Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Lessor / Người Cho Thuê Tài Sản

Là người cho người khác thuê tài sản của mình thông qua hợp đồng thuê tài sản.

Lessee / Người Thuê Tài Sản

Người thuê tài sản là người đi thuê tài sản trong hợp đồng thuê tài sản.

Lerner, Abba P. / 1903-1983

Sinh ra ở Nga và học ở Anh, sự nghiệp nghiên cứu của ông diễn ra ở một số trường đại học ở Mỹ. Tác phẩm ban đầu của ông bao gồm việc miêu tả bằng đồ thị và mở rộng thuyết giá trị của Marshall để bao gồm những nghiên cứu về cạnh tranh không hoàn hảo của Joan ROBINSON và CHAMBERLIN. Tác phẩm này tập trung vào việc tìm kiếm một khái niệm đầy đủ về quyền lực độc quyền và bảo vệ chủ nghĩa bình quân bằng cách sử dụng quy luật lợi tức biên giảm dần. Tác phẩm chính của ông là Kinh tế học kiểm soát (1944) sử dụng nhiều những phân tích của Marshall để tạo ra một tình huống ủng hộ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THỊ TRƯỜNG. Ông cũng đưa ra những điều kiện mà theo đó một sự thay đổi về tỷ giá hối đoái của một quốc gia sẽ cải thiện được cán cân thương mại của nó. Điều kiện này thường được gọi là ĐIỀU KIỆN MARSHALL - LERNER. Ngoài ra, Lerner còn là người ủng hộ và bảo vệ kinh tế học KEYNES.

Lerner Index / Chỉ Số Lerner

Lerner index là một chỉ số về quyền lực độc quyền, được định nghĩa bằng: (Giá bán - Chi phí biên)/Giá bán Khi cạnh tranh hoàn hảo tồn tại thì giá bán bằng chi phí biên, do vậy chỉ số này sẽ có giá trị bằng 0. Khi giá cả lớn hơn chi phí biên thì chỉ số Lerner sẽ lớn hơn 0 và ở trong khoảng giữa 0 và 1. Chỉ số càng gần 1 thì quyền lực độc quyền của công ty càng cao. Nên ghi nhận rằng chỉ số chỉ đo lường sự hoạt động thực sự và không đo lường tiềm năng trong hành vi độc quyền của doanh nghiệp.

Lerner Case / Tình Huống Lerner

Tình huống do Lerner phân tích trong thuyết về thuế quan trong đó việc áp dụng một loại thuế quan vào một mặt hàng nhập khẩu có nhu cầu trong nước không co giãn theo giá thì kết quả sẽ dẫn tới cán cân thương mại tồi tệ hơn vì cầu đối với sản phẩm đó tăng lên.

Leontief, Wassily W. / (1906-)

Sinh ra ở Liên Xô, Leontief trở thành giáo sư kinh tế tại Harvard năm 1946. Tác phẩm chính của ông là một bài phân tích về phụ thuộc lẫn nhau bên trong một nền kinh tế, và đặc biệt là bên trong khu vực sản xuất, sử dụng một kỹ thuật mà ông ta gọi là phân tích đầu ra - đầu vào. Trong các tác phẩm như Các nghiên cứu về cơ cấu kinh tế Mỹ (1953) và Kinh tế học đầu vào - đầu ra (1966), ông mở rộng mô hình tác động qua lại của QUESNAY và củănhngx người kác thành một mô hình toán cao cấp cho thấy mối quan hệ giữa các thành phần của một hệ thống kinh tế. Leontief đã áp dụng kỹ thuật đó vào nền kinh tế Mỹ, và đã tạo ra các kết qủa lý thú trong lĩnh vực thương mại quốc tế và kinh tế tài nguyên thiên nhiên. Kỹ thuật đó đã trở thành cơ sở của kế hoạch hoá trong nhiều nền kinh tế phi thị trường. Leontief được tặng giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1973.

Leontief Paradox / Nghịch Lý Leontief

Xem HECKSCHER - OHLIN APPROACH TO INTERNATIONAL TRADE.

Lender Of Last Resort / Người Cho Vay Cứu Cánh Cuối Cùng

Một trong những chức năng, và là một trong những lý do tồn tại của một NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG HIỆN ĐẠI.

