Investor Relations / Quan Hệ Nhà Đầu Tư
Quan hệ nhà đầu tư là một mảng thuộc truyền thông doanh nghiệp chuyên về quản lí và công bố thông tin cho công chúng, ở cả công ty đại chúng và các công ty tư nhân do họ phải truyền thông với cộng đồng đầu tư nói chung. Mảng này có chức năng giải quyết các thắc mắc từ cổ đông và nhà đầu tư, cũng như những người có quan tâm đến cổ phiếu và tình hình ổn định tài chính của công ty. Thông thường, Phòng quan hệ nhà đầu tư sẽ báo cáo cho Giám đốc tài chính. Ở một số công ty, mảng quan hệ công chúng được quản lý bởi phòng Quan hệ công chúng hoặc phòng truyền thông doanh nghiệp. Hiện nay có rất nhiều công ty đại chúng có các cán bộ chuyên phụ trách quan hệ nhà đâu tư (IRO) có nhiệm vụ giám sát tất cả các vấn đề về họp đại hội cổ đông, họp báo, họp riêng với nhà đầu tư, mảng quan hệ nhà đầu tư trên website của công ty, và báo cáo thường niên của công ty.
Investor Relation Officer (IRO) / Phụ Trách Quan Hệ Nhà Đầu Tư
Quan hệ với cổ đông là một trong những nhiệm vụ quan trọng tạo nên uy tín cho doanh nghiệp. Việc các doanh nghiệp lớn trên thế giới xây dựng bộ phận chuyên trách hoặc thuê một công ty chuyên về quan hệ cổ đông để phục vụ cho hoạt động của mình là rất phổ biến và những nhân viên quan hệ nhà đầu tư (Investor Relation Officier - IRO) đóng vai trò then chốt trong nhiệm vụ này. IRO là người được công ty chỉ định để phát ngôn bằng danh nghĩa công ty với tất cả những tác nhân trong cộng đồng tài chính, nhất là những nhà phân tích, những nhà quản lý quỹ, những NĐT, những cổ đông nhỏ lẻ, những công ty lưu ký, những cơ quan pháp luật và cả các báo tài chính, kinh tế. IRO cung cấp thông tin về triển vọng của công ty, những biến động của thị trường, những đặc tính tài chính, môi trường kinh doanh của công ty... cho phép những ai quan tâm có những dữ liệu cần thiết đánh giá được tình hình thực tế và tiềm năng của công ty. IRO cũng đóng vai trò phổ biến kiến thức, diễn giải, phân tích những tác nhân chính có thể có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty. Do đó, IRO gián tiếp góp phần vào hiệu quả kinh doanh của công ty thông qua sự tăng giá ổn định của CP và gia tăng số lượng cổ đông, xây dựng niềm tin cho những cổ đông của mình. Nhờ vậy, công ty có khả năng huy động một số vốn cao nhất với chi phí hợp lý nhất cho hoạt động kinh doanh, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của toàn xã hội. IRO cũng phản ánh cho lãnh đạo công ty sự tiếp nhận và phản ứng của thị trường đối với thông tin liên quan tới công ty. Với vị trí đặc biệt như vậy, rất gắn bó với người lãnh đạo công ty đồng thời luôn gắn kết với thị trường, IRO đóng góp một cách thường xuyên và liên tục cho việc nghiên cứu và hoạch định chiến lược của công ty.
Investor / Nhà Đầu Tư
Nhà đầu tư là một bên bất kỳ tham gia vào một vụ đầu tư. Tuy nhiên, thuật ngữ được hiểu theo một nghĩa xác định trong ngành tài chính, nó được dùng để chỉ những người hoặc những công ty thường xuyên mua vốn sở hữu hoặc các chứng khoán nợ nhằm mục đích tài chính tài trợ cho một công ty đang phát triển. Thuật ngữ này đôi khi cũng được dùng cho các bên tham gia mua bất động sản, tiền tệ, hàng hóa, chứng khoán phái sinh, tài sản cá nhân và các tài sản khác.
Investment Trust / Tờ-Rớt Đầu Tư
Một công ty với chức năng đầu tư vào các tổ chức khác.
Investment Grants / Trợ Cấp Đầu Tư
Các khoản tiền do chính phủ hay các tổ chức khác cung cấp nhằm mục đích khuyến khích các doanh nghiệp chi tiêu mua vốn vật chất.
