Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Life-Cycle Hypothesis / Giả Thiết Thu Nhập Theo Vòng Đời

Giả thiết cho rằng cá nhân tiêu dùng một tỷ lệ cố định giá trị hiện tại của thu nhập của cả đời họ trong mỗi thời kỳ. Tỷ lệ này chính xác sẽ phụ thuộc vào thị hiếu của mỗi người tiêu dùng nhưng với điều kiện việc phân phối dân cư theo tuổi và thu nhập tương đối cố định, các hàm tiêu dùng cá nhân có thể tổng hợp để tạo ra một hàm tiêu dùng tổng cộng ổn định. Lý thuyết này gắn liền với Ando – Modigliani và Brumberg cố gắng giải thích bằng chứng rõ rệt về các chỉ tiêu của hàm tiêu dùng bằng mô hình thu nhập cả đời của cá nhân trung bình. Họ lý luận rằng mô hình thu nhập cả đời tổng quát là một hình thái ngẫu nhiên các gia đình xếp theo mức thu nhập sẽ cho ta thấy một số lớn người trung niên ở đầu cao hơn của bảng xếp hạng thu nhập và một số lớn thanh niên hay người già đứng cuối bảng thu nhập. Các hộ trẻ và các hộ già có xu hướng tiêu dùng trung bình cao và thực tế họ thường giảm tiết kiệm. Thông thường họ có thể vay mượn lấy thu nhập trong tương lai làm thế chấp như trong trường hợp của thanh niên, hoặc tiêu dùng hết cả tiết kiệm của mình trong trường hợp của người già. Ngược lại, các gia đình trung niên hoặc là trả nợ vay trước đây hay tiết kiệm cho tuổi già và do vậy có xu hướng tiêu dùng trung bình thấp hơn. Do vậy, các gia đình thu nhập thấp cho thấy có xu hướng tiêu dùng cao hơn và ngược lại; những thực tế này giải thích mô hình của hàm tiêu dùng bằng sự phân tích số liệu chéo. Về lâu dài, giả định này cho rằng các gia đình tiêu dùng một tỷ lệ không đổi của giá trị hiện tại của thu nhập cả đời mình và hàm tiêu dùng dài hạn được đưa ra để phản ánh điều này. Cuối cùng, vì thu nhập từ lao động thực tế sẽ tăng lên và giảm xuống xung quanh gái trị trung bình dài hạn nên xu thế tiêu dùng trung bình sẽ biến động trái ngược với thu nhập trong suốt chiều dài của chu kỳ kinh doanh như đưa ra trong hàm tiêu dùng ngắn hạn.

Life-Cycle Hypothesis / Giả Thuyết Về Vòng Đời, Thu Nhập Theo Vòng Đời / Chu Kỳ Tuổi Thọ Sản Phẩm

Giả thiết cho rằng cá nhân tiêu dùng một tỷ lệ cố định giá trị hiện tại của thu nhập của cả đời họ trong mỗi thời kỳ.

Lifecycle Funds / Quỹ Vòng Đời

Quỹ vòng đời là một thuật ngữ được Nguyên Tổng thống Mỹ G. Bush nhắc đến trong một bài diễn văn liên bang của ông năm 2005. Nó là thể loại quỹ tương hỗ/phân bổ tài sản trong đó sự có mặt của một tài sản trong danh mục đầu tư của quỹ được tự động điều chỉnh theo thời gian. Việc tự động điều chỉnh danh mục đầu tư dịch chuyển từ một vị trí có rủi ro cao đến vị trí rủi ro thấp khi nhà đầu tư già đi và/hoặc sắp nghỉ hưu. Những người ủng hộ quỹ vòng đời trích dẫn sự tiện lợi cho nhà đầu tư khi đưa các hoạt động đầu tư vào một hệ thống tự điều chỉnh thông qua việc sử dụng chỉ một quỹ được quản lý để dành cho họ. Tuy nhiên, các nhà phê phán cho rằng cách tiếp cận "một mô hình phù hợp với tất cả" (one size fits all) là rất đáng nghi ngờ. Đối với nhà đầu tư không muốn chịu trách nhiệm về đầu tư hưu trí của họ, một quỹ chu kỳ như thế có thể thích hợp. Tuy nhiên, đối với những người muốn dành thời gian và nỗ lực để trực tiếp quản lý các khoản đầu tư của họ, cần phải tránh quỹ vòng đời.

