Incremental Capital-Output Ratio / Tỷ Số Vốn / Sản Lượng Tăng Thêm (ICOR)
Số đơn vị VỐN tăng thêm cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản lượng tăng thêm.
Income-Sales Ratio / Tỷ Số Thu Nhập / Doanh Thu Tỷ Số Giữa Giá Trị Gia Tăng Và Tổng Doanh Thu Của Một Doanh Nghiệp Hay Một Ngành
Tỷ số giữa giá trị gia tăng và tổng doanh thu của một doanh nghiệp hay một ngành.
Incomes Policy / Chính Sách Thu Nhập
Ý định của chính phủ muốn kiểm soát tiền công bằng một hình thức can thiệp nào đó vào quá trình thương thuyết về tiền công.
Income Velocity Of Circulation / Tốc Độ Lưu Thông Của Thu Nhập
Số đo tốc độ lưu thông của tiền có nguồn gốc từ sự phân tích của trường phái Cambridge (xem QUANTITY, THEORY OF MONEY ), trong đó số lượng tiền mặt trung bình có quan hệ với mức thu nhập trong một thời kỳ nhất định.
Income Tax / Thuế Thu Nhập
Thuế thu nhập là loại thuế trực thu đánh vào các khoản thu nhập (tiền lương, địa tô, và cổ tức) của hộ gia đình nhằm tạo ra nguồn thu và công cụ cho chính sách tài chính. Thuế thu nhập thường có tính chấp lũy tiến, tức là khi thu nhập tăng, người nộp thuế được xếp vào nhóm thu nhập cao hơn và phải nộp mức thuế (tức là mức thuế suất) cao hơn. Những thay đổi trong mức thuế thu nhập có thể được sử dụng làm công cụ của chính sách tài chính để điều tiết tổng mức cầu trong nền kinh tế. Khi thuế thu nhập tăng, thu nhập cá nhân có thể sử dụng vào mục đích chi tiêu cho tiêu dùng bị giảm. Ngược lại, khi thuế thu nhập giảm, thu nhập cá nhân sử dụng tăng, qua đó làm tăng mức chi tiêu cho tiêu dùng. Thuế thu nhập còn được sử dụng để tái phân phối thu nhập theo chính sách xã hội của chính phủ. Hai loại thuế thu nhập cơ bản là Thuế thu nhập cá nhân và Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Đây là một loại thuế quan trọng nhất ở Anh và đóng một vai trò quan trọng trong các chế độ tài chính của tất cả các nước phương Tây.
Income Statement / Earnings Statement / Báo Cáo Thu Nhập
Là báo cáo tài chính chỉ ra doanh thu và chi phí và thông báo mức độ lợi nhuận của một tổ chức kinh doanh trong một thời kì xác định. Báo cáo thu nhập đôi khi còn được gọi là báo cáo Lãi Lỗ (Profit and Loss Statement). Ví dụ: Dưới đây là báo cáo thu nhập của công ty A, kinh doanh trường đua ngựa. Doanh thu Phí đặt cược 3000 USD Phí học đua ngựa 2800 USD Tổng doanh thu 5800 USD Chi phí Phí thuê trại 1200 USD Phí mua thức ăn 800 USD Lương nhân viên 70 USD Chi phí khác 600 USD Tổng chi phí 3300 USD Thu nhập 2500 USD
Income Statement / Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh thể hiện các kết quả của hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định. Ở đây cụm từ “khoảng thời gian nhất định” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không giống như bảng cân đối kế toán, vốn là bảng tóm tắt vị trí của doanh nghiệp tại một thời điểm, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả tích lũy của hoạt động kinh doanh trong một khung thời gian xác định. Nó cho biết liệu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có đem lại lợi nhuận hay không - nghĩa là liệu thu nhập thuần (lợi nhuận thực tế) dương hay âm. Đó là lý do tại sao báo cáo kết quả kinh doanh thường được xem là báo cáo lỗ lãi. Ngoài ra, nó còn phản ánh lợi nhuận của công ty ở cuối một khoảng thời gian cụ thể - thường là cuối tháng, quý hoặc năm tài chính của công ty đó. Đồng thời, nó còn cho biết công ty đó chi tiêu bao nhiêu tiền để sinh lợi - từ đó bạn có thể xác định được tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu của công ty đó. Báo cáo kết quả kinh doanh được thể hiện bằng một biểu thức đơn giản như sau: Doanh