Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Infant Industry Argument For Protection / Luận Điểm Bảo Hộ Ngành Công Nghiệp Non Trẻ

Một trong những lý lẽ bảo hộ lâu đời nhất cho rằng một ngành công nghiệp là mới đối với đất nước và nhỏ hơn quy mô tối ưu có thể không có khả năg đứng vững trong cạnh tranh với nước ngoài trong thời kỳ non trẻ.

Infant Industry / Ngành Công Nghiệp Non Trẻ

- Trong tiếng Anh, từ "infant" có nghĩa đen là người mới vào nghề, "lính mới". Nó có thể được hiểu là ở thời kỳ sơ khai. Infant industry là ngành công nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển, thị trường nội địa còn nhỏ do sự cạnh tranh của các đối thủ nước ngoài. Do vậy, điều này có nghĩa là các doanh nghiệp trong nước đang sản xuất ở mức sản lượng thấp hơn nhiều so với quy mô hiệu quả tối thiểu. Nhiều người cho rằng đối với ngành công nghiệp này, thuế quan có vai trò như một sự bảo hộ chống lại cạnh tranh quốc tế trong khi các ngành này lớn dần lên và đạt được khả năng cạnh tranh về chi phí thông qua việc có được tính kinh tế nhờ quy mô.Ở Việt Nam, rất nhiều ngành công nghiệp được coi là những ngành còn non trẻ như: hàng không, công nghệ thông tin, sản xuất và lắp ráp ôtô...

Inequality / Bất Đẳng Thức

Quan hệ nói lên một hàm số của một biến (hay một tập hợp các biến) lớn hơn hay nhỏ hơn một số nào đó.

Industry / Ngành Công Nghiệp

Một ngành trong khuôn khổ CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO có thể được định nghĩa là một số lớn doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong việc sản xuất MỘT SẢN PHẨM ĐỒNG NHẤT.

Industrialization / Industrial Revolution / Cách Mạng Công Nghiệp

Quá trình Công nghiệp hóa hoặc một cuộc cách mạng công nghiệp là một quá trình thay đổi về xã hội và kinh tế theo đó một nhóm người được chuyển từ một xã hội tiền công nghiệp (một nền kinh tế trong đó lượng tư bản tích lũy trên đầu người thấp) đến một xã hội công nghiệp (một nền kinh tế tư bản phát triển đầy đủ). Đó là một quá trình hiện đại hóa rộng hơn, những thay đổi về xã hội và kinh tế này liên quan chặt chẽ đến những cải cách trong công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của ngành năng lượng trên quy mô lớn, và sản xuất nguyên vật liệu theo phương pháp khoa học. Công nghiệp hóa cũng mang đến một số thay đổi trong tâm lí học, và nhân sinh quan. Các cuộc cách mạng công nghiệp của thế giới bắt đầu vào thế kỉ thứ 18 đến thế kỉ 19 ở vùng Tây Bắc nước Anh. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 xảy ra với các thay đổi về năng lượng, động cơ đốt trong, và dây chuyền sản xuất hàng loạt. Vào thế kỉ thứ 16 và 17, nước Anh chứng kiến sự ra tăng đột ngột trong sản lượng nông nghiệp vì vậy được gọi là Cách mạng nông nghiệp, điều này cho phép dân số ra tăng nhanh chưa từng thấy, giải phòng 1 tỉ lệ nhân lực lớn, và như vậy là động lực thúc đẩy các cuộc cách mạng công nghiệp. Nhân công không yêu thích nghề nông bởi vì đất đai thiếu thốn, ngoài ra, điều này còn không cần thiết bởi vì năng suất lao động nông nghiệp đã được cơ giới hóa cho phép một người nông dân có thể làm việc gấp nhiều người lao động chân tay trước kia. Mặt khác, các kĩ thuật canh tác mới đòi hỏi số máy móc nhiều hơn,và các công cụ sản xuất khác thường được cung cấp bởi các thợ thủ công. Các thợ thủ công này đã phải thuê thêm nhân công để tăng sản lượng và đáp ứng với nhu cầu trên thị trường. Ngành kinh doanh của họ cùng với việc thiếu kinh nghiệm của các công nhân mới đã kích thích việc hợp lí hóa và tiêu chuẩn hóa các công đoạn làm việc trong các công trường và vì vậy dẫn tới sự phân công lao động, đó là hình thức nguyên thủy của chủ nghĩa Fordism. Quá trình tạo ra sản phẩm được chia ra thành các công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn dần đần được cơ giới hóa để tăng năng suất, và sau đó là thu nhập. Việc tích tụ tư bản cho phép các vụ đầu tư vào việc sáng tạo và ứng dụng phương pháp kĩ thuật mới, từ đó nuôi dưỡng quá trình công nghiệp hóa hình thành. Cơ giới hóa sản xuất trải rộng ở các nước Tây và Bắc Âu cho đến các nước thuộc địa của anh, làm cho các nước đó trở thành giầu có nhất lúc bấy giờ, và tạo ra một thế giới ngày nay gọi là Phương Tây.