Lien / Quyền Cho Phép Chủ Nợ Nắm Giữ Thế Chấp Cho Đến Khi Con Nợ Thanh Toán Hết Nợ

Theo luật, quyền cho phép chủ nợ nắm giữ thế chấp cho đến khi con nợ thanh toán hết nợ là một dạng tài sản bảo đảm được đưa ra khi một bên cho bên kia vay một loại tài sản nào đó, nhằm đảm bảo nợ sẽ được trả hoặc đảm bảo việc thực hiện một số nghĩa vụ của bên nợ. Người sở hữu tài sản chính là người đưa ra Lien được gọi là Lienor và người được hưởng lợi từ Lien gọi là Lienee. Ở Mỹ, thuật ngữ Lien thường nhằm để chỉ một loạt các hình thức (như mortgage, leasing, easement hay lien) ảnh hưởng hoặc giới hạn quyền (bao gồm lợi ích hợp pháp và quyền đối với giá trị của tài sản cầm cố) đối với tài sản;  và bao gồm cả các dạng khác của cầm cố hoặc khoản phải trả.

Licensed Deposit Takers / Cơ Quan Được Cấp Giấy Phép Nhận Tiền Gửi

Theo Luật ngân hàng của Anh năm 1979, một loại tổ chức tín dụng được phép nhận tiền gửi. Bộ luật nhằm thiết lập một hệ thống quy định và kiểm soát để bảo vệ công chúng có tiền gửi, và có tác dụng làm hạn chế các hoạt động nhận tiền gửi ở hai loại tổ chức tín dụng, "các ngân hàng được công nhân" và "các cơ quan được phép nhận tiền gửi".

Liability / Nghĩa Vụ Nợ

Các khoản nợ hay các nghĩa vụ theo pháp luật của một công ty nảy sinh trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Theo thời gian, chúng sẽ được thanh toán thông qua việc chuyển giao các lợi ích kinh tế bao gồm tiền, hàng hóa vàdịch vụ. Được ghi trong bảng cân đối kế toán (phía bên phải), nghĩa vụ nợ bao gồm các khoản vay, các khoản phải trả, vay thế chấp, doanh thu trả chậm và chi phí cộng dồn. Nghĩa vụ nợ là một khía cạnh thiết yếu đối với hoạt động của công ty bởi vì chúng cung cấp tài chính cho các hoạt động và cho các sự mở rộng. Chúng có thể giúp giao dịch giữa các công ty trở nên dễ dàng hơn. Ví dụ, khoản tiền một công ty chưa trả cho nhà cung cấp của nó có thể được coi là một nghĩa vụ nợ. Bên cạnh lĩnh vực tài chính và kế toán, thuật ngữ này đơn giản được sử dụng cho tất cả các khoản tiền hoặc dịch vụ mà hiện nay đang được sở hữu bởi một bên khác. Một dạng của nghĩa vụ nợ là thuế tài sản mà người sở hữu nhà nợ chính phủ. Nghĩa vụ nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong vòng 1 năm, trong khi nghĩa vụ nợ dài hạn là các khoản nợ phải trả trong khoảng thời gian dài hơn.

Liabilities / Nợ

Mọi trái quyền, thực tại hay tương lai, đối với một cá nhân hay tổ chức.