thu - Chi phí = Thu nhập thuần (hoặc Lỗ thuần) Một báo cáo thu nhập bắt đầu bằng doanh thu: số tiền thu được từ việc bán hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng. Một công ty cũng có thể có các khoản doanh thu khác. Trong nhiều trường hợp, những khoản này đến từ các khoản đầu tư hoặc thu nhập lãi suất từ số dư tiền mặt. Sau đó, lấy doanh thu này trừ đi những chi phí khác - từ chi phí sản xuất và lưu kho hàng hóa, đến việc khấu hao nhà xưởng và trang thiết bị, chi phí lãi suất và thuế. Số tiền còn lại là thu nhập thuần, hay còn gọi là lợi nhuận thuần, trong khoảng thời gian lập báo cáo. Hãy xem xét ý nghĩa của các mục khác nhau trên báo cáo kết quả kinh doanh của một công ty. Giá vốn hàng bán là những khoản mà công ty dùng cho việc sản xuất sản phẩm. Con số này bao gồm chi phí nguyên vật liệu thô cũng như toàn bộ chi phí chế biến thành phẩm, gồm cả chi phí lao động trực tiếp. Lấy doanh thu bán hàng trừ giá vốn hàng bán, ta được lợi nhuận gộp - ước tính sơ bộ về khả năng lợi nhuận của công ty. Loại chi phí quan trọng kế tiếp là chi phí hoạt động. Chi phí hoạt động bao gồm lương nhân viên, tiền thuê, chi phí bán hàng và tiếp thị, và những chi phí kinh doanh khác không trực tiếp quy vào chi phí sản xuất sản phẩm. Nguyên liệu để sản xuất giá treo không được tính vào đây, mà chỉ bao gồm chi phí quảng cáo và lương nhân viên. Khấu hao được tính trong báo cáo kết quả kinh doanh như một khoản chi phí, dù nó không liên quan đến các khoản thanh toán tiền mặt. Khấu hao là cách ước tính “mức tiêu thụ” của một tài sản, hoặc việc giảm giá trị trang thiết bị theo thời gian. Ví dụ, một chiếc máy vi tính mất khoảng 1/3 giá trị trong năm đầu sau khi mua. Vì vậy, công ty không thể tiêu tốn toàn bộ giá trị của chiếc máy tính trong năm đầu mà trên thực tế nó được sử dụng trong ba năm. Ý tưởng đằng sau khấu hao này là nhằm nhận ra giá trị bị sụt giảm của một tài sản nào đó. Lấy lợi nhuận gộp trừ chi phí hoạt động và khấu hao, ta được lợi nhuận hoạt động. Những khoản lợi nhuận này thường được gọi là lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT). Chúng ta tiếp tục xem những khoản giảm trừ cuối cùng đối với doanh thu. Chi phí lãi suất là lãi suất phải trả từ các khoản vay mà một công ty sử dụng. Thuế thu nhập - thuế thu bởi chính phủ trên thu nhập của công ty, là khoản cuối cùng phải nộp. Phần doanh thu còn lại được gọi là thu nhập thuần, hoặc lợi nhuận thực tế. Nếu thu nhập thuần có giá trị dương thì công ty làm ăn có lãi. Ngược lãi nếu thu nhập thuần có giá trị âm thì có nghĩa là công ty bị thua lỗ. Ý nghĩa của báo cáo kết quả kinh doanh Cũng như với bảng cân đối kế toán, phân tích về báo cáo kết quả kinh doanh của một công ty được hỗ trợ rất nhiều khi thể hiện bằng định dạng đa kỳ. Điều này cho phép chúng ta phát hiện các xu hướng và sự chuyển biến. Hầu hết các báo cáo thường niên cung cấp các dữ liệu đa kỳ, trong vòng 2 năm hoặc hơn (các báo cáo của các công ty nước ngoài thường là 5 năm). Ví dụ, trong mẫu định dạng nhiều năm của công ty XYZ, chúng ta thấy doanh số bán lẻ hàng năm của công ty dần dần tăng, trong khi doanh số bán hàng của công ty vẫn giữ nguyên và thậm chí có xu hướng giảm nhẹ, tuy nhiên, chi phí hoạt động luôn giữ nguyên ngay cả khi tổng doanh số tăng lên. Khi đó chúng ta có thể kết luận đây là dấu hiệu tốt đối với quản lý vì nó giúp duy trì chi phí để hoạt động kinh doanh. Nếu chi phí lãi suất của công ty cũng giảm đi, thì chúng ta có thể suy đoán khả năng công ty đã thanh toán một trong các khoản vay của mình. Cuối cùng nếu là thu nhập thuần tăng đều qua các năm, thì có nghĩa là công ty đang tăng trưởng tốt.