Investment Fund (Investment Club / Balanced Fund / Diversified Fund) / Quỹ Đầu Tư
Thị trường chứng khoán là nơi tập hợp không biết cơ man nào các hàng hoá (chứng khoán), thế nên cho dù chỉ tập trung vào một lĩnh vực thì nhà đầu tư cũng không làm sao nắm bắt hết các chiều hướng chuyển biến của nó. Trên thị truờng còn thời kỳ trứng nước như Việt Nam hiện nay, đa số các nhà đầu tư lại là những người không chuyên nghiệp, nhiều nhà đầu tư lớn đã phải thuê các cố vấn riêng. Những nhà đầu tư khác vì lý do nào đó không thể tự quản lý việc mua bán trong các danh mục đầu tưcủa mình có thể mở các chương mục uỷ thác phân quyền (advisory account) hoặc những chương mục uỷ thác toàn quyền (discretionary account) tại các trung tâm môi giới. Và cùng với thời gian, thị trường đã hình thành một định chế giúp các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nhỏ, thực hiện đầu tư tốt nhất vào thị trường chứng khoán được gọi là các quỹ đầu tư. Trước tiên có thể nói ngay rằng đây là một định chế tài chính phi ngân hàng, là nơi tập trung mọi nguồn vốn từ các nhà đầu tư nhỏ lẻ để tạo thành quỹ vốn qui mô lớn và thực hiện đầu tư như một chủ thể duy nhất. Nhà đầu tư không hưởng lợi trực tiếp từ các cổ phiếu được mua bán trên thị trường chứng khoán, mà họ sẽ được chia sẻ hiệu quả do một quá trình mua bán chứng khoán tập trung của quỹ này theo tỷ lệ vốn họ đã góp. Khi tham gia Quỹ các nhà đầu tư sẽ được nhận một chứng chỉ quỹ xác nhận số vốn đã góp. Quỹ đầu tư xuất phát từ cách nhận dạng theo cơ cấu bản chất và mục đích. Về hình thức hoạt động, người ta có khuynh hướng gọi đó là các “công ty đầu tư”. Một công ty đầu tư có thể được tổ chức theo hình thức cổ phần hoặc một tổ hợp vốn uỷ nhiệm. Loại tổ hợp vốn này được chế định bằng luật pháp, theo đó tài sản được uỷ nhiệm quản lý cho các cá nhân hay định chế quản lý chuyên nghiệp. Đảm nhận nhiệm vụ này có các công ty quản lý uỷ thác hoặc các cơ sở quản lý uỷ thác trong các ngân hàng thương mại. Họ hưởng phí theo một tỷ lệ cố định hàng năm trên tổng tài sản, thường là 1%. Còn các quỹ đầu tư là phương tiện để nhà đầu tư đưa các khoản tiền của họ vào nhằm có được yếu tố đầu tư đa dạng và điều kiện quản lý chuyên nghiệp. Nếu nó được tổ chức theo dạng công ty cổ phần, việc quản lý sẽ do một hội đồng quản trị đảm nhận, khác với loại tổ hợp vốn uỷ nhiệm như đã phân tích ở trên. Mới chỉ cách đây không lâu, các quỹ đầu tư vẫn được xem là sân chơi dành riêng cho một số ít người giàu có và là một khái niệm khá xa lạ với nhiều nhà đầu tư. Nhưng giờ đây, hầu như tất cả mọi người, từ các tổ chức cho đến công chúng có năng lực tài chính với số tiền ít nhất vào khoảng 10 ngàn USD đều muốn đầu tư vào các quỹ này. Có thể nói, chưa bao giờ các Quỹ đầu tư lại trở nên thịnh hành như ngày nay. Trong nửa cuối năm 2005, số tiền đầu tư vào các quỹ này trên toàn thế giới đã gấp đôi con số của cả năm 2004. Tính đến thời điểm này, toàn thế giới đã có trên 60 ngàn quỹ đầu tư quản lý một lượng tài sản trị giá trên 5 ngàn tỷ USD. Tại châu Âu, các quỹ đầu tư được quảng cáo rộng rãi trên truyền hình. Ở Mỹ, mặc dù việc quảng cáo các quỹ này bị cấm nhưng chúng vẫn được quảng bá truyền khẩu tại các buổi hội thảo do các nhà môi giới chứng khoán hoặc các ngân hàng tư nhân tổ chức. Làm nghề quản lý quỹ đầu tư đã trở thành một nét đặc biệt trong thị trường lao động nước Mỹ trong thời gian gần đây. Nhiều người cho rằng, hoạt động của Quỹ đầu tư giờ đây đã phát triển mạnh mẽ, thể hiện ở việc mỗi khi các loại tài sản khác như cổ phiếu, trái phiếu mất giá thì chứng chỉ quỹ đầu tư vẫn tỏ ra hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Mặc dù loại hình quỹ này đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, nhưng