Lexicographic Preferences / Thị Hiếu Thiên Lệch

Sở thích của một cá nhân đối với một nhóm hàng hoá này so với một hàng hoá khác, nếu nó chứa nhiều hơn một hàng hoá cụ thể nào đó và bất kể số lượng của các hàng hoá khác trong nhóm đó như thế nào.

Lewis, Sir W.Arthur / (1919-1991)

Nhà kinh tế học Tây Ấn và là người cùng được tặng giải thưởng Nobel với Theodore Schultz về kinh tế năm 1979. Huân tước W.Athur được đào tạo tại trường kinh tế London và là trưởng khoa kinh tế tại trường đại học Manchester và Princeton. Mối quan tâm chính của ông là chính sách công cộng và kinh tế của các nước kém phát triển và mô hình phát triển của Lewis, trong đó giả định một nền kinh tế hai khu vực hiện đại đang phát triển, trong đó lợi nhuận được tái đầu tư, và hấp thụ số lao động không hạn chế từ khu vực nông nghiệp truyền thống, được chấp nhận rộng rãi. Tác phẩm chính của ông là Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế (1955), trình bày những phân tích tổng hợp về phát triển kinh tế cho đến thời gian đó. Trong kế hoạch phát triển: sự cốt yếu của chính sách kinh tế (1966), ông đưa ra những hướng dẫn về cách thức tạo lập và đánh giá một kế hoạch kinh tế. Các ấn phẩm khác của ông là Khảo sát kinh tế, 1948 - 1935 (1949), phân tích và xem xét các sự kiện và chính sách của giai đoạn đó, Chi phí cố định (1949) và Các nguyên tắc kế hoạch hoá kinh tế (1949).

Lewis - Fei - Ranis Model / Mô Hình Lewis - Fei - Ranis

Một mô hình kinh tế về thất nghiệp ở các nước đang phát triển được A.Lewis giới thiệu năm 1954 và 1958 và sau đó được chính thức hoá bởi Fei và Ranis năm 1964.

Leveraged Loan / Vay Đòn Bẩy Nợ

Vay đòn bẩy nợ là những khoản vay mở rộng với những doanh nghiệp hoặc cá nhân hiện đã có một khoản nợ khá lớn. Người cho vay sẽ xem xét những khoản nợ cũ này để tính toán mức độ rủi ro vỡ nợ, tương ứng chi phí vay nợ cũng sẽ cao hơn những khoản vay thông thường.Vay đòn bẩy nợ, trong kinh doanh, thường được sử dụng trong các thương vụ mua lại sử dụng nợ.