Lender Of Last Resort / Người Cho Vay Cuối Cùng

Người cho vay cuối cùng là một tổ chức, thường là ngân hàng trung ương của một nước, cho các ngân hàng hoặc các tổ chức đủ điều kiện khác vay khi họ đang gặp khó khăn về tài chính hoặc gặp rủi ro lớn hoặc sắp phá sản. Ở Mỹ, Cục dự trữ liên bang hoạt động với chức năng là người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức không còn một phương pháp vay nợ nào khác và thất bại trong việc cho vay của các tổ chức này sẽ ảnh hưởng ngay lập tức đến sức khỏe của nền kinh tế. Chức năng của ngân hàng cho vay cuối cùng nhằm thực hiện cả 2 nhiệm vụ, thứ nhất bảo vệ những người có các quỹ kí gửi, và ngăn chặn hành động rút vốn hoảng hốt khỏi các ngân hàng đang tạm thời gặp khó khăn về tính thanh khoản. Các ngân hàng thương mại thường cố gắng để không vay mượn từ ngân hàng cho vay cuối cùng bởi vì hành động này chứng tỏ ngân hàng đang gặp phải khủng hoảng tài chính.

Legal Tender, Forced Tender / Tiền Pháp Định

Tiền pháp định là công cụ thanh toán mà, theo luật pháp qui định, không thể bị từ chối khi được sử dụng để thanh toán các khoản nợ được ghi nợ theo cùng đơn vị tiền tệ đó. Tiền pháp định là vị thế pháp lý được gán cho một số loại tiền nhất định, tùy thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố mệnh giá, số lượng tiền. Thuật ngữ tiền pháp định bản thân nó không có nghĩa là tiền. Do việc định nghĩa khác nhau trong các luật cho nên, khái niệm tiền pháp định rất hay bị hiểu nhầm. Séc, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các phương tiện thanh toán phi tiền mặt tương tự nhìn chung không được coi là tiền pháp định. Chỉ có một số loại tiền xu và tiền giấy nhất định thường được coi là tiền pháp định. Theo qui định pháp lý của một số nước, người ta cấm hoặc hạn chế việc thanh toán bằng bất kỳ phương tiện thanh toán nào khác ngoài tiền pháp định. Ví dụ, luật của một nước nào đó có thể sẽ coi việc sử dụng tiền xu và giấy bạcngân hàng của nước khác là bất hợp pháp và qui định các giao dịch tài chính bằng ngoại tệ muốn thực hiện phải có giấy phép. Trong một số hệ thống luật pháp, tiền pháp định có thể không được chấp nhận làm công cụ thanh toán nếu như không có nghĩa vụ nợ nần nào tồn tại trước thời điểm thanh toán. Kết quả là, những nhân viên các hãng vận tải hành khách hoặc các máy bán hàng tự động có thể từ chối những tờ tiền giấy có mệnh giá quá lớn dùng để trả tiền vé xe hoặc để mua một thanh kẹo chocolate, thậm chí những người bán hàng cũng có thể không nhận tiền giấy mệnh giá lớn. Tuy nhiên, các nhà hàng không thu tiền trước khi kết thúc bữa ăn sẽ phải chấp nhận loại tiền pháp định này đối với việc thanh toán cho nghĩa vụ nợ phát sinh sau khi khách hàng thanh toán sau bữa ăn. Tiền pháp định theo qui định của một số nước trên thế giới: Ở Mỹ: tiền xu và tiền giấy (bao gồm tiền giấy của Cục dự trữ liên bang và giấy bạc lưu thông của Ngân hàng dự trữ liên bang và các ngân hàng quốc gia), là tiền pháp định đối với mọi nghĩa vụ nợ nần, các khoản đóng góp công cộng, thuế và phí. Tiền xu bằng vàng, bạc của nước ngoài không được coi là tiền pháp định với các nghĩa vụ nợ  nần. Không có một qui định liên bang nào khác cấm các công ty tư nhân, các cá nhân hay các tổ chức từ chối hoặc chấp nhận một phương thức thanh toán khác. Ví dụ, các đối tượng nói trên hoàn toàn được tự do trong việc chấp nhận các thanh toán bằng thẻ tín dụng, hoặc từ chối nhận giấy bạc ngân hàng có mệnh giá lớn. Một số cửa hàng nhỏ ở Mỹ có chính sách không chấp nhận tiền giấy mệnh giá lớn (thông thường là trên $20) vào một thời điểm nào đó hoặc trong suốt cả ngày, việc này cho phép họ giữ một số lượng tiền không quá lớn trong quỹ và giảm được nguy cơ bị cướp, đồng thời chịu rủi ro không lớn lắm đối với việc nhận phải tiền giả. Ở Vương quốc Anh, chỉ tiền xu mệnh giá 1 Bảng và 2 Bảng được coi là tiền pháp định với số lượng không hạn chế trên khắp lãnh thổ Vương quốc Anh. Tiền giấy không được cơ quan lập pháp của Anh coi là tiền pháp định trên toàn Vương quốc Anh. Hiện nay, các đồng xu 20 xu và 50 xu được coi là tiền pháp định với số lượng không quá 10 Bảng Anh, đồng xu 10 xu và 5 xu với số lượng không quá 5 Bảng, đồng xu 1 xu và 2 xu với số lượng không quá 20 xu. Ở Thụy Sĩ và Liechtenstein, đồng Franc Thụy Sĩ là loại tiền pháp định duy nhất. Các khoản thanh toán bao gồm tối đa 100 đồng xu Thụy Sĩ được coi là tiền pháp định, còn giấy bạc ngân hàng là tiền pháp định với số lượng không hạn chế. Trong khu vực châu Âu, đồng xu và giấy bạc Euro trở thành tiền pháp định ở hầu hết các quốc gia của khu vực này từ 1.1.2002. Nhìn chung các nước bao giờ cũng qui định rõ loại tiền, mệnh giá, và tổng số tiền thanh toán tối đa để khoản thanh toán ấy được coi là tiền pháp định. Trong trường hợp tiền xu và giấy bạc ngân hàng của một nước được thay thế bằng loại tiền mới với cùng đơn vị tiền tệ, thì tiền mới sẽ đương nhiên trở thành tiền pháp định thay thế cho các loại tiền cũ.