Industrialization / Công Nghiệp Hoá (Ở Các Nước Đang Phát Triển)

Sự phát triển của các ngành công nghiệp được coi là chiến lược phát triển chung.

Industrial Zone / Khu Công Nghiệp

Khu công nghiệp (KCN) là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. KCN là một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng KCN kết cấu hạ tầng và hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý. Vì vậy, việc phân bố KCN Mỹ Xuân A2 đảm bảo thõa mãn các điều kiện sau: Có khả năng xây dựng KCN kết cấu hạ tầng thuận lợi, có hiệu quả, có mặt bằng để mở rộng và nếu có thể liên KCN kết thành các cụm công nghiệp. quy mô KCN và qui mô xí nghiệp công nghiệp phải phù hợp với đặc điểm công nghệ gắn với điều kiện KCN kết cấu hạ tầng. Có khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu tương đối thuận lợi, có cự ly vận tải thích hợp. Có thi trường tiêu thụ sản phẩm.   Có khả năng đáp ứng nhu cầu lao động cả về số lượng và chất lượng với chi phí tiền lương thích hợp.             Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa, nhằm giữ được an toàn lương thực cho quốc gia trong chiến lược dài hạn.            Kết hợp chặt chẽ việc pháy triển các KCN với qui mô đô thị, phân bố dân cư.            Phát triển công nghiệp gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng. Việc xây dựng các KCN phải đảm bảo khai thác có hiệu quả cao nhất tiềm năng phát triển và thế mạnh của các vùng kinh tế của đất nước.

Industrial Wage Structure / Cơ Cấu Tiền Công Theo Ngành

Việc xếp hạng mức trả công trung bình của các nhóm công nhân khác nhau được phân loại theo ngành mà họ làm việc.

Industrial Wage Differentials / Chênh Lệch Về Tiền Công Giữa Các Ngành

Các chênh lệch về mức trả công trung bình của các nhóm công nhân được phân loại theo ngành mà họ làm việc.

Industrial Unions / Nghiệp Đoàn Theo Ngành

Nghiệp đoàn là tổ chức của tất cả các công nhân trong một ngành bất kể chuyên môn của họ là gì. Xem GENERAL UNION.

Industrial Reorganization Corporation / Công Ty Cải Tổ Công Nghiệp

Một tổ chức độc lập được một chính phủ Anh lập ra vào năm 1966 rồi sau đó bị một chính phủ Anh khác giải tán vào năm 1971. Mục đích của tổ chức là tăng hiệu quả của khu vực công nghiệp trong nền kinh tế thông qua việc khuyến khich hợp lý hoá và hợp nhất các doanh nghiệp "nhỏ" thành các đơn vị lơn hơn và hy vọng có hiệu quả lớn hơn.

Industrial Relation / Các Quan Hệ Lao Động

Nghiên cứu và thực hành các quy tắc chi phối việc làm.