Leveraged Buyout, LBO / Mua Lại Dựa Trên Vay Nợ

Việc mua lại hay sáp nhập dựa trên vay  nợ xảy ra khi một công ty hay định chế tài chính giành phần lớn quyền kiểm soát công ty mục tiêu thông qua việc đi vay nợ. Hiểu một cách chung nhất đây là chiến lược trong đó công ty tiến hành sáp nhập sẽ đi vay một lượng tiền lớn để trả cho các chi phí sáp nhập. Thông thường, ngoài tài sản của chính mình thì công ty thực hiện sáp nhập cũng sử dụng luôn tài sản của công ty mục tiêu để đảm bảo cho khoản vay của mình. Mục tiêu của chiến lược này là cho phép công ty có thể tiến hành sáp nhậpmà không cần có lượng vốn lớn trong tay. Trong  một vụ sáp nhập thế này thì tỉ lệ vay nợ là 70%, vốn tự có là 30%, tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp tỉ lệ nợ có thể lên tới 90% -95% tổng giá trị vốn hóa của công ty mục tiêu. Phần vốn tự có của doanh nghiệp dùng để chi trả chi phí sáp nhập thường do các hội hoặc các quỹ đầu tư tư nhân cung cấp. Chiến lược này được sử dụng lần đầu vào năm 1955, trong vụ sáp nhập giữa công ty McLean Industries và  Waterman Steamship Corporation. Trong vụ sáp nhập này,  McLean  đã vay tới 42 triệu $ và huy động thêm 76 triệu $ nữa thông qua việc phát hành cổ phiếu ưu đãi. Khi vụ sáp nhập kết thúc, lượng tiền và tài sản của Waterman trị giá 20 triệu $ đã được sử dụng để thanh toán các khoản nợ. Ban lãnh đạo mới của Waterman được bầu ngay sau đó đã quyết định trả cổ tức trị giá 25 triệu $ cho McLean Industries. Trong lịch sử có rất nhiều vụ sáp nhập trong đó việc sử dụng chiến lược LBO chủ yếu dựa trên việc cắt giảm các khoản chi tiêu lãng phí của ban lãnh đạo công ty, những người không có cùng lợi ích với cổ đông. Sau khi tái cơ cấu lại doanh nghiệp _thường là bán một phần công ty và sa thải bớt nhân sự, công ty sẽ có khả năng tạo ra thu nhập cao hơn. Phần lớn các doanh nghiệp tiến hành chiến lược LBO thường tìm kiếm tỉ suất hoàn vốn nội bộ từ 20% trở lên. Một trường hợp sáp nhập đáng chú ý nữa là "management buyout" (MBO) trong đó các nhà quản lý của một công ty tiến hành mua lại hoặc giành quyền kiểm soát phần lớn công ty mục tiêu. Nâng cao lợi ích và vai trò của công ty thực hiện chiến lược đối với công ty mục tiêu. Chiến lược MBO đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động cơ cấu lại doanh nghiệp, bên cạnh hoạt động sáp nhập và thôn tính.

Leverage, Gearing / Lợi Dụng Vốn, Đòn Bẩy Vốn

Lợi dụng vốn (đòn bẩy vốn) là việc sử dụng những nguồn lực sẵn có theo cách mà nó làm cho kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) được nhân lên nhiều lần, hay nói cách khác, lợi dụng vốnchính là kĩ thuật nhân vốn trong kinh doanh. Khi nói đến lợi dụng vốn người ta thường đề cập đến 2 kiểu áp dụng của nó, trong đầu tư tài chính và trong kinh doanh thuần tuý. Trong đầu tư tài chính, nhà đầu tư lợi dụng vốn thông qua việc vay tiền hoặc sử dụng các dạng vay mượn khác (các công cụ phái sinh) để tăng số vốn đầu tư khả dụng. Nhà đầu tư hi vọng số vốn vay được này, khi được tái đầu tư vào các công cụ tài chính, sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn chi phí tài chính phải trả. Các công cụ tài chính mà nhà đầu tư hay dùng có thể kể đến hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, đặt cọc kinh doanh chứng khoán và một số công cụ khác. Trong kinh doanh, lợi dụng vốn là việc công ty đó sử dụng vốn vay để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Công ty nào có tỉ lệ nợ trên vốn cổ phần càng cao thì khả năng lợi dụng vốn của nó càng cao, tức là hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Để đánh giá khả năng lợi dụng vốn của một công ty, người ta thường dùng tỉ lệ tài sản trên vốn cổ đông (AOE). Tỉ lệ này càng cao thì chứng tỏ phần tài sản của công ty được tài trợ từ nguồn vốn vay càng lớn, mức độ lợi dụng vốn càng cao. Ví dụ: 2 công ty cùng có tổng tài sản như nhau là 30 triệu USD. Vốn cổ đông của Công ty A là 5 triệu USD còn của công ty B là 10 triệu. Rõ ràng, để có nguồn lực tương đương nhau, công ty A chỉ cần số vốn bằng phân nửa công ty B, tức là khả năng lợi dụng vốn của A (AOE=6) tốt hơn B (AOE=3). Cùng một đồng vốn đầu tư vào công ty A có khả năng sinh lợi cao hơn công ty B, đồng nghĩa với việc cổ phiếu của A nhìn chung sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn B. Lợi dụng vốn giúp các nhà đầu tư tài chính và các công ty tăng khả năng tạo ra lợi nhuận cho mình, song đi liền với nó, rủi ro bao giờ cũng cao hơn. Nếu sử vốn đi vay để đầu tư mà thua lỗ thì hậu quả đối với nhà đầu tư sẽ trầm trọng hơn nhiều lần khi đầu tư bằng vốn của mình. Điều này có thể thấy rõ trong ví dụ về đặt cọc kinh doanh chứng khoán. Doanh nghiệp có thể lợi dụng vốn của đối tượng khác để tăng lợi nhuận cho cổ đông, nhưng nếu họ không làm được điều đó, lãi vay và rủi ro vi phạm nghĩa vụ trả nợ có thể gây thiệt hại lớn cho cổ đông.