cơ hội cho sự ra đời và phát triển của các quỹ mới vẫn được đánh giá là rất lớn. Theo con số thống kê, chỉ có khoảng 20% số người có vốn nhàn rỗi lớn đầu tư vào các quỹ đầu tư, bao gồm quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ đầu tư phòng hộ. Thêm vào đó, cả chất lượng đầu tư lẫn việc quản lý rủi ro đang tiến bộ một cách nhanh chóng. Những lợi ích từ Quỹ đầu tư Trước hết và quan trọng hơn cả là khả năng đầu tư đa dạng, đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro. Một cá nhân bình thường với số vốn hạn chế khó có thể đa dạng hoá một cách tối ưu danh mục đầu tư của mình. Nhưng bằng phương thức kết hợp vốn cùng với nhiều người khác trong các quỹ đầu tư, cá nhân đó có điều kiện chia phần lợi và rủi ro trong một tập hợp các chứng khoán được đa dạng tối đa. Lợi ích khác do các quỹ đầu tư mang lại là trình độ quản lý chuyên nghiệp. Nhiều nhà đầu tư nhỏ khó đạt hiệu năng quản lý các hoạt động đầu tư của mình một cách khôn ngoan nhất, họ cũng không có khả năng hoặc thấy không còn có lợi nếu phải trả các khoản phí cần thiết để “mua” sự quản lý chuyên nghiệp riêng cho mình. Bằng cách chung vốn tập thể vào các quỹ đầu tư, những cá nhân này có thể yên tâm sẽ được các nhà điều hành chuyên nghiệp quản lý số tiền đầu tư của mình với một chi phí thấp hơn so với việc họ phải tự lo liệu. Một lợi ích nổi bật nữa của quỹ đầu tư là các cổ phần góp vốn vào quỹ này có tính thanh khoản. Điều này có nghĩa là nếu nhà đầu tư muốn rút lui khỏi tổ chức đầu tư này, họ có thể bán lại phần tài sản của họ với một giá phải chăng để chuyển thành tiền mặt trong một thời gian ngắn. Do các chứng khoán mà các quỹ đầu tư mua bán thường thuộc những loại đầu tư có điều kiện bán nhanh nhất, nên những người mua cổ phần quỹ đầu tư không phải lo bị chôn vốn. Họ có thể thực hiện thanh lý việc nắm giữ cổ phần của họ vào bất cứ ngày nào có giao dịch, ở mức giá được công bố hiện hành và nhận tiền sau một khoảng thời gian qui định, thường là một tuần. Việc tính toán giá cổ phần của quỹ đầu tư rất đơn giản, vì tổng tài sản của quỹ đầu tư hầu hết là các chứng khoán có độ linh hoạt cao, giá của nó được cập nhật vào sau mỗi phiên giao dịch và dựa vào thị trường chứng khoán. Qua đó chúng ta có thể thấy khả năng hấp dẫn và thuyết phục mà công cụ này có thể đem lại, đặc biệt cho những nhà đầu tư trung bình và nhỏ hoặc những người chọn đầu tư theo thế thủ. Trong chừng mực nào đó, ta có thể hiểu những nhà đầu tư vào các quỹ đầu tư khác với những nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán, đồng thời cũng không giống hoạt động tiết kiệm hoặc mua trái phiếu. Xét về mặt thuận tiện, độ tin cậy và sự hấp dẫn của chúng, nhất là để thu hút những nguồn tiết kiệm nhỏ, ta thấy khó có một hình thức đầu tư thay thế nào tốt hơn. Ngoài ra các quỹ đầu tư còn là định chế có thể giúp kích hoạt giao dịch trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên không phải không có những mối lo Song song với tín hiệu lạc quan, có một số người lại tỏ thái độ nghi ngờ. Họ cho rằng, rất khó có thể giám sát được hoạt động của các quỹ đầu tư và rất dễ xảy ra gian lận tại các quỹ này. Với một mức phí quản lý dành cho các nhà quản lý lên tới 20% mức tăng giá trị hàng năm của quỹ, rất có thể đây là động cơ thúc đẩy các nhà quản lý quỹ chấp nhận mạo hiểm một cách thái quá. Hơn nữa, hầu như không bao giờ nhà quản lý quỹ phải chịu bất cứ một hình thức phạt nào vì việc đã làm cho giá trị của quỹ bị giảm và nhà quản lý hoàn toàn có thể thu hẹp quy mô của quỹ để làm lại từ đầu. Khi tiền đổ vào các quỹ đầu tư càng nhiều thì việc kiếm được các nhà quản lý quỹ có tài năng thực sự càng khó khăn và khả năng để kiếm được một cơ hội đầu tư tốt lại càng ít hơn.
