Key Rate / Lãi Suất Chủ Yếu
Lãi suất kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp, lãi suất cho vay của ngân hàng và chi phí tín dụng thanh toán bởi người vay. Tại Mỹ thì lãi suất chiết khấu và lãi suất của các Qũy Liên bang (Fed Funds) là các lãi suất chủ yếu (chuẩn) được điều tiết bởi chính sách tiền tệ của Hệ thống Dự trữ Liên bang.
Key Man Insurance / Bảo Hiểm Nhân Viên Chủ Chốt
Chính sách bảo hiểm để bảo vệ một doanh nghiệp nhỏ hoặc liên doanh chống lại thua lỗ kinh doanh do sự qua đời hoặc tàn tật của người chủ sở hữu chính. Bên cho vay đôi khi yêu cầu các bên liên doanh hoặc các công ty cổ phần, giới hạn thực hiện việc bảo hiểm có tên người vay như bên chi trả khoản lỗ, trước khi mở rộng tín dụng, nếu họ tin rằng khoản lỗ của nhân viên then chốt sẽ gây cản trở khả năng doanh nghiệp thanh toán lại khoản vay cho ngân hàng.
Key / Khóa
Tập chỉ thị điều chỉnh mật mã và giải mã các thông điệp điện tử. Mỗi định chế tài chính tham gia vào hệ thống chuyển tiền vô tuyến hoặc mạng chuyển tiền điện tử, như mạng ATM, có một khóa nhận dạng duy nhất, gọi là khóa của bên phát hành.
Keefe Bank Index / Chỉ Số Ngân Hàng Keefe
Là chỉ số của trung tâm tiền tệ có trọng số theo mức vốn hóa và những ngân hàng khu vực, được tổng hợp bởi Keefe, Bruyette & Woods, một doanh nghiệp ngân hàng đầu tư thành phố New York chuyên về cổ phiếu ngân hàng. Tên đầy đủ là Chỉ số Lĩnh vực Ngân hàng KBW.
Kicker / Tiền Hoa Hồng
Đặc điểm bổ sung một khoản vay, ngoài việc chi trả tiền lãi thông thường, được bên cho vay yêu cầu như điều kiện để mở rộng tín dụng. Tác động nhằm làm tăng lợi suất trên kỳ hạn tài trợ. Theo quan điểm pháp lý thì khoản hoa hồng phải được công khai trong các khoản vay của khách hàng, như một phần chi phí tài chính, và trong một số trường hợp có thể vi phạm các bộ luật cho vay nặng lãi tiểu bang. Trong tài chính bất động sản, thì khoản hoa hồng là sự chia phần vốn cổ phần trong tổng số thu từ tài sản cho thuê, hoặc tiền đầu tư của chủ sở hữu trong chính tài sản đó. Trong hoa hồng vốn sở hữu, bên cho vay thu mức lãi suất đã đưa ra, cộng với phần trăm trên một khoản tiền nhất định. Những hình thức khác của khoản hoa hồng là chứng chỉ ưu tiên mua cổ phần, có thể thực hiện vào một ngày trong tương lai, và các quyền mua chứng khoán.
Know Your Client - KYC / Hiều Khách Hàng Của Bạn
Trong một số trường hợp, biểu mẫu này sẽ thay thế cho Bảng thông tin khách hàng. Cũng giống như CIS, nó yêu cầu chi tiết liên lạc và các thông tin khác có liên quan. Ngoài ra, cụm từ này được sử dụng khi đề cập đến luật “Hiểu Khách hàng của bạn”, mà nhiều thị trường đầu tư thi hành. Nó tuyên bố rằng bạn phải hiểu rõ khách hàng của bạn, và trừ khi bị lừa dối, bạn có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý nhất định cho các hành động có thể gây ra vấn đề trong tương lai của khách hàng.