Leverage Buy-Out (LBO) / Mua Lại Cổ Phần Theo Kiểu Vay Nợ Đầu Cơ

Mua lại cổ phần theo kiểu vay nợ đầu cơ là hình thức mua một khối lượng chứng khoánnhỏ chủ yếu bằng vay nợ nhưng với mục đích "lớn", tức là mượn đòn bẩy chứng khoán để thâu tóm phần lớn cổ phần của công ty hoặc trở thành chủ sở hữu duy nhất của công ty. Có một ví dụ rất thú vị về kiểu LBO: A là một tay đầu tư tham vọng và mưu lược và B là công ty phát hành chứng khoán mà A đang nhắm tới. Khi thấy giá chứng khoán của B thấp, thì A tính toán xem B rơi vào trường hợp nào: nếu quản trị yếu kém, vậy họ mua B rồi thay hội đồng quản trị; nếu tích sản của B (tài sản còn lại sau khi trả hết nợ) cao hơn giá chung của chứng khoán trên thị trường hiện nay khi giải thể (ví dụ như giá chứng khoán của công ty dầu khí thấp nhưng họ có mỏ nên tích sản của họ thường cao), vậy A mua về rồi giải thể công ty sẽ có lời; nếu B có nhiều công ty con, vậy mua về rồi bán các công ty con đi sẽ có lời. Vậy vấn đề quan trọng nhất đặt ra đối với A là làm thế nào mua được B??? Và A đã thực hiện kế hoạch của mình bằng kiểu mua lại LBO. Đầu tiên, A mua một số nhỏ chứng khoán của B trên thị trường. Mua vào lúc này A rất có lợi vì giá chứng khoán của B đang đi xuống, A sẽ không phải trả giá cao; tuy nhiên A không mua được nhiều vì - nếu hơn 5% - phải báo cáo cho ủy ban chứng khoán và tất nhiên sẽ bị quản lý bởi cơ quan này. Nếu A là một tay đầu tư tham vọng nhưng ít vốn thì trong thời gian này A phải tìm nơi tài trợ khi mua chứng khoán của B. A có thể lập ra A’ bằng nhiều cách: phát hành trái phiếu không có bảo đảm nhưng trả lãi cao để trước tiên thu hút vốn của các nhà đầu tư; hay đi vay đến 70-80% giá mua chứng khoán rồi sau này bán tài sản của B hoặc lấy cổ tức nó làm ra để trả nợ. Tất cả các cách làm này đều được gọi là “leverage buy - out”(LBO)- mua lại cổ phần bằng vay nợ đầu cơ. Tức là vay tiền đi mua lại cổ phần, để trở thành chủ sở hữu công ty sau đó dùng lợi phát sinh ngay sau đó để trả cho khoản nợ đã đi vay.  Sau khi đã mua một số chứng khoán nhỏ, A sẽ thông báo chính thức là muốn mua một lượng cổ phần từ các cổ đông công ty B và họ đề nghị một giá mua cho các cổ đông của B. Giá đó sẽ cao hơn giá chứng khoán của B trên thị trường (thường là 35%) và nói là nếu được mua một số lớn đến 80% lượng cổ phiếu mà mỗi cổ đông nắm giữ thì mới mua. Khi được đề nghị một giá cao như thế, các cổ đông của B sẽ bị áp lực phải bán ngay bởi: thứ nhất bán đi như vậy có lời cao; thứ hai cổ đông nào cũng nghĩ nếu không bán bây giờ mà sau này A mua được từ các cổ đông khác rồi thì họ sẽ bị ép giá ngay. Và khi đã bán đến 80% cổ phần công ty cho A thì ngay lập tức hội đồng quản trị của B bị đứng ngoài! Như vậy A đã thâu tóm được công ty B. Tuy nhiên không phải lúc nào với cách làm LBO, A cũng chiến thắng. Ở giai đoạn này có thể có một vài công ty khởi động khác cũng muốn mua (vì giá chứng khoán của B thấp hơn giá trị thật) và họ có thể đề nghị các giá mua cao hơn của A (100% chẳng hạn). Thế là có đấu đá về giá giữa A và các công ty khác và cổ đông của B được lợi. Chính vì vậy muốn LBO thành công A thường rất kín tiếng trong khi thực hiện bước đi đầu tiên là mua 5% chứng khoán B và nhanh tay trong việc mua lại 80% cổ phần của các cổ đông B.