Investment Criteria / Các Tiêu Chuẩn Đầu Tư
(Đối với các nước đang phát triển). Các tiêu chuẩn được đề ra nhằm làm cơ sở cho việc phân bố các nguồn lực đầu tư.
Investment Company / Công Ty Đầu Tư
Công ty đầu tư là một công ty tập trung quỹ vốn chung của các nhà đầu tư nhỏ vào chứng khoán trái phiếu và cùng thực hiện các mục tiêu đầu tư mà các nhà đầu tư đề ra. Nó cung cấp cho các người góp vốn- nhà đầu tư- các dịch vụ quản lý chuyên nghiệp, đa dạng hóa và linh hoạt mà nếu là một cá nhân thì khó có thể thực hiện được. Thực chất công ty đầu tư là một tổ chức liên kết của nhiều nhà đầu tư, dựa trên qui mô vốn lớn họ có thể đạt được các mục tiêu đầu tư một cách dễ dàng hơn khi tham gia mua bán chứng khoán. Có hai loại công ty đầu tư cơ bản: Một là, công ty đầu tư mở rộng, hay gọi là quỹ tương hỗ đầu tư, có một số lượng cổ phần thả nổi trong công chúng và sẵn sàng bán hay thu hồi theo giá trị tài sản thuần hiện hành của cổ phần đó. Các công ty mở rộng lại được chia làm hai loại: Quỹ có phí (công ty phát hành trái phiếu) được bán trên thị trường ngoài danh mục (thị trường không chính thức) bởi những người môi giới tự mua bán, người này không nhận hoa hồng thương vụ, thay vào đó họ cộng "phí tải" (loading fee) vào trị giá chứng khoán trái phiếu lúc mua vào. Phí này tiếu biểu là 8,5%. Quỹ không phí, chứng khoán trái phiếu được bán một cách trực tiếp, tất nhiên sẽ không tính phí tải, nhưng dù sao cũng có thu các phí nhỏ về quản lí và điều hành. Hai là, công ty đầu tư có giới hạn người tham gia, hay còn gọi là ủy thác đầu tư, giống như công ty kinh doanh, nó có một số cổ phần nhất định trong công chúng và được mua bán như chứng khoán trên các thị trường chính.
Công Ty Đầu Tư (Investment Company) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Công Ty Đầu Tư (Investment Company) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Investment Banking / Nghiệp Vụ Ngân Hàng Đầu Tư
Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư là hoạt động xử lý với công việc tạo vốn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn bao gồm việc đóng vai trò như đại lý hoặc đơn vị bảo lãnh cho các doanh nghiệp trong quá trình phát hành chứng khoán: qua các đợt IPO hoặc SPO. Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư còn có chức năng cố vấn cho các doanh nghiệp với các vấn đề trong phạm vi phát hành và mua/thâu tóm cổ phần và M&A.
