Liquidity Preference Theory / Lý Thuyết Ưa Thích Tiền Mặt
Theo trường phái Keynes thì nhà đầu tư mong muốn giữ tiền bằng tài sản có tính thanh khoản cao thí dụ như tài khoản Séc - hơn là giữ tiền trong tài sản có tính thanh khoản kém như chứng khoán, trái phiếu, bất động sản. Việc ưa thích này được giải thích như sau: Động cơ thúc đẩy giao dịch mua bán hay sự mong muốn có tiền sẵn để chi dùng khi cần. Động cơ phòng xa, có đặc tính là người ta lưỡng lự khi để tiền dính cứng vào tài sản khó chuyển đổi ra tiền mặt. Động cơ đầu cơ, họ tin rằng lãi xuất thị trường có thể tăng trong tương lai. Theo lý thuyết phái Keynes, tiền lãi là số chi trả đối với nhà đầu tư, nó thuyết phục nhà đầu tư từ bỏ khả năng thanh toán bằng tiền mặt của họ, vì thế các vụ đầu tư dài hạn sẽ làm cho lãi xuất cao hơn lãi xuất của đầu tư ngắn hạn. Chênh lệch này được gọi là chênh lệch khả năng thanh toán tiền mặt. Lý thuyết này khác với thuyết kì vọng.
Liquidation / Phát Mại
Đây là quá trình chấm dứt sự tồn tại của một công ty, tài sản của nó được phát mại và phân chia cho các chủ nợ của nó và trong trường hợp còn dư thừa thì được chia cho các thành viên trong công ty.
Liquidation / Phát Mãi Tài Sản
Liquidation, với các nghĩa phát mãi, thanh lý, hay thanh khoản tài sản, là thuật ngữ được sử dụng trong các tình huống: (1) Một doanh nghiệp, hoặc đơn vị kinh doanh, lâm vào tình huống phá sản hay chấm dứt hoạt động, bán các tài sản của mình để thực hiện các nghĩa vụ thanh toán. Phần tài sản còn lại sau khi đã hoàn tất các nghĩa vụ trả nợ sẽ được chia đều cho các cổ đông theo tỉ lệ cổ phần nắm giữ. (2) Bất kỳ giao dịch nào có ý nghĩa xóa bỏ hoặc chấm dứt trường hoặc đoản vị thế tài chính. Người cung cấp tín dụng có động lực thanh lý tài sản sao cho phần tiền họ nhận được lớn nhất có thể. Hiểu theo nghĩa rộng, chủ nợ là những người được ưu tiên nhận quyền lợi đầu tiên, sau đó mới tới lượt những người sở hữu tài sản. Trình tự nhận quyền lợi từ việc phát mãi, thanh lý tài sản thường được qui định trong các Luật liên quan như Phá sản, Công ty, Thương mại, Dân sự… tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi hệ thống kinh tế. Thứ tự ưu tiên phổ biến, (không nhất thiết giữ nguyên thứ tự và điều chỉnh theo hoàn cảnh cụ thể): * Các khoản nợ thuế và nghĩa vụ tài chính với Chính phủ* Nhà cung cấp tín dụng (ngân hàng, tổ chức tài chính)* Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, nguyên vật liệu đầu vào* Cán bộ công nhân viên* Người nắm giữ trái phiếu của công ty* Cổ đông ưu tiên* Cổ đông phổ thông
Linear Programming / Quy Hoạch Tuyến Tính
Một kỹ thuật tạo lập và phân tích các bài toán tối ưu hốác ràng buộc trong đó hàm mục tiêu là một hàm tuyến tính và được tối đa hoá hay tối thiểu hoá tuỳ thuộc và số lượng các bất đẳng thức ràng buộc tuyến tính.
Linear Probability Model / Mô Hình Xác Suất Tuyến Tính
Cũng gọi là mô hình PROBIT - mô hình xác suất đơn vị. Một mô hình trong đó biến phụ thuộc là một biến giá hay biến nhị nguyên và được biểu diễn bằng một hàm tuyến tính của một hay nhiều biến độc lập.
Linear Function / Hàm Tuyến Tính
Một mối quan hệ toán học trong đó các biến số xuất hiện như là các yếu tố cộng, không có các thành phần số mũ hay nhân.
Linear Expenditure Systems / Các Hệ Thống Chi Tiêu Tuyến Tính
Trong các hệ thống chi tiêu tuyến tính, các HÀM CẦU được diễn tả đối với các nhóm hàng hoá, chức không phải với các hàng hóa đơn lẻ.
Linear Estimator / Ước Lượng Tuyến Tính
Một công thức ước tính các tham số của phương trình hồi quy, trong đó các ước tính được tìm ra như là các hàm tuyến tính của các giá trị biến phụ thuộc ước lượng OLS là một cách ước lượng tuyến tính.