Leverage / Phương Pháp Đòn Bẩy

Phương pháp đòn bẩy (leverage), theo thuật ngữ tài chính, có nghĩa là việc sử dụng một số tiền nhỏ để thực hiện một khoản đầu tư có giá trị lớn hơn rất nhiều. Bạn có thể mua một hợp đồng tương lai (futures contract) trị giá hàng nghìn đô la với khoản đầu tư ban đầu chỉ bằng 10% tổng trị giá hợp đồng. Ví dụ, nếu bạn mua một hợp đồng vàng trị giá 35.000$ (khi 1 ounce vàng bằng 350$) bạn có thể chỉ cần bỏ ra 3.500$. Đó chính là một sự đảm bảo tốt cho bạn và sẽ tạo cho bạn một lực bẩy hơn 100 ounce (oz.) vàng. Với một hàng hoá có giá dao động bất ổn như vàng, dao động giá khoảng 100$ trong suốt thời hạn của hợp đồng là hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, nếu giá tăng 100$, tức là lên đến 450$ một ounce, giá trị đầu tư của bạn có thể lên đến 10.000$ - gần như đạt mức lãi 300% so với đầu tư gốc 3.500$ của bạn. Mỗi lần giá một ounce vàng tăng lên 10 cent thì giá trị hợp đồng sẽ tăng lên 10$. Tuy vậy, đương nhiên là điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Nếu giá giảm và giá trị đầu tưcủa bạn cũng sụt xuống 300%, việc này có thể lấy mất hơn 10.000$ của bạn -- đôi khi còn nhiều hơn -- để thực hiện đúng cam kết của hợp đồng khi bạn bị lỗ. Vì vậy, mặc dù đòn bẩy khiến cho việc cam kết lúc ban đầu có vẻ thuận lợi nhưng những diễn biến có thể xảy ra trong quá trình đầu tư phái sinh này có thể gây ra cho bạn những khoản thua lỗ lớn.