Koych Transformation / Phép Biến Đổi Koyck
Một loạt các biến đổi mà trong đó một phương trình chứa một trễ phân phối giảm theo cấp số nhân có độ dài vô hạn được biến đổi thành một số số lượng hữu hạn các biến số, bao gồm một trễ không đồng nhất.
Kospi / Chỉ Số Kospi
Là một chuỗi các chỉ số phản ánh tổng thể trung tâm giao dịch chứng khoán Hàn Quốc và các thành phần của nó. Những chỉ số này được tính bằng cách lấy trung bình giá trị vốn hóa thị trường của các thông thành viên.Chỉ số này được giới thiệu vào năm 1983. Giá trị sàn là 100 được thiết lập ngày 4 tháng 1 năm 1980. Đến tháng 1 năm 2005, KOSPI gồm 683 công ty.Chỉ số KOSPI phổ biến nhất là chỉ số KOSPI 200, bao gồm 200 công ty đại chúng được giao dịch nhiều nhất trên sàn giao dịch chứng khoán Hàn Quốc. Chỉ số này được xem như phong vũ biểu cho các thay đổi trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc, và được sử dụng để so sánh hoạt động của các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư trên thị trường Hàn Quốc.Chỉ số KOSPI 200 đạt mức thấp nhất là 31,96 điểm ngày 16 tháng 6 năm 1988, và đạt mức cao nhất là 190,20 điểm ngày 11 tháng 5 năm 2006. Chỉ số KOSPI ngày 28 tháng 11 năm 2007
Kondratiev Cycle / Chu Kỳ Kondratiev
Chu kỳ Kondratiev là một lý thuyết về các chy kỳ kinh tế nổi tiếng được đặt theo tên của Nikolai Dmitriyevich Kondratiev (1892 - 1938) - một nhà kinh tế học người Nga. Lý thuyết này còn được gọi dưới những cái tên như Kondratiev waves, hay Grand supercycles. Kondratiev đã nhận dạng được các chu kỳ kinh tế kéo dài trong khoảng thời gian khoảng từ 50 đến 60 năm. Trong quyển sách mang tên The Major Economic Cycles xuất bản năm 1925, Ông đã chứng minh rằng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thực tế đã có sự ổn định và điều này là trái ngược với quan điểm của các nhà Maxism Xô Viết khi những người này cho rằng nền kinh tế tư bản luôn bất ổn và sự sụp đổ là điều không thể tránh khỏi. Chính quan điểm này mà Kondratiev không nhận được sự ủng hộ của Stalin. 8 năm trong tù là khoảng thời gian dài nhất trong cuộc đời ngắn ngủi 46 năm của Ông. Các thống kê của Kondratiev cho thấy các chu kỳ kinh tế thường kéo dài từ 50 đến 60 năm: Trong đợt sóng lên của Chu kỳ đầu, mức giá hàng hóa tăng từ năm 1789 đến 1814 (tức 25 năm); đợt sóng đi xuống được bắt đầu từ năm 1814 và kết thúc năm 1849 (35 năm); như vậy Chu kỳ đầu tiên kéo dài trong 60 năm. Đợt sóng lên của Chu kỳ thứ hai được bắt đầu năm 1849 và kết thúc năm 1873 (24 năm); sau đó lại đi xuống từ năm 1873 và kết thúc trong năm 1896 (23 năm); Chu kỳ thứ hai kéo dài 47 năm. Đợt sóng lên của Chu kỳ thứ ba bắt đầu từ năm 1896 và kết thúc sau đó 24 năm, tức năm 1920; đợt sóng đi xuống ngay sau đó và kết thúc khoảng năm 1946; vậy Chu kỳ thứ ba kéo dài khoảng 50 năm. Thống kê chu kỳ Kondratiev Minh họa sóng Kondratiev: Sau Kondratiev, vào