Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Irrevocable Trust Receipt - ITR / Biên Lai Tín Thác Không Hủy Ngang

Một biên lai xác nhận và mô tả ký gửi chi tiết của tài sản cụ thể  vào một sự ủy thác. Mặc dù ITR có chứa tất cả các chi tiết của tài sản, các ngân hàng thường sẽ không ấn định một giá trị cho nó vì tài sản KHÔNG được lưu ký tại một ngân hàng đáng tin cậy, mà chỉ là một sự ủy thác cá nhân.

Issuing House Association / Hiệp Hội Các Nhà Phát Hành

Một hiệp hội được thành lập vào năm 1945 để tổ chức một diễn đàn nhằm tăng cường những lợi ích của các ngân hàng thương mại và các tổ chức khác hoạt động với tư cách là các nhà phát hành.

Issuing House / Nhà Phát Hành

Một tổ chức, thường là một ngân hàng thương mại, bên cạnh các hoạt động khác còn chuyên môn hoá trong quản lý việc phát hành cổ phần mới, trái phiếu công ty hoặc trái phiếu nhân danh các công ty hoặc các tổ chức khác có nhu cầu về tài chính, ví dụ như chính phủ và các cấp chính quyền địa phương.

Issuing Broker / Môi Giới Phát Hành

Một số loại chứng khoán phát hành mới của các công ty hoặc tổ chức khác được những người môi giới chứng khoán điều khiển và trên phương diện này thì họ hoạt động giống như nhà phát hành. Trong tất cả những loại phát hành chứng khoán được yêu cầu trích đăng tai Sở Giao dịch Chứng khoán, người môi giới chứng khoán cho việc phát hành phải thương lượng về nội dung trích dẫn và thông báo về các điều kiện của việc phát hành, nhưng người môi giới phát hành đi tiếp thêm một bước nữa thông qua việc quản lý tất cả các phương diện của phát hành. Người ta có xu hướng sử dụng những người môi giới phát hành cho các nhà phát hành địa phương hoặc các nhà phát hành (cho những cổ đông hiện có) thể hiện quá trình vốn hóa dự trữ của công ty.

Issuing Bonds / Phát Hành Một Trái Phiếu

Khi một công ty hoặc chính phủ muốn tăng huy động nguồn tài chính, họ sẽ "kiểm tra dòng nước" bằng cách "thả phao trái phiếu". Đây là thuật ngữ tài chính ám chỉ việc phát hành ra và tự kiểm định mức hợp lý của bản thân các điều khoản mà trái phiếu đưa ra. Điều này có nghĩa là công ty hoặc chính phủ đó cung cấp cho công chúng một cơ hội đầu tư trong một khoảng thời gian cố định nào đó, với một mức lãi suất cụ thể nào đó. Nếu nhà đầu tư cho rằng lãi suất này có thể bù đắp cho rủi ro và quyết đinh mua trái phiếu, việc phát hành trái phiếu thành công, tức là: "phao sẽ nổi".

Issued Capital / Vốn Phát Hành

Khi một công ty có hạn chế về cổ phần được thành lập, công ty này được phép tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu với một số lượng nhất định.

Issue Department / Cục Phát Hành

Một cục thuộc Ngân hàng Anh có trách nhiệm trong việc phát hành giấy bạc ngân hàng.

ISO-Revenue Line (Curve) / Đường Đẳng Thu

Quỹ tích các tổ hợp SẢN LƯỢNG và phí tổn tiếp thị tạo nên một mức TỔNG DOANH THU nhất định.

ISO-Profit Curve / Các Đường Đồng Đẳng Lợi Nhuận

Quỹ tích các tổ hợp của hai hay nhiều biến phụ thuộc của HÀM LỢI NHUẬN tạo nên một mức lợi nhuận như nhau.

ISO-Product Curve / Đường Đẳng Sản Phẩm

(Còn được gọi là đường bàng quan của người sản xuất hay đường đẳng lượng). Một đường đẳng sản phẩm là tập hợp các tổ hợp của hai hay nhiều ĐẦU VÀO tạo ra cùng một mức SẢN LƯỢNG.

ISO-Cost Curve / Đường Đẳng Phí

Đương cong hay đường thẳng mô tả tổ hợp của hai đầu vào bất kỳ có thể mua được với một số tiền cố định.

Islamic Development Bank / Ngân Hàng Phát Triển Hồi Giáo

Một ngân hàng phát triển khu vực được Tổ chức Hội nghị đạo hồi thành lập năm 1974 nhằm khuyến khích tăng trưởng kinh tế ở các nước và cộng đồng hồi giáo.

IS - LM Diagram / Lược Đồ IS - LM

Lược đồ mô tả việc xác định đông thời các giá trị cân bằng của lãi suất và mức thu nhập quốc dân do kết quả thực hiện các điều kiện trong thị trường hàng hoá và tiền tệ.

Irreversibility / Tính Bất Khả Đảo; Tính Không Thể Đảo Ngược Được

Xét về phương diện TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN và môi trường, thuật ngữ này chỉ một hành động nào đó có những tác động không thể đảo ngược được một cách tuyệt đối hoặc do chi phí để làm như vậy là quá lớn.

Irrational Exuberance / Lạc Quan Tếu

Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên bởi nguyên chủ tịch quĩ dự trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan. Ông dùng từ ngữ này để mô tả một trạng thái của thị trường khi mà nhà đầu tư hi vọng quá mức vào tương lai tươi sáng của nền kinh tế mà không cân nhắc đến những nguy cơ có thể gây ra sự suy trầm của nền kinh tế. Điều này đã dẫn đến việc nhà đầu tư ném tiền thổi lên trái bóng đầu tư trong các lĩnh vực nhạy cảm như: chứng khóan, bất động sản, ngoại hối, thương phẩm... khiến cho nguy cơ bể bóng là khó tránh khỏi khi họ tháo chạy khỏi thị trường theo tâm lý bầy đàn bởi một lý do tiêu cực nào đó.