Linear Dependence / Phụ Thuộc Tuyến Tính
Một tính chất của một tập hợp các vectơ trong đó một trong các vectơ có thể được biểu diễn bằng một tổ hợp tuyến tính của các vectơ khác.
Linear Combination / Tổ Hợp Tuyến Tính
Tổng của một dãy biến số (hoặc các VECTƠ) đã được nhân với một số hàng số nào đó.
Linder Thesis / Thuyết Linder
Thuyết của nhà kinh tế Thụy Điển có tên là Linder cho rằng các nước càng có thu nhập bình quân đầu người giống nhau thì lượng buôn bán về hàng chế tạo giữa các nước đó càng cao vì ngoại thương được coi là việc mở rộng tiêu dùng và sản xuất trong nước.
Limit-On-Open Order / Lệnh Giới Hạn Tại Phiên Mở Cửa
Đây là một loại lệnh giới hạn dùng để mua hoặc bán một loại cổ phiếu tại phiên mở cửa thị trường nếu mức giá thị trường thoả mãn các điều kiện giới hạn. Loại lệnh này chỉ có hiệu lực trong phiên giao dịch đầu tiên, sau đó nó sẽ không còn hiệu lực nữa. Những nhà đầu tư tin rằng giá mở cửa là mức giá thực hiện tốt nhất thường muốn đặt lệnh giới hạn tại phiên mở cửa. Ví dụ: giả sử bạn là một nhà đầu tư đang nắm trong tay 1000 cổ phiếu của công ty ABC và muốn bán chúng vào phiên mở cửa thị trường, tuy nhiên bạn cũng muốn chắc chắn rằng bạn sẽ nhận được ít nhất là 50$ trên mỗi cổ phiếu. Khi đó bạn nên đặt lệnh giới hạn tại phiên mở cửa. Nếu trong phiên đầu tiên này, giá cổ phiếu cao hơn 50$, lệnh của bạn sẽ được thực hiện, nhưng nếu mức giá giao dịch trên thị trường thấp hơn 50$/cp, lệnh của bạn sẽ bị huỷ và bạn sẽ không phải bán cổ phiếu của mình với mức giá thấp hơn mong muốn.
Limit-On-Close Order / Lệnh Giới Hạn Tại Phiên Đóng Cửa
Đây là một dạng lệnh giới hạn để mua hoặc bán một loại cổ phiếu tại mức giá đóng cửa nếu mức giá này tốt hơn mức giá giới hạn, nếu không đáp ứng được các điều kiện này thì lệnh sẽ bị huỷ. Loại lệnh này là sự mở rộng của lệnh phiên đóng cửa thị trường (tức là lệnh được thực hiện tại mức giá đóng cửa). Do đó bằng cách đặt lệnh giới hạn tại phiên đóng cửa, bạn có thể giao dịch tại mức giá tốt hơn. Có nhiều nhà đầu tư đều tin rằng giá đóng cửa là giá tương đối tốt vì khối lượng giao dịch vào phiên cuối khá cao và thường thực hiện giao dịch thông qua lệnh phiên đóng cửa (market-on-close order). Tuy nhiên nếu đặt lệnh này các nhà đầu tư vẫn có nguy cơ phải tiến hành các giao dịch tại mức giá mà họ không mong muốn. Vì thế bằng việc đăt một lệnh giới hạn tại phiên đóng cửa, các nhà đầu tư có thể tránh được rủi ro này. Ví dụ, nếu bạn thực hiện một lệnh mua giới hạn tại phiên đóng cửa, số lượng là 100 cổ phiếu của công ty ABC với mức giá 52.05 $, mức giá vào cuối ngày giao dịch là 50$, như vậy lệnh của bạn có thể được thực hiện, tuy nhiên nếu mức giá này tăng tới 54$ thì lệnh của bạn sẽ bị huỷ và bạn sẽ không phải mua với mức giá cao hơn mong muốn.