giữa thập niên 50 của thế kỷ XX đã có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế xoay quanh vấn đề chu kỳ kinh tế, nổi bật trong số này là cuốn sách được xuất bản năm 1947 mang tên Cycles - The Science of Predictions của hai học giả Edward Dewey và Edwin Dakin. Trong cuốn sách này, hai tác giả đã thống kê và nghiên cứu về mức giá bán buôn từ năm 1790 cho đến năm 1940 và dự báo đến năm 2000. Hai Ông nhận thấy chu kỳ được tái lập trong khoảng thời gian 54 năm mà đã gọi tên cho Chu kỳ này trong cuốn sách là "Rhythm". Hình 1. Mức giá bán buôn từ năm 1800 Nguồn: Cycles - The Science of Predictions, 1947 Hình 2. Mức giá bán buôn từ năm 1800 loại trừ ảnh hưởng của chiến tranh. Nguồn: Cycles - The Science of Predictions, 1947 Giữa những năm 70 của thế kỷ XX, khi cuộc suy thoái kinh tế nổ ra, lý thuyết của Kondratiev được các nhà kinh tế vận dụng để lý giải nguyên nhân và cũng đồng thời để kiểm chứng giá trị của nó. Ngày nay, theo nhiều nghiên cứu thì tần suất các cuộc suy thoái và khủng hoảng diễn ra thường xuyên hơn, các chu kỳ đang có khuynh hướng được rút ngắn lại. Tham khảo thêm về Kondratiev Wave:http://www.angelfire.com/or/truthfinder/index22.htmlhttp://www.kwaves.com/kond_overview.htmhttp://www.angelfire.com/or/truthfinder/index7.htmlhttp://www.angelfire.com/or/truthfinder/index4.html
Knowledge Economy / Nền Kinh Tế Tri Thức
Nền kinh tế tri thức là một khái niệm mới được nhắc đến trong vài năm trở lại đây khi mà sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo môi trường cho sự phát triển và trao đổi tri thức trong cộng đồng nhân loại. Trong nền kinh tế tri thức thì thông tin và tri thức sẽ là thương phẩm chính, khác với nền kinh tế nông nghiêp hoặc công nghiệp nơi thương phẩm chính là nông sản hoặc sản phẩm công nghiệp thuần túy. Khái niệm kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do Tổ chức OPCD nêu ra "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống". Sau đó, năm 2003 chương trình "Tri thức vì sự phát triển" đã đưa ra một khái niệm rộng hơn: "Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển KT-XH. Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến công nghệ nước ngoài cũng như sự thích hợp hoá và sáng tạo hoá các tri thức cho những nhu cầu riêng biệt". Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống".
Knife Edge. / Điểm Tựa Mỏng Manh
Trong THUYẾT TĂNG TRƯỞNG, một vật cản đối với tăng trưởng ổn định khi Tốc độ tăng trưởng đảm bảo là không ổn định, ngoài vấn đề nữa là liệu tốc độ đảm bảo có ngang bằng Tốc độ tăng trưởng tự nhiên hay không.
Klein Goldberger Model / Mô Hình Klein Goldberger
Một mô hình KINH TẾ LƯỢNG cỡ vừa của nền kinh tế Mỹ cho giai đoạn 1929-1952 (không kể cả giai đoạn 1942-1945) đã có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc xây mô hình kinh tế lượng từ thời gian xuất bản năm 1955 đến nay.