Legal Tender / Đồng Tiền Pháp Định

Đồng tiền pháp định là một bộ phận của cung tiền tệ của một quốc gia, được pháp luật chấp nhận trong hoạt động thanh toán - trả chi phí hàng hóa/dịch vụ hoặc dùng để trả nợ. Đại diện của đồng tiền pháp định chính là tiền tệ - tiền giấy hoặc tiền kim loại, do Chính phủ phát hành.

Legal Person / Pháp Nhân

Pháp nhân là một định nghĩa luật pháp về một thực thể mang tính hội đoàn, thường dùng trong luật kinh tế. Về pháp nhân có rất nhiều quan điểm, nhưng quan trọng nhất pháp nhân chỉ ra được các thực thể hội đoàn có những biểu hiện tương tự như thể nhân. Pháp nhân có nhiều định nghĩa, song theo pháp luật Việt Nam thì pháp nhân là những tổ chức có tư cách tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Được thành lập hợp pháp; 2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Công ty TNHH (công ty trách nhiệm hữu hạn), công ty cổ phần, công ty hợp danh đều có tư cách pháp nhân sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.

Pháp Nhân (Legal Person) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Pháp Nhân (Legal Person) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Legal Capital / Vốn Pháp Định

Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật phải có để có thể thành lập một doanh nghiệp. Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành nghề có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm, Kinh doanh vàng và Kinh doanh tiền tệ, cụ thể như sau: Kinh doanh chứng khoán: Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Bảo lãnh phát hành: 165 tỷ đồng Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Theo Nghị định số 14/2007/NĐ-CP Sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ: Đối với các doanh nghiệp hoạt động tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, có vốn pháp định tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam. Đối với các doanh nghiệp hoạt động tại các tỉnh và thành phố khác, có vốn pháp định tối thiểu là 1 tỷ đồng Việt Nam. Sản xuất vàng miếng: 50 tỷ đồng Theo Nghị định số 174/NĐ-CP của Chính phủ Kinh doanh bảo hiểm: Bảo hiểm phi nhân thọ: 300 tỷ đồng. Bảo hiểm nhân thọ: 600 tỷ đồng. Môi giới : 4 tỷ đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài phải có 2 tỷ USD Theo nghị định số 46/2007/NĐ-CP Vốn pháp định tại một số quốc gia trên thế giới: Áo :Công ty cổ phần: 70.000 Euro. Công ty trách nhiệm hữu hạn: 35.000 Euro. Đức: Công ty cổ phần: 50.000 Euro. Công ty trách nhiệm hữu hạn: 25.000 Euro. Thụy Sĩ: Công ty cổ phần: 100.000 CHF. Công ty trách nhiệm hữu hạn: ít nhất 20.000 CHF nhiều nhất là 2 triệu CHF

Ledger / Sổ Cái Kế Toán

Quyển sổ lưu giữ tất cả các hoạt động trong kinh doanh liên quan tới từng tài khoản kế toán nhất định. Trên thực tế, sổ cái là bản phân loại và tóm tắt các nghiệp vụ tài chính hàng ngày cho từng tài khoản kế toán và là cơ sở chuẩn bị để lên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh. Sổ cái cũng cho phép đọc số dư trong một tài khoản nhất định tại một thời điểm cụ thể. Ví dụ, số dư tiền mặt cuối tháng có thể được xem để quyết định nếu công việc kinh doanh có rắc rối về tiền mặt. Ngoài ra nhìn vào tài khoản tiền mặt ta cũng có thể biết các khoản chi và tiêu tiền mặt trong một giai đoạn.Trong thời đại máy tính, các hoạt động kinh doanh thường được lưu trữ trong băng từ hay đĩa thay vì trong sổ sách. Nhưng các nguyên tắc kế toán vẫn được giữ nguyên không thay đổi.