Nghiệp Vụ Ngân Hàng Đầu Tư (Investment Banking) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Nghiệp Vụ Ngân Hàng Đầu Tư (Investment Banking) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Investment Bank / Tổ Chức Ngân Hàng Đầu Tư
Ngân hàng đầu tư là tổ chức trung gian tài chính cung cấp dịch vụ tài chính trên phạm vi rộng, đa dạng. Các dịch vụ tài chính mà tổ chức này cung cấp bao gồm bảo lãnh phát hành, đóng vai trò đơn vị trung gian giữa tổ chức phát hành chứng khoán với công chúng đầu tư; hỗ trợ và thúc đẩy các thương vụ M&A, hoạt động tái tổ chức doanh nghiệp và đóng vai trò môi giới cho các giao dịch của khách hàng tổ chức lớn.Vai trò của ngân hàng đầu tư bắt đầu từ vị trí của người giám sát trước bảo lãnh phát hành và tiếp tục cho đến vai trò đơn vị tư vấn phân phối chứng khoán.Ngân hàng đầu tư là tổ chức đóng vai trò bảo lãnh hoặc đại lý cho các doanh nghiệp hoặc cơ quan chính phủ trong phát hành chứng khoán. Hầu hết các NHĐT còn đóng vai trò môi giới/kết nối giao dịch, tạo thị trường cho chứng khoán phát hành và cung cấp các dịch vụ tư vấn cho nhà đầu tư. Ngân hàng đầu tư cũng có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy các thương vụ M&A, các thương vụ mua lại cổ phần riêng và tái cấu trúc doanh nghiệp. Khác với dạng thức ngân hàng truyền thống, ngân hàng đầu tư không nhận tiền gửi tiết kiệm và cũng không cho vay cá nhân.
Investment Appraisal / Thẩm Định Đầu Tư
Thẩm định đầu tư là một quá trình đánh giá khả năng mong muốn của các đề nghị đầu tư, bao gồm: việc thay thế các thiết bị và máy móc hư hỏng, thiết lập một cơ xưởng mới, tiếp quản một công ty khác, mở mang sản phẩm mới, một chiến dịch kích thích việc buôn bán… Thông thường, khả năng mong muốn của việc đầu tư khu vực tư sẽ được xem xét dưới dạng lợi nhuận phát sinh và các chủ nhân sẽ chọn những dạng đầu tư nào hứa hẹn lợi nhuận lớn nhất. Tương tự, các nhà quản lý sẽ ước tính các dòng lưu kim, phối hợp với ưu tiên dự án và phần thưởng của dự án hứa hẹn sự đóng góp tốt nhất đối với dòng lưu kim tương lai.
Investment / Đầu Tư
Một tài sản hoặc hàng hoá thường được mua bán với mục đích nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc tăng giá trị trong tương lai. Trong kinh tế, đầu tư là việc mua hàng hoá không phải để dùng trong hiện tại mà để nhằm mục đích tạo ra của cải trong tương lai. Việc xây dựng một nhà xưởng để sản xuất hàng hoá hay quyết định của một sinh viên đến trường đại học để học đều là ví dụ về đầu tư xét trong lĩnh vực kinh tế học. Trong lĩnh vực tài chính, đầu tư được hiểu là việc mua một tài sản tiền tệ với mục đích là tài sản đó sẽ mang lại thu nhập trong tương lai hoặc là tài sản đó sẽ tăng giá và ta có thể bán nó với mức giá cao hơn, thu về một khoản lãi. Đầu tư trong lĩnh vực tài chính bao gồm các hoạt động mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc bất động sản. Cần phải phân biệt rõ ràng việc tiến hành một hoạt động đầu tư và hoạt động "đầu cơ". Đầu tư thường gắn liền với việc tạo ra của cải vật chất trong khi đầu cơ chỉ là một trò chơi may rủi và xét một cách tổng thể thì không tạo ra của cải cho xã hội (zero-sum game). Mặc dù những người đầu cơ thường đưa ra quyết định dựa trên kiến thức và hiểu biết nhưng đầu cơ vẫn không được coi là một hoạt động đầu tư truyền thống. Hiện tại trên thị trường có rất nhiều công cụ đầu tư và bạn hoàn toàn có thể lựa chọn cho mình một công cụ đầu tư phù hợp nhất. Sau đây là một số công cụ đầu tư tài chính phổ biến: Đầu tư vào chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu Đầu tư thông qua các hợp đồng quyền chọn Đầu tư thông qua hợp đồng tương lai Đầu tư bất động sản... Ngay cả trong một công cụ đầu tư như chứng khoán chẳng hạn, bạn cũng sẽ có rất nhiều lựa chọn. Nếu như bạn là người có hiểu biết về thị trường chứng khoán, bạn nắm trong tay các thông tin, bạn chỉ cần thông qua một công ty môi giới để thực hiện lệnh của mình. Nếu bạn chấp nhận mạo hiểm, nhưng trong tay không có nhiều thông tin lắm, bạn có thể sử dụng dịch vụ tư vấn của người môi giới. Các công ty môi giới có thể cung cấp cho bạn rất nhiều gói dịch vụ, kể cả dịch vụ từ A-Z. Nếu bạn không có nhiều tiền, không dám mạo hiểm nhưng lại vẫn muốn đầu tư để kiếm lời, bạn có thể tham gia vào các quỹ tương hỗ (Unit trust hoặc Mutual fund). Nói chung luôn có sự song hành giữa lợi nhuận và rủi ro. Vì thế hãy xác định rõ mục đích của bạn trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư.