Kiting / Gian Lận
1. Là hành động khai báo sai giá trị của công cụ tài chính nhằm mục đích kéo dài thời hạn tín dụng hoặc tăng cường khả năng tài chính cho công ty. 2. Đây là hành động gian lận bao gồm việc thay đổi hoặc phát hành Séc hay Hối phiếu trong khi khả năng tài chính của công ty không cho phép-công ty không có đủ lượng tiền mặt cần thiết. Việc Giả mạo thường xảy ra khi các công ty Tài chính không cung cấp được chứng khoán cho các giao dịch mua và bán theo đúng thời hạn quy định (trước ba ngày của thời hạn thanh toán). Đối với công ty không nhận được số chứng khoán cần thiết, công ty đó sẽ bị yêu cầu phải mua phần còn thiếu trên thị trường mở và đòi công ty có lỗi giao chậm (hoặc nợ) bất cứ chi phí phát sinh nào. Công ty mắc nợ sẽ thực hiện hàng động giả mạo nếu nó không mua được số chứng khoán cần thiết trên thị trường mở và và sẽ duy trì một short position (xem position), trì hoãn việc giao công cụ hoặc tham gia vào các giao dịch trái với quy định của SEC (Securities and Exchange Commission-Ủy ban Chứng khoán và Sở giao dịch) yêu cầu các giao dịch thương mại lành mạnh. Trong quá khứ các séc được thanh toán theo phương pháp bù trừ (clearing) giữa các ngân hàng luôn kéo dài thêm một khoảng thời gian. Các cá nhân thường lợi dụng đặc điểm này để viết séc "khống" (bad check/check kiting) để rút tiền mặt. Vì vậy các ngân hàng đã phải áp dụng các biện pháp bắt đặt cọc hoặc bắt trả thêm tiền khi tờ séc quay trở lại ngân hàng.
Kinked Demand Curve / Đường Cầu Gấp Khúc
Dựa trên giả thuyết rằng trong các thị trường có đặc điểm độc quyền nhóm, sự phụ thuộc lẫn nhau buộc các doanh nghiệp phải tin rằng giảm giá xuống dưới mức hiện hành sẽ bị các đối thủ làm theo, nhưng tình hình đó sẽ không diễn ra đối với trường hợp tăng giá.
Killer Bees / Người Bảo Vệ Kẻ Yếu
Killer Bees có nghĩa là: Người bảo vệ kẻ yếu. Những người giúp đỡ công ty tự vệ chống lại các nỗ lực muốn chiếm quyền của một công ty khác (takeover bid - đặt giá mua cao hơn giá thị trường nhằm chiếm quyền công ty kia). Killer Bees thường là những ngân hàng đầu tư lập ra các sách lược nhằm làm cho mục tiêu chiếm quyền trở nên kém hấp dẫn hay khó mà thụ đắc.
Kicker / Tác Nhân Khuyến Khích
Kicker có nghĩa là: Tác nhân khuyến khích. Tác nhân khuyến khích là lợi ích hay quyền lợi do người cho vay yêu cầu, hay người vay cung cấp để hợp đồng cho vay tiến hành thuận lợi hơn. Chẳng hạn như đối với các khoản vay bất động sản, bên cạnh lãi suất cho vay, người cho vay có thể được hưởng thêm số cổ phần trong tổng số thu nhập từ số dự án bất động sản đã được đầu tư (nếu vượt quá một khoản tiền nhất định nào đó). Theo luật cho vay tiêu dùng, thường người cho vay phải công nhận tác nhân khuyến thích là một phần của chi phí tài trợ vốn nhưng trong một số bộ luật khác điều này là không hợp lệ. Trong việc phát hành chứng khoán, một “tác nhân khuyến khích cổ phiếu” cho phép trái chủ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu phổ thông (còn gọi là cổ phiếu thường) nếu giá trị cổ phiếu vượt quá một mức độ xác định nào đó. Vì thế, trái chủ nhận được một chứng khoán góp vốn cổ phần bên cạnh lãi suất của trái phiếu.
Kickback / Tiền Cò
Kickback có nghĩa là Tiền cò.Thuật nghữ này được hiểu là cách thực hiện theo đó các công ty thương vụ tài chính thưởng cho những người buôn bán bằng tiền mặt, những người đã giảm giá chứng từ mua trả góp thông qua họ. Nhà nước và các hợp đồng tư người bán chi trả bí mật cho một người nào đó có công trong việc đưa cho hợp đồng hay thực hiện một thương vụ - đây là tiền đút lót bất hợp pháp. Cách hiểu khác: Quan hệ lao động việc làm bất hợp pháp theo đó người chủ đòi chi lại phần trăm tiền lương đã được luật pháp hay hợp đồng công đoàn lao động quy định, nếu công nhân còn muốn tiếp tục làm việc.