Income Shares / Cổ Phần Lợi Tức
Cổ phần lợi tức là một trong hai loại hay hạng loại của chứng khoán vốn do quỹ mục đích kép (dual purpose fund) phát hành hay do công ty đầu tư phân đôi, loại kia là cổ phần vốn (catpital shares). Người giữ cổ phần lợi tức nhận cổ tức của cả hai hạng loại cổ phần, xuất phát từ lợi tức (cổ tức và lãi suất) do danh mục đầu tư mang lại, trong khi đó người giữ cổ tức tư bản (vốn) nhận lợi nhuận tư bản chi trả cho cả hai hạng loại. Cổ phần lợi tức thông thường có một bảo đảm lợi tức ít nhất, nó có tính tích luỹ.
Income Property / Tài Sản Mang Lại Lợi Tức
Tài sản được mua hoặc phát triển lên nhằm mục đích mang lại thu nhập thông qua việc cho thuê hay nâng giá. Tài sản này có thể được đặt dưới sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm kiếm lợi tức (Income Limited Partnership), cũng có thể được sở hữu bởi cá nhân hoặc công ty. Tài sản mang lại lợi tức có thể phục vụ mục đích cư trú (residential) hoặc thương mại (commercial). Tài sản mang lại lợi tức thuộc nhà ở thường được nhắc đến như tài sản "không xác định người sở hữu" (non-owner occupied). Một tài sản "không xác định quyền sở hữu" khi thế chấp sẽ phải chịu lãi suất cao hơn tài sản "xác định quyền sở hữu" (owner occupied) bởi vì với các nhà cho vay, loại tài sản này có mức rủi ro cao hơn. Một hoạt động thường gặp trong suốt thời kỳ nâng giá nhà đối với các nhà đầu tư vàđầu cơ mua tài sản mang lại lợi tức thuộc nhà ở là họ sẽ cho thuê nhà ở đó để bù vào chi phí hàng tháng cho đến thi bán lại được tài sản đó với thặng dư vốn lớn. Trong những thời kì mà thị trường tăng giá nhanh với bong bóng thị trường, những ai xâm nhập thị trường đầu tiên và rút ra khỏi thị trường đầu tiên có thể kiếm được lời lớn. Những người chậm chân kết quả thu về sẽ không cao như thế.
Income Property / Tài Sản Có Lợi Tức
Income property: Tài sản có lợi tức.Tài sản có lợi tức là bất động sản được mua vì nó có phát sinh ra lợi tức. Tài sản có thể trong phần góp vốn trách nhiệm hữu hạn có lợi tức, hay do cá nhân hoặc do công ty sở hữu. Người mua cũng hy vọng kiếm được lợi nhuận tư bản khi bán tài sản.
Income Maintenance / Duy Trì Thu Nhập
Các chính sách được đề ra nhằm nâng mức thu nhập của một số nhóm người hay cá nhân nào đó.
Income Limits / Giới Hạn Thu Nhập
Những khoản tiền tối đa mà các gia đình có thu nhập thấp hoặc trung bình có thể đủ điều kiện hưởng những khoản tiền thuê nhà có trợ cấp hoặc thế chấp lãi suất thấp. Những giới hạn này căn cứ trên quy mô gia đình và vị trí địa lý.
Những khoản tiền tối đa mà các gia đình có thu nhập thấp hoặc trung bình có thể đủ điều kiện hưởng khoản tiền thuê nhà có trợ cấp hoặc thế chấp lãi suất thấp. Những giới hạn này căn cứ trên quy mô gia đình và vị trí địa lý.
Income Limited Partnership / Tổ Chức Góp Vốn Hữu Hạn
Income limited partnership có nghĩa là: Tổ chức góp vốn trách nhiệm hữu hạn, nhằm kiếm lợi tức. Các doanh nghiệp góp vốn trách nhiệm hữu hạn về bất động sản, dầu hoả, gas, trang thiết bị thuê mướn, mục đích là kiếm lợi tức cao, hầu hết có thể bị đánh thuế. Việc góp vốn như thế được lập ra là để cho các tài khoản có điều kiện để tránh thuế giống như tài khoản hưu trí cá nhân, tài khoản kế hoạch Keogh hay kế hoạch hưu trí.