Least Squares / Phương Pháp Bình Phương Nhỏ Nhất

Một cụm thuật ngữ chung miêu tả cơ sở của một nhóm các kỹ thuật ước lượng kinh tế lượng.

Lease / Hợp Đồng Thuê Tài Sản

Một hợp đồng cho thuê tài sản trao quyền cho bên thuê để sử dụng hoặc chiếm giữ tài sản cá nhân hoặc bất động sản trong một khoảng thời gian nhất định hoặc vô hạn định. Người cho thuê gọi là Lessor và người được thuê là Lessee hoặc tenant. Để dành được sự sở hữu tài sản trong khoảng thời gian đó, người thuê phải trả một khoản nhất định.

Learning Curve / Đường Cong Học Tập

Thuật ngữ Đường cong học tập đề cập đến mối quan hệ giữa quá trình học tập và tích lũy kinh nghiệm đối với kết quả là những tiến bộ đạt được. Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong môn tâm lý học mảng chuyên nghiên cứu về nhận thức, qua thời gian thuật ngữ đã được giải thích và diễn đạt bằng nhiều từ khác nhau như Đường cong kinh nghiệm, đường cong cải thiện, đường cong tiến bộ, đường cong hiệu quả... Trên thực tế, những từ này được sử dụng thay cho nhau tùy thuộc vào bối cảnh, nhưng những thuật ngữ này cũng có thể mang nghĩa khác nhau. Thông thường cong học tập có dạng dốc đứng - steep learning curve - được hiểu theo 2 cách. Cách thứ nhất phản ánh sự tiến bộ nhanh chóng trong giai đoạn đầu và sau đó là những cải thiện chậm hơn cộng thêm với thực hành ở giai đoạn sau. Một cách hiểu sai lệch thì cho rằng: hình ảnh đường cong dốc đứng nói lên rằng một vấn đề nào đó cần có rất nhiều nỗ lực mới có thể học được bởi vì bản chất của từ dốc đứng đã rất khó "trèo." Các cách hiểu này thực sự là không thống nhất. Một cách hiểu khác, đường cong học tập nhằm chỉ những nỗ lực cần thiết để học được kĩ năng mới sau một khoảng thời gian nhất định. Trong trường hợp này, những cách diễn đạt như "đường cong học tập nhanh - fast learning curve, đường cong học tập ngắn - short learning curve, hoặc đường cong học tập dốc đứng - steep learning curve được sử dụng. Cách hiểu này tạo ra một cách giải thích khác đối với những tiến bộ ban đầu, đó là mức độ tiến bộ đạt được trong mỗi giai đoạn học tập. Theo đó, đường cong dốc đứng yêu cầu phải đạt được tiến bộ trong những giai đoạn ban đầu điều này cho phép cá nhân sử dụng kĩ năng mới với mức độ hiệu quả hợp lí, yêu cầu này thường liên quan tới việc tăng cường nỗ lực học tập. Ngược lại, trường hợp đường cong thoải hoặc nằm ngang ám chỉ rằng việc học tập tiến triển chậm chạp, vì vậy việc vận dụng hợp lí kĩ năng mới học được là có thể thực hiện được nếu có sự kết hợp của đào tạo.

Learning / Học Hỏi

Một cách giải thích về TIẾN BỘ KỸ THUẬT (như thấy trong sự giảm dần đầu vào lao động trên mỗi đơn vị đầu ra) xét theo kinh nghiệm thực hiện công việc đó.

Leap - Frogging / Sự Nhảy Cóc

Một quá trình được coi là sự xoáy trôn ốc lương/ lương và được cho là một lý do độc lập dẫn đến lạm phát lương và giá cả bởi những người tạo lập thuyết LẠM PHÁT DO CHI PHÍ ĐẨY.

Leading Sector / Ngành Dẫn Đầu

Mức độ thanh toán lương bổng chung trong một ngành kinh tế được coi là điểm tham khảo về lương cho các khu vực khác (ví dụ nghiệp đoàn trong một khu vực công cộng có thể lấy mức thanh toán lương bổng trong khu vực tư nhân để tham khảo).

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55