Keynesism / Trường Phái Kinh Tế Keynes
Vào những năm 30 của thế kỷ 20, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp diễn ra thường xuyên và nghiêm trọng tại các nền kinh tế Tây Âu và Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 cho thấy học thuyết "tự điều tiết" của trường phái cổ điển và cổ điển mới thiếu xác đáng. Lý thuyết "bàn tay vô hình" của A. Smith, học thuyết "cân bằng tổng quát" của L. Walras cũng không phát huy được hiệu quả và bảo đảm nền kinh tế phát triển khỏe mạnh. Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đòi hỏi Nhà nước can thiệp nhiều hơn vào nền kinh tế. Đây chính là các cơ sở hình thành và phát triển lý thuyết kinh tế của John Maynard Keynes. John Maynard Keynes (1884-1946) là nhà kinh tế học người Anh, giáo sư Đại học tổng hợp Cambridge, chuyên gia trong lĩnh vực tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ, cố vấn ngân khố quốc gia, thành viên Ban giám đốc ngân hàng Anh, chủ bút một tạp chí kinh tế. Tác phẩm nổi tiếng nhất của J.M Keynes là "Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ" (1936). Ông kịch liệt phê phán chính sách kinh tế của chủ nghĩa bảo thủ. Tính chất không ổn định của nền kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng lên là điều khiến Keynes lo lắng. Song, ông cho rằng, khủng hoảng và thất nghiệp không phải hiện tượng nội sinh của nền kinh tế, mà do chính sách kinh tế lỗi thời, bảo thủ và thiếu sự can thiệp của Nhà nước gây ra. Ông không đồng ý với quan điểm của trường phái kinh tế cổ điển và cổ điển mới về sự cân bằng kinh tế dựa trên cơ sở tự điều tiết của thị trường. Theo Keynes, muốn có cân bằng, Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế. Vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất với nền kinh tế là thất nghiệp và việc làm. Vì vậy, vị trí trung tâm trong lý thuyết Keynes là "việc làm." Lý thuyết kinh tế của J.M. Keynes đã mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình phát triển lý luận kinh tế (cả về chức năng tư tưởng lẫn thực tiễn). Đặc trưng nổi bật của học thuyết Keynes là đưa ra phương pháp phân tích vĩ mô. Theo ông, việc phân tích kinh tế phải xuất phát từ các tổng lượng lớn để nghiên cứu mối liên hệ giữa các tổng lượng và khuynh hướng biến chuyển của chúng để tìm ra công cụ, tác động và khuynh hướng, làm thay đổi tổng lượng. J.M Keynes đưa ra mô hình kinh tế vĩ mô với ba đại lượng: 1) Đại lượng xuất phát. Đại lượng này được coi là không thay đổi hoặc thay đổi chậm. Đó là các nguồn vật chất như tư liệu sản xuất, số lượng sức lao động, mức độ trang bị kỹ thuật của sản xuất, trình độ chuyên môn hóa của người lao động, cơ cấu của thể chế kinh tế. 2) Đại lượng khả biến độc lập. Đó là những khuynh hướng tâm lý như khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng tiết kiệm, ưa chuộng tiền mặt... Nhóm này là cơ sở hoạt động của mô hình, là đòn bẩy đảm bảo cho sự hoạt động của tổ chức kinh tế. 3) Đại lượng khả biến phụ thuộc. Đại lượng này cụ thể hóa tình trạng nền kinh tế như khối lượng việc làm, thu nhập quốc dân tính bằng đơn vị tiền công. Đó là các tiêu chí quan trọng cấu thành nền kinh tế. Các đại lượng này thay đổi theo sự tác động của các biến cố độc lập. Giữa các đại