Investing / Đầu Tư
Có một định nghĩa đơn giản thế này: đầu tư có nghĩa là để tiền làm việc cho bạn. Cách nghĩ này khác với các nghĩ làm sao để làm ra tiền? Khi lớn lên, hầu hết chúng ta đều được dạy rằng bạn có thể kiếm được một khoản thu nhập nào đó chỉ bằng việc tìm kiếm một công việc và làm việc. Đó là cách mà hầu hết chúng ta vẫn thực hiện. Thế nhưng có một vấn đề lớn xảy ra đó là: Nếu bạn muốn có nhiều tiền hơn, bạn phải làm việc nhiều giờ hơn. Tuy nhiên, lại có giới hạn về số giờ làm việc một ngày mà chúng ta có thể làm, đó là chưa kể đến việc có nhiều tiền hơn cũng chẳng có gì mà thú vị nếu chúng ta không có thời gian thư giãn và tiêu xài để tận hưởng cuộc sống.Bạn không thể tạo ra một người giống hệt bạn ( bản sao của bạn) để có thể tăng thời gian làm việc, thay vì vậy, bạn cần học cách để đưa tiền của bạn vào làm việc.Cách đó là, trong khi bạn đang bỏ hàng giờ đồng hồ với công việc làm thuê của mình, hoặc thậm chí là cắt cỏ, ngủ, đọc báo hoặc tán dóc với bạn bè, bạn vẫn có thể kiếm được tiền ở một nơi khác nào đó. Khá đơn giản thôi, đó là khiến cho tiền của bạn làm việc để tối đa hóa khả năng kiếm tiền của bạn dù cho bạn được tăng lương hay không, dù cho bạn có quyết định làm việc thêm giờ hay không hoạc là dù cho bạn có tìm được một công việc có mức lương cao hơn hay không?Có rất nhiều cách mà bạn có thể thực hiện một khoản đầu tư. Khái niệm đầu tư bao gồm việc bạn bỏ tiền vào cổ phiếu, trái phiếu, quỹ hỗ tương hoặc nhà đất( bất động sản), hoặc là bạn bắt đầu khởi nghiệp, xây dựng doanh nghiệp riêng cho mình. Mỗi một lựa chọn đầu tư đều có mặt tích cực và mặt tiêu cực của nó. Điểm quan trọng là dù bạn đầu tư với phương pháp nào thì mục tiêu vẫn luôn luôn là để tiền làm việc cho bạn vì thế nó sẽ giúp bạn tăng thêm được lợi nhuận.Nhưng đầu tư không phải là đánh bạc. Đánh bạc là bỏ tiền một cách đầy rủi ro vào cá cược cho một phần thắng không chắc chắn. Tuy nhiên nhiều người nhầm lẫn giữa đầu tư và đánh bạc có lẽ do bởi cái cách mà một số người sử dụng các lựa chọn đầu tư. Ví dụ, nếu bạn mua một cổ phiếu dựa trên các tin đồn nóng mà bạn nghe được ở một quán café nào đó thì nó cũng tương tự như bạn đang cá cược ở một sòng bạc.Đầu tư đúng có nghĩa là bạn sẽ hành động theo bản thân mình chứ không đơn giản dựa theo lời khuyên hoặc tin đồn. Một nhà đầu tư thật sự không quăng tiền của họ vào bất cứ một khoản đầu tư ngẫu nhiên nào. Họ thực hiện đầu tư thông qua các phân tích, các xét đoán và chỉ khi nào cảm thấy có mức kỳ vọng lợi nhuận hợp lý họ mới đem tiền của mình vào đầu tư. Dĩ nhiên là vẫn còn có rủi ro trong đầu tư đúng nghĩa vì không có gì là được đảm bảo chắc chắn, nhưng đầu tư thì nó phức tạp hơn nhiều so với việc bạn chỉ đơn giản kỳ vọng là thần May mắn luôn ở bên bạn.