Leverage / Đầu Cơ Vay Nợ

Đầu cơ vay nợ là việc một công ty sử dụng tài sản đi vay để tăng lợi suất trên vốn cổ phần của các cổ đông, với hy vọng lãi suất phải chịu sẽ thấp hơn lợi nhuận trên số tiền đi vay. Từ Leverage có nghĩa gốc là "đòn bẩy", trong tài chính nó có nghĩa là đầu cơ vay nợ-phương thức bỏ ra một khoản chi phí nhỏ nhằm tạo ra khoản thu nhập lớn hơn. Khi các công ty cần vốn gấp đúng lúc thời cơ kinh doanh đã đến, họ sẽ sử dụng phương thức đầu cơ vay nợ, vay tiền từ ngân hàng hay các định chế tài chính khác. Nếu nắm bắt được cơ hội kinh doanh thì công ty có thể tạo ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần cao hơn sau khi đã trừ đi chi phí đi vay (sau khi đã trả lãi suất). Tuy nhiên muốn đầu cơ vay nợ thành công, công ty phải dự đoán tương đối chính xác mức lợi nhuận thu được trong tương lai, ít nhất phải đảm bảo lớn hơn lãi suất đi vay.  Ở Mỹ, thuật ngữ đầu cơ vay nợ dùng để chỉ hình thức mua cổ phiếu có trả trước tiền bảo chứng. Người Mỹ thường mua chịu nhiều thứ và cổ phiếu không phải là trường hợp ngoại lệ. Các nhà đầu tư có đủ khả năng mua “có trả trước tiền bảo chứng”, tức là mua cổ phiếu bằng cách thanh toán ngay 50% và nợ người môi giới phần còn lại. Nếu giá cổ phiếu mua theo hình thức này tăng, nhà đầu tư đó có thể bán cổ phiếu rồi thanh toán cho người môi giới khoản nợ này cộng với lãi suất và tiền hoa hồng, số còn lại là lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu giá cổ phiếu giảm, người môi giới đưa ra thông báo “bổ sung tiền bảo chứng”, buộc nhà đầu tư phải trả thêm tiền vào tài khoản của họ sao cho số tiền cho vay của họ không vượt quá một nửa giá trị cổ phiếu (để tránh trường hợp nếu nhà đầu tư không trả được tiền vay nợ thì người môi giới còn nắm một nửa giá trị cổ phiếu lớn hơn tiền cho vay). Nếu chủ sở hữu cổ phiếu không có tiền mặt, người môi giới có thể bán đi một phần cổ phiếu đó - với thiệt hại gây ra cho nhà đầu tư - để bù đắp cho số nợ trên. Mua cổ phiếu có trả trước tiền bảo chứng mang bản chất là một hình thức mua bán đầu cơ vay nợ. Khi nhà đầu tư mua cổ phiếu không thanh toán hết tiền tức là họ vay nợ, và mong chờ vào đó một khoản thu nhập từ cổ phiếu cao hơn lãi suất và hoa hồng phải trả cho người môi giới. Nó tạo cho các nhà đầu cơ - là người mua bán sẵn sàng mạo hiểm đánh bạc với những tình huống rủi ro cao - cơ hội để mua nhiều cổ phần hơn hoặc thu nhập cao hơn. Nếu quyết định đầu tư của họ là đúng đắn thì các nhà đầu cơ thu được lợi nhuận rất lớn, nhưng nếu họ đánh giá sai thị trường thì họ có thể bị thua lỗ rất nặng.

Level-Premium Policy / Bảo Hiểm Có Mức Phí Cố Định

Đây là thuật ngữ có liên quan tới bảo hiểm nhân thọ có kì hạn trong đó tổng mức phí chi trả cho bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời hạn của hợp đồng. Tiền phí bảo hiểm chi trả vào thời gian đầu của hợp đồng thường cao hơn phí trả vào thời điểm gần kết thúc hợp đồng. Thuật ngữ này có liên quan đến bảo hiểm nhân thọ có kì hạn có nghĩa là nó chỉ có hiệu lực bảo hiểm trong một khoảng thời gian nhất định và chỉ chi trả trong trường hợp người được bảo hiểm bị chết, ngoài ra không được bảo hiểm thêm khoản nào khác. Do đó khi lựa chọn bảo hiểm phân mức, bạn cần xem xét kĩ  khoảng thời gian vảo hiểm bao lâu là phù hợp với nhu cầu của bạn. Ví dụ nếu con cái của bạn còn nhỏ và nhu cầu chính của bạn là có khoản tiền bồi thường sau khi mất cho con cái của bạn thì khoảng thời gian 20 năm là hợp lý. Tuy nhiên nếu như con cái của bạn đã tương đối trưởng thành thì bạn chỉ cần mua loại có thời hạn 10 năm. Nếu bạn có ý định mua loại  bảo hiểm này thì có một điều rất quan trọng đó là bạn xem mức phí bảo hiểm có được đảm bảo hay không. Trong một vài trường hợp công ty bảo hiểm vẫn có thể sẽ tăng mức phí bảo hiểm và bạn sẽ phải trả mức phí cao hơn trong suốt thời gian bảo hiểm còn lại.