Iron Law Of Wages / Quy Luật Sắt Về Tiền Công

Giả thiết rằng, với bất kể khả năng tăng tiền công trong ngắn hạn, tiền công chắc chắn sẽ trở lại mức vừa đủ sống trong dài hạn.

IPO / IPO - Initial Public Offering

IPO (chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh Initial Public Offering) có nghĩa là phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu. Theo thông lệ tài chính trong kinh doanh, việc phát hành này có nghĩa là một doanh nghiệp lần đầu tiên huy động vốn từ công chúng rộng rãi bằng cách phát hành các cổ phiếu phổ thông, nghĩa là cổ phiếu ghi nhận quyền sở hữu đúng nghĩa và người nắm giữ có quyền biểu quyết tương ứng trong các kỳ họp Đại hội đồng Cổ đông thường niên hay bất thường. Một phần của IPO có thể là chuyển nhượng cổ phần của cổ đông hiện hữu. Như vậy, IPO với mỗi doanh nghiệp chỉ có một lần duy nhất, và sau khi đã IPO thì các lần tiếp theo sẽ được gọi là phát hành cổ phiếu trên thị trường thứ cấp. IPO có ý nghĩa rất quan trọng với doanh nghiệp, vì với bất kỳ doanh nghiệp nào, đây cũng là thử thách đầu tiên và quan trọng nhất đối với hàng loạt khía cạnh vận hành. Nguyên nhân của thử thách này là do doanh nghiệp trước khi được phép huy động vốn rộng rãi phải đảm bảo hàng loạt các điều kiện phát hành ngặt nghèo và qui chế báo cáo thông tin rất nghiêm khắc. IPO hoàn toàn khác với việc một cổ đông hiện hữu bán lượng cổ phần đang nắm giữ; hành vi sau này gọi là Chào bán Cổ phần (Offer for Sale). Về mặt thủ tục, tiến trình IPO thường liên quan tới một hay một số công ty tài chính đặc biệt gọi là Ngân hàng đầu tư, ở Việt Nam vẫn gọi là các Công ty chứng khoán. Những trung gian tài chính này làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ và bảo lãnh phát hành. Công ty tiến hành bán cổ phần bằng IPO được gọi là "Nhà phát hành." Những vụ bảo lãnh phát hành lớn thường do một nhóm các ngân hàng đầu tư hợp thành một xanh-đi-ca (syndicate) để phân chia công việc và rủi ro. Trong số này có một tổ chức đứng ra làm Nhà bảo lãnh chính, và chiếm hết phần lớn phí bảo lãnh phát hành. Trên thế giới, mức phí này có thể lên tới 8% của tổng số tiền cổ phần bán được và kèm theo nhiều điều khoản khác. Cách thức bán của IPO Việc chào bán cổ phần ra công chúng rộng rãi lần đầu tiên có nhiều cách thức tiến hành. Các dạng có thể là: (1) Đấu giá kiểu Hà-Lan; (2) Bảo lãnh cam kết; (3) Dịch vụ với trách nhiệm cao nhất; (4) Mua buôn để chào bán lại; và (5) Tự phát hành. Do lượng thủ tục pháp lý và chế tài khá chặt chẽ và rắc rối, mỗi vụ IPO thường cần một vài công ty luật hỗ trợ. IPO có thể bao gồm một phần trong đó việc cổ đông hiện tại chuyển nhượng quyền sở hữu với số cổ phiếu hiện tại theo cách ta goi là giao dịch thứ cấp, mặc dù vai trò được nhấn mạnh chủ yếu của IPO là phát hành mới và lần đầu ra công chúng để huy động một lượng vốn góp đáng kể. Tuy nhiên, theo thông lệ thế giới cả luật pháp chứng khoán lẫn qui ước của các công ty bảo lãnh phát hành đều hạn chế chức năng chuyển nhượng lượng cổ phần hiện hành theo phương thức giao dịch thứ cấp. IPO thường được bán cho các nhà đầu tư tổ chức, với qui mô lớn và cũng dành ra một tỷ lệ nhỏ cổ phần bán cho các khách hàng cá nhân quan trọng do công ty bảo lãnh đứng ra dàn xếp. Ở các thị trường đã phát triển, nhà phát hành thường thả lỏng một điều khoản cho phép nhà bão lãnh có thể tự ý tăng qui mô phát hành IPO lên tới 15% so với dự kiến theo kế hoạch đã thống nhất để linh hoạt phản ứng trước nhu cầu thị trường, gọi là phương án greenshoe. Greenshoe là điều khoản được nhất trí thực thi khi nhu cầu thị trường tăng quá cao, đẩy giá lên, thì việc phát hành thêm tối đa 15% giúp bình ổn giá. Đôi lúc nhà phát hành không đồng ý vì họ không có kế hoạch sử dụng số tiền do tăng thêm lượng cổ phần bán ra. Giá cổ phần qua IPO Nhiều nghiên cứu nghiêm túc bằng lý thuyết thực chứng trên thế giới cho thấy rằng ở phạm vi rất rộng, thường giá cổ phần bán qua IPO được định giá dưới mức thị trường. Hiệu ứng dưới giá này nhằm tạo ra sức hấp dẫn cho các cổ phiếu giao dịch thứ cấp sau IPO, tạo ra thanh khoản tốt về lâu dài cho công ty. Dấu lặng thị trường Sau giai đoạn IPO ồn ào, giao dịch cổ phiếu thứ