Inverse Head And Shoulders / Mô Hình Đầu Và Vai Ngược
Mô hình đầu và vai ngược là một mô hình đồ thị giá chứng khoán được sử dụng trongphân tích kỹ thuật, dự báo sự đảo chiều của xu hướng xuống giá hiện hành. Mô hình này được đặc trưng khi giá chứng khoán diễn biến như sau: 1. Giá giảm nhẹ xuống một điểm đáy rồi tăng trở lại2. Giá giảm xuống sâu hơn điểm đáy thứ nhất và lại tăng 3. Cuối cùng, giá giảm một lần nữa nhưng không thấp như lần thứ hai rồi tăng. Sau khi xuống đến đáy thứ ba, giá bắt đầu nhích dần lên mức cản gần với giá cao nhất trong hai lần trước. Thông thường, các nhà đầu tư sẽ đầu cơ giá lên khi giá vượt qua mức cản của đường viền cổ. Trong mô hình này đỉnh thứ nhất và thứ ba trong mô hình này được coi như hai vai, còn đỉnh thứ hai là đầu. Như đã thấy trong biểu đồ trên, khi giá vượt qua mức cản, còn được gọi là đường viền cổ (neckline), đó được coi là tín hiệu cho thấy giá sẽ còn tăng mạnh lên cao hơn. Nhiều nhà đầu tư sẽ chờ đợi khi khối lượng giao dịch tăng đủ lớn để xác nhận cú đột phá về giá trên. Mô hình này đối nghịch với "mô hình đầu và vai" thông dụng, và thường được sử dụng để dự đoán cú đảo chiều của thị trường giá xuống thay vì thị trường giá lên.
Inverse Function Rule / Quy Tắc Hàm Ngược
Một quy tắc xác định đạo hàm của một hàm số, trong đó biến số mà chúng ta muốn lấy đạo hàm được biểu diễn dưới dạng biến phụ thuộc.
Inventory Turnover Ratio / Hệ Số Vòng Quay Hàng Tồn Kho
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho. Trong đó Hệ số vòng quay hàng tồn kho cũng được tính cho 4 quý gần nhất theo công thức sau: Trong đó Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu. Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng. Để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, việc xem xét chỉ tiêu hàng tồn kho cần được đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như lợi nhuận, doanh thu, vòng quay của dòng tiền…, cũng như nên được đặt trong điều kiện kinh tế vĩ mô, điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp.
Inventory Investment / Đầu Tư Tồn Kho
Sự tích luỹ hàng tồn kho khi sản xuất vượt quá sản lượng bán thực tế.
Inventory Cycle / Chu Kỳ Hàng Tồn Kho
Những dao động của mức sản lượng do những thay đổi của lượng tồn kho.
Inventory / Hàng Tồn Kho
Hàng tồn kho bao gồm: Nguyên liệu đầu vào Hàng hoá đang trong quá trình sản xuất Hàng hoá thành phẩm Tất cả những thứ này được coi là hàng tồn kho và chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vì doanh thu từ hàng tồn kho là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu và những khoản thu nhập thêm sau này cho doanh nghiệp. Đó là những tài sản đã sẵn sàng để đem ra bán hoặc sẽ được đem ra bán. Nếu để tồn hàng tồn kho quá lâu thì sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình kinh doanh, bởi vì doanh nghiệp sẽ phải tốn chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời, và thanh lý hàng hư hỏng. Tuy nhiên, việc không dự trữ đủ hàng tồn kho cũng là một rủi ro bởi vì doanh nghiệp có khả năng đánh mất những khoản doanh thu bán hàng tiền năng hoặc thị phần nếu sau này giá lên cao mà doanh nghiệp không còn hàng để bán. Trong kế toán để tính toán giá trị của hàng tồn kho người ta hay sử dụng hai phương pháp là LIFO (last in, first out)-vào sau tính trước; và FIFO (first in, first out)-vào trước tính trước.
Inventories / Hàng Tồn Kho, Dữ Trữ
Dự trữ hay mức duy trì hành hoá của các doanh nghiệp để đáp ứng những dao động thất thường tạm thời trong sản xuất hay kinh doanh.