Limited Partnership / Quan Hệ Đối Tác Hữu Hạn
Hai hay nhiều thành viên liên kết để cùng thực hiện công việc kinh doanh, trong đó ít nhất một người chỉ chịu trách nhiệm pháp lý với số tiền mà người đó đầu tư. Các thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn (limited partner) không nhận được cổ tức, nhưng hưởng lợi trực tiếp từ thu nhập và các khoản chi phí.Tổ chức được thành lập bởi một thành viên chủ chốt (General Partner) quản lý một dự án -chịu trách nhiệm không giới hạn và những thành viên góp vốn - đầu tư tiền nhưng có trách nhiệm hữu hạn về nợ, không tham gia vào việc quản lý hằng ngày và hầu hết không chịu thua lỗ hơn số vốn mà họ đóng góp. Thông thường các thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn nhận lợi tức từ doanh thu, lợi vốn, lợi thế về thuế; thành viên chủ chốt sẽ nhận các khoản phí và số phần trăm theo lợi vốn và doanh thu. Quan hệ đối tác hữu hạn thường thấy trong bất động sản, dầu hỏa và gas, cho thuê trang thiết bị nhưng nó cũng có ở trongtài chính, điện ảnh, nghiên cứu và phát triển, và các dự án khác. Quan hệ đối tác hữu hạn công chúng được bán thông qua công ty môi giới với đầu tư tối thiểu $5.000, trong khi quan hệ đối tác hữu hạn tư nhân được tập hợp lại với khoảng dưới 35 thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn, mỗi thành viên đầu tư hơn $20.000.
Limited Information (Li) / Thông Tin Hạn Chế
Một cụm thuật ngữ miêu tả một nhóm kỹ thuật ước tính kinh tế lượng sử dụng trong việc ước tính các biến số của các hàm đồng thời.
Limited Dependent Variables / Các Biến Số Phụ Thuộc Hạn Chế
Xảy ra trong mô hình hồi quy theo đó biến phụ thuộc bị hạn chế ở một số khoảng giá trị nào đó.
Limited Company / Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn
Có hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn ở Anh: Công ty trách nhiệm hữu hạn công cộng và công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân.
Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn (Limited Company) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn (Limited Company) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Limit Pricing / Định Giá Giới Hạn
Các cách thức mà các hãng đã thiết lập cho một nghành công nghiệp có thể định giá với mục đích ngăn cẳn những đối thủ cạnh tranh mới muốn thâm nhập vào thị trường.
Limit Order / Lệnh Giới Hạn
Lệnh giới hạn là việc bạn chỉ thị cho người mội giới của mình mua một chứng khoán ở mức giá thấp hơn một mức giá cụ thể, còn gọi là mức giá giới hạn (limit price), hoặc là bán loại chứng khoán này ở mức giá cao hơn hoặc bằng với mức giá giới hạn. Để tránh phải mua hoăc bán một loại cổ phiếu ở mức giá cao hơn hoặc thấp hơn mức giá mà bạn mong muốn, bạn nên đưa ra “lệnh giới hạn” hơn là “lệnh thị trường”(market order) vì khi bạn đặt lệnh thị trường thì bạn không thể kiểm soát được mức giá mà tại đó lệnh của bạn được thực hiện. Ví dụ: nếu bạn muốn mua một loại cổ phiếu IPO thuộc dạng đang “hot” trên thị trường. Cổ phiếu này được chào bán ở thị trường sơ cấp với mức giá $9. Nếu bạn không muốn mua cổ phiếu này với mức giá cao hơn $20/ cổ phiếu, khi đó bạn nên chỉ thị cho người môi giới của mình bằng một lệnh giới hạn. Nếu đưa ra một lệnh thị trường, có thể mức giá lúc bạn đặt lệnh và lúc lệnh của bạn được khớp đã chênh lệch nhau rất nhiều, ví dụ bạn đặt lệnh lúc giá mới $18/ cổ phiếu và khi lệnh của bạn được khớp thì giá có thể đã bị đẩy lên tới $90/ cổ phiếu. Và như vậy bạn sẽ phải hứng chịu một khoản lỗ lớn nếu ngày sau hoặc tuần sau đó giá cổ phiếu sụt xuống. Nếu bạn đua ra lệnh giới hạn thì người môi giới của bạn sẽ chỉ thực hiện lệnh nếu mức giá thị trường còn ở dưới hoặc bằng với mức giá giới hạn là $20/ cổ phiếu. Tuy nhiên cũng cần nhớ rằng lệnh giới hạn của bạn có thể sẽ chẳng bao giờ thực hiện được bởi vì mức giá thị trường có thể nhanh chóng vượt mức giá giới hạn mà bạn đưa ra trước khi lệnh của bạn được thực hiện. Nhưng đưa ra lệnh giới hạn cũng có nghĩa là bạn có thể tự bảo vệ mình khỏi việc phải mua một loại cổ phiếu ở mức giá quá cao. Một vài công ty môi giới có thể thu phí thực hiện lệnh giới hạn cao hơn lệnh thị trường.
Likehood Function / Hàm Hợp Lý
Trong kinh tế lượng, một trung bình mà theo đó mô hình có khả năng thực nhất có thể được suy ra từ một tập hợp hữu hạn các quan sát đối với các sự kiện được cho là do mô hình tạo ra.