Industrial Organization / Tổ Chức Công Nghiệp

Thông thường, đây là lĩnh vực của LÝ THUYẾT GIÁ CẢ ỨNG DỤNG. Nó quan tâm đến sự vận hành của nền kinh tế thị trường và nhìn chung là nó tiếp cận theo cơ cấu thị trường, sự điều hành và kết quả của thị trường.

Industrial Inertia / Tính Ỳ Công Nghiệp

Một cụm thuật ngữ được sử dụng để mô tả một hiện tượng, các doanh nghiệp không thay đổi được vị trí địa lý khi vị trí hiện tại không còn là một vị trí mang lại nhiều lợi nhuận nhất nữa.

Industrial Dispute / Tranh Chấp Lao Động

Mọi sự bất đồng hay sự bất hoà hoặc là giữa chủ và người làm thuê hoặc là giữa những người làm thuê về thời hạn và điều kiện làm việc của một người, một nhóm người hay là tình trạng không có việc làm của một người.

Industrial Development Certificate / Chứng Chỉ Phát Triển Công Nghiệp.

Một sự kiểm soát trước đây về xây dựng công nghiệp được hình thành theo Đạo luật Kế hoạch hoá quận và thị xã năm 1947, đòi hỏi phải có một chứng chỉ (IDC) trước khi xây dựng hay mở rộng một khu công nghiệp quá một quy mô nhất định. Sau khi thông qua Luật Công nghiệp năm 1972, IDCS không còn cần cho sự phát triển trong CÁC KHU VỰC CẦN PHÁT TRIỂN hay các KHU VỰC ĐẶC BIỆT CẦN PHÁT TRIỂN và IDCS thực tế đã bị bỏ từ năm 1982.

Industrial Democracy / Dân Chủ Công Nghiệp

Một sự mở rộng quá trình ra quyết định trong phạm vi một xí nghiệp từ một nhóm nhỏ theo hướng cho toàn thể lực lượng làm việc.

Industrial Complex Analysis / Phân Tích Tổ Hợp Công Nghiệp

Một kỹ thuật được sử dụng trong kế hoạch hoá vùng lãnh thổ, nó tập trung vào phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hoạt động công nghiệp được thực hiện trên cùng một vùng địa lý.

Industrial Cluster / Cụm Công Nghiệp

Cụm công nghiệp (khu công nghiệp) là sự tập trung địa lí của những công ty có mối liên hệ với nhau về mặt cung cấp như: người cung cấp nguyên vật liệu hay người cung cấp dịch vụ, và những ngành công nghiệp hoặc tổ chức liên quan. Các cụm công nghiệp mọc lên bởi sự gia tăng của sự tập trung kinh tế, cơ cấu hạ tầng địa phương thuận lợi, hệ thống trao đổi có sẵn, sự đầu tư có tổ chức của chính phủ, chi phí giao dịch và thông tin giảm. Đây là những lợi thế của cụm công nghiệp tập trung. Ngày nay các quốc gia đang khuyến khích sự tập trung mạnh mẽ hơn nữa, bởi vì việc tập trung như vậy đem lại lợi thế cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế. Một ví dụ điển hình về khu công nghiệp tập trung đó là thung lũng phần mềm và công nghệ thông tin Silicon Valley của Carlifornia.

Industrial Bank / Ngân Hàng Công Nghiệp

Công ty tài chính được tiểu bang cấp phép thực hiện các khoản cho vay tiêu dùng và cho vay thương mại, đồng thời chấp nhận các khoản ký gởi kỳ hạn và các tài khoản lệnh rút tiền khả nhượng có thanh toán lãi. Những ngân hàng công nghiệp, trước đây có trong 16 tiểu bang, ngày nay được cấp phép tại 5 tiểu bang, hầu hết thuộc miền Tây nước Mỹ. Thuật ngữ này bắt nguồn từ các công ty tài chính đầu thế kỷ 20, bắt đầu có các khoản cho vay dành cho các công nhân công nghiệp; từ đó, hầu hết các ngân hàng thương mại đều không cung cấp các khoản cho vay tiêu dùng. Cũng được gọi là ngân hàng cho vay công nghiệp hoặc công ty cho vay công nghiệp.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55