Income Investment Company / Công Ty Đầu Tư Kiếm Lợi Tức
Income investment company: Công ty đầu tư kiếm lợi tức.Công ty đầu tư kiếm lợi tức là công ty quản trị, điều hành quỹ hỗ tương đầu tư nghiêng về kiếm lợi nhuận cho các nhà đầu tư, những người đánh giá lợi tức sẽ phát triển thêm lên. Các quỹ này có thể đầu tư trái phiếu hay chứng khoán có cổ tức cho hay có thể viết (bán) Call Option có bảo kê bằng chứng khoán.
Income Funds / Nhóm Quỹ Với Mục Tiêu Thu Nhập
Bảng sau đấy sẽ chia nhỏ hơn những loại quỹ nhằm mục tiêu thu nhập. Loại quỹ Mục tiêu đầu tư Rủi ro tiềm tàng Một quỹ thường mua gì? Trái phiếu CQNN Thu nhập và các khoản lãi vốn đều đặn Giá trị và các khoản lợi tức phụ thuộc vào lãi suất Các chứng khoán do các cơ quan CP Mỹ bảo trợ và các cơ quan có liên quan phát hành Trái phiếu doanh nghiệp Thu nhập ổn định Thay đổi lãi suất và lạm phát Trái phiếu doanh nghiệp có lãi suất cao với thời hạn khác nhau Trái phiếu lợi suất cao Thu nhập hiện tại cao nhất Trái phiếu rủi ro cao có nguy cơ không trả được nợ Trái phiếu doanh nghiệp lãi suất thấp và không lãi, TP chính phủ Thị trường tiền tệ quốc tế Thu nhập và các khoản lợi nhuận tiền tệ khác Thay đổi của giá trị đồng tiền và lãi suất Các chứng khoán ngắn hạn và CDs (chứng chỉ tiền gửi) Trái phiếu đô thị Thu nhập không chịu thuế Thay đổi lãi suất và lạm phát Trái phiếu đô thị có thời hạn khác nhau Các khoản nợ ngắn/ trung hạn Thu nhập Rủi ro thua lỗ ít. Ít chịu ảnh hưởng của các thay đổi trong lãi suất Các loại nợ khác nhau, có thời hạn khác nhau, phụ thuộc vào loại quỹ Trái phiếu kho bạc Mỹ Thu nhập ổn định Thay đổi lãi suất và lạm phát Trái phiếu chính phủ lãi suất cao
Income Elasticity Of Demand / Co Giãn Của Cầu Theo Thu Nhập
Đo lường mức độ phản ứng của lượng cầu về một hàng hoá đối với một mức thay đổi về mức thu nhập của những người có yêu cầu về hàng hoá này.
Income Effect / Hiệu Ứng Thu Nhập, Ảnh Hưởng Thu Nhập
Một sự thay đổi giá cả của một hàng hoá sẽ làm giảm hay tăng thu nhập thực tế của người tiêu dùng.
Income Effect / Hiệu Quả Của Lợi Tức
Income effect: Hiệu quả của lợi tức.Hiệu quả của lợi tức là tác động của thay đổi giá cả trên sức mua của người tiêu thụ. Khi giá của một loại sản phẩm giảm thì người tiêu thụ có lợi tức ổn định sẽ có nhiều trên hơn đế có thể chi tiêu các sản phẩm khác. Trong khi hiệu quả của lợi tức tạo nên sự phát triển trong một vài lĩnh vực thì một ngành nào đó có giá đang hạ lại kiếm được lợi nhuận kém hơn.
Income Distribution / Sự Phân Phối Lợi Tức
Income distribution: Số phân phối lợi tức. Số phân phối lợi tức là lợi nhuận trả cho nhà đầu tư trong quỹ hỗ tương đầu tư hay uỷ thác theo đơn vị. Lợi tức được phân phối theo tỷ lệ sở hữu cổ phần, tính từ tổng lợi nhuận trừ cho lệ phí quản lý và thuế.
Income Differentials / Sự Khác Biệt Về Thu Nhập
Sự khác nhau về mức thu nhập giữa những người khác nhau. Sự khác nhau này thường là do các loại công việc như sự khác biệt về kỹ năng làm việc, về vị trí địa lý trong đó một số vùng có thể có mức tiền công cao hơn vùng khác, hay có thể có sự khác nhau giữa mức tiền công ở thành thị và nông thôn.