lượng khả biến độc lập và khả biến phụ thuộc có mỗi liên hệ với nhau. Nếu ký hiệu C là tiêu dùng, I là đầu tư, S là tiết kiệm, R là thu nhập và Q là giá trị sản lượng hiện tại thì: R = Q = C + I (1) S = R - C (2) Từ hai phương trình (1) và (2) suy ra đầu tư bằng tiết kiệm (I = S). J. M. Keynes cho rằng việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi phải khuyến khích tăng đầu tư và giảm tiết kiệm. Có như vậy, mới giải quyết được tình trạng khủng hoảng và thất nghiệp. Cũng như các đại biểu của trường phái cổ điển mới, phương pháp nghiên cứu của J. M. Keynes dựa trên cơ sở tâm lý chủ quan. Song, chỗ khác nhau là, trước đây các nhà kinh tế học của trường phái cổ điển mới dựa vào tâm lý cá biệt, còn Keynes dựa vào tâm lý xã hội. Trong lý thuyết của ông, phạm trù khuynh hướng tiêu dùng, tiết kiệm được xem là phạm trù tâm lý chung của toàn xã hội. Lý thuyết Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng và trao đổi. Keynes coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà kinh tế học phải giải quyết. Theo ông, cùng với sự tăng lên của việc làm, thì cũng phải có sự tăng lên của thu nhập, do đó, có sự tăng lên của tiêu dùng. Nhưng mức tăng tiêu dùng chậm hơn mức tăng thu nhập, nên cầu tiêu dùng, và do dó cầu có hiệu quả, giảm xuống. Đây là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, thất nghiệp, trì trệ trong nền kinh tế. Vì vậy, để đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm cân đối cung-cầu thì cần phải nâng cầu tiêu dùng, tìm biện pháp kích thích cầu có hiệu quả. Lý thuyết Keynes bởi vậy còn có tên gọi "lý thuyết trọng cầu."
Keynesian Economics / Kinh Tế Học Trường Phái Keynes
Một cụm thuật ngữ dùng để miêu tả các lý thuyết kinh tế vĩ mô về mức độ hoạt động kinh tế sử dụng các kỹ thuật do J.M.Keynes đưa ra.
Keynesian Economics / Kinh Tế Theo Phái Keyne
Keynesian economics có nghĩa là: Kinh tế theo phái Keynes. Nội dung tư tưởng kinh tế xuất phát từ nhà kinh tế học người Anh và là nhà cố vấn nhà nước John Maynard Keynes (1883-1946), tác phẩm đánh dấu một bước ngoặt, The General Theory of Employment Interest anh Money, được xuất bản năm 1935. Viết suốt thời kỳ đại khủng khoảng, Keynes tin rằng sự can thiệp tích cực của nhà nước trong thị trường là phương pháp duy nhất để bảo đảm kinh tế phát triển và ổn định. Ông ta giữ lập luận cơ bản là số cầu không đủ sẽ gây ra nạn thất nghiệp và số cầu quá mức gây ra lạm phát. Vì thế nhà nước sẽ phải tác động lôi kéo mức độ của toàn thể số cầu bằng cách điều chỉnh mức chi tiêu của nhà nước và thuế khoá. Thí dụ, để tránh giảm phát Keynes ủng hộ gia tăng chi phí nhà nước và có chính sách tháo khoán tiền tệ (easy money) sẽ đưa đến kết quả là có nhiều đầu tư hơn, công ăn việc làm nhiều hơn và gia tăng tiêu thụ. Kinh tế theo phái Keynes đã có ảnh hưởng rất lớn đối với các chính sách kinh tế chung của các quốc gia công nghiệp, kể cả Mỹ. Tuy nhiên trong thập niên 1980 sau các giai đoạn suy thoái liên tục, phát triển chậm, tỷ lệ lạm phát cao tại Mỹ, người ta có một quan điểm ngược lại, các nhà chủ trương chính sách tiền tệ và phái cung cấp (supply siders) đã buộc tội việc can thiệp quá mức của nhà nước đã gây ra những rắc rối cho nền kinh tế.