Level Of Significance / Mức Ý Nghĩa

Một khái niệm sử dụng trong kiểm định giả thuyết để xác định các giá trị tới hạn nhằm so sánh thống kê kiểm định với chúng.

Letter Of Guarantee (L/G) / Phương Thức Bảo Lãnh

Phương thức bảo lãnh là bất cứ một sự bảo lãnh, một sự cam kết hay bất cứ một sự cam kết thanh toán nào của trung gian tài chính hoặc của pháp nhân hay thể nhân bằng văn bản là sẽ bồi thường một số tiền nhất định, nếu đến hạn mà người được bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ như quy định trên thư bảo lãnh.Các bên tham gia bảo lãnh gồm: Người bảo lãnh (Guarantor): là người phát hành thư bảo lãnh cam kết bồi thường cho người hưởng lợi nếu đến hạn mà người được bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ quy định trên L/G. Người được bảo lãnh (Principal): là những người yêu cầu phát hành L/G như người xuất khẩu, người vay nợ yêu cầu người bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh tín dụng, người dự thầu yêu cầu người bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh dự thầu. Người thụ hưởng bảo lãnh: là người nhận bảo lãnh.

Letter Of Credit - L/C / Phương Thức Tín Dụng Chứng Từ

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được sử dụng phổ biến trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu. Tuỳ theo thói quen và thông lệ từng quốc gia mà được gọi với nhiều tên khác nhau, như Tín dụng chứng từ (Document Letter of Credit), hay Thư tín dụng, L/C. Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán mà trong đó theo yêu cầu của khách hàng ngân hàng sẽ phát hàn một bức thư gọi là L/C - cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ 3, khi người này xuất trình cho ngân hàng phát hành bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong L/C. Nội dung chủ yếu của thư tín dụng gồm có:-  Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C (No of L/C, place and date of issuing)-  Địa điểm mở (Place of issuing)-  Ngày mở (Issuing date)-  Tên địa chỉ của người thụ hưởng (Beneficiary) -  Ngân hàng mở L/C (opening bank; issuing bank)-  Ngân hàng thông báo (advising bank)-  Ngân hàng trả tiền (negotiating bank or paying bank)-  Ngân hàng xác nhận (confirming bank)-  Số tiền của thư tín dụng (Amount of money)-  Thời hạn hiệu lực (Expiry date)-  Thời hạn trả tiền của L/C (Latest payment date)-  Những nội dung về hàng hoá (Description of goods)-  Những nội dung về vận tải (Shipment term)-  Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình (Documents for payment -  Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C-  Chữ ký của ngân hàng mở L/C Trong lĩnh vực thương mại, gồm có những loại thư tín dụng sau:- Thư tín dụng không thể huỷ ngang (irrevocable letter of credit).- Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable letter of credit)- Thư tín dụng giáp lưng (Back to Back lettet of credit)- Thư tín dụng ứng trước điều khoản đỏ (Advanced letter of credit, Red clause letter of credit)- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving letter of credit)- Thư tín dụng dự phòng (Stand by letter of credit)- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable letter of credit)- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal letter of credit)

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55