận dài hạn tương tự thuế suất trên các khoản lợi nhuận ngắn hạn.
Long Position / Vị Thế Dài Hạn
Tiền tệ, chứng khoán, hoặc công cụ tài chính sở hữu trực tiếp bởi một thương nhân, thể hiện vị thế tài sản ròng. Một thương nhân giữ 5 triệu đôla sẽ nói “Tôi có vị thế dài hạn bằng đồng đôla”. Ngược lại là vị thế ngắn hạn, hoặc thâm hụt ròng. Trong hợp đồng tài chính kỳ hạn, thuật ngữ này đề cập đến vị thế thị trường của thương nhân khi mua một hợp đồng kỳ hạn, mà không đóng vị thế bằng cách thực hiện việc mua bán bù trừ. Trong hợp đồng quyền chọn, là quyền chọn mua, mà không được thực hiện hoặc cho phép hết hạn. Chứng khoán được nắm giữ bởi một thương nhân – nhà môi giới, đối với khách hàng hoặc tài khoản giao dịch riêng.
Long Bond / Trái Phiếu Dài Hạn
Là điểm chuẩn để các trái phiếu khác so sánh, ví dụ tín phiếu Kho bạc Mỹ 10 năm hoặc Trái phiếu Kho bạc Mỹ 30 năm; ngoài ra, bất kỳ trái phiếu được giao dịch rộng rãi với thời kỳ đáo hạn hiện tại (thời gian hiện tại đến kỳ đáo hạn) 10 năm hoặc lâu hơn.
London, Antwerp, Harve, Rouen / Bốn Thành Phố Cảng Giao Dịch Mễ Cốc Lớn Nhất Trên Thế Giới
Bốn thành phố cảng giao dịch mễ cốc lớn nhất trên thế giới
London Interbank Offered Rate / Lãi Suất Cho Vay Giữa Các Ngân Hàng Luân-Đôn; Lãi Suất Ưu Đãi Liên Ngân Hàng Luân-Đôn; Lãi Suất Libor
Điểm ở giữa lãi suất chào vay ngân hàng London (LIBID) và lãi suất cho vay liên ngân hàng London (LIBOR) trong thị trường đồng tiên châu Âu (Euro currrency).
London Interbank Bid Rate / Lãi Suất Cho Vay Liên Ngân Hàng Luân-Đôn
Lãi suất then chốt trong cho vay của ngân hàng quốc tế LIBOR là lãi suất mà những ngân hàng lớn tại London sẵn sàng cho vay lẫn nhau đồng Eurodollar. Nó được sử dụng để xác định lãi suất tính cho những người vay có uy tín về tín dụng. Lãi suất LIBOR, dựa vào giá niêm yết hàng ngày lúc 11 giờ sáng (giờ London) từ năm ngân hàng lớn của London, là lãi suất cố định niêm yết cho các kỳ đáo hạn cụ thể. Lãi suất cho vay trong thị trường châu Âu (LIBOR) và lãi suất vay (LIBID), được niêm yết theo đồng dollar Mỹ và đồng tiền châu Âu khác, thường là cho các khoản vay có kỳ hạn cố định. Lãi suất thực sự có thể biến đổi bởi vì các ngân hàng tham chiếu khác nhau được sự dụng. Các công cụ tín dụng Âu châu tổ hợp, như công cụ bảo lãnh tuần hoàn (RUF) được bảo lãnh bởi một số ngân hàng châu Âu, được yết giá với khoảng chênh lệch so LIBOR.
Lombard Rate / Lãi Suất Lombard
Lãi suất được các ngân hàng tại Đức quy định cho các khoản vay ngắn hạn được thế chấp bằng chứng khoán. Thuật ngữ này đề cập chính thức đến lãi suất cho vay ngân hàng trung ương Đức. Thường quy định lãi suất Lombard 0.05% trên suất chiết khấu. Nó được sử dụng không chính thức bởi các ngân hàng châu Âu, khi đề cập đến các khoản vay được bảo lãnh bằng thế chấp chứng khoán.
Lockout / Sự Đình Công Bế Xưởng; Cuộc Đình Công Của Chủ Nhân
SỰ đình công bế xưởng; cuộc đình công của chủ nhân
Lump Sum Distribution / Phân Phát Trọn Gói
Chi trả một lần cho một người hưởng thụ tài khoản, ví dụ, người thụ hưởng tài khoản hưu trí, khác với thanh toán theo lịch biểu các khoản thời gian đều đặn. Chủ tài khoản hưu trí cá nhân, có thể tái đầu tư tài khoản của tài khoản vào một tài khoản tái tục, hoặc khoản thu có thể được công nhận như thu nhập thông thường, và đánh thuế với thuế suất trung bình trên thời kỳ 10 năm
Lump Sum / Số Tiền Tính Gộp Cả Lãi
Còn có nghĩa giá bao khoán; tổng giá tiền; khoản tiền trả chung một lần; trọn số tiền; tổng mức vận phí.
Local Board / Hội Đồng Quản Trị Địa Phương (Dưới Quyền Tổng Công Ty)
Hội đồng quản trị địa phương (dưới quyền tổng công ty)
Loan Society / Hợp Tác Xã Tín Dụng; Hội Cho Vay Hỗ Trợ; Hội Chơi Hụi
Hợp tác xã tín dụng; hội cho vay hỗ trợ; hội chơi hụi
Loan Shark / Người Cho Vay Nặng Lãi
Bên cho vay, không phải là các định chế tài chính được quy định thực hiện kinh doanh cho vay tiền với lãi suất cao hơn lãi suất được pháp luật cho phép. Ví dụ, khoản vay $5 phải trả lại $6 vào ngày thứ hai - lãi suất phần trăm hàng năm là 1040%, không ghép lãi. Cho vay nặng lãi là hoạt động phổ biến trong thế kỷ 19, dẫn đến việc hình thành các hiệp hội tín dụng, để thỏa thuận các khoản vay nhỏ với lãi suất hợp lý. Luật tiểu bang thường cấm cho vay nặng lãi, mặc dù luật tiểu bang khác nhau về lãi suất nào được coi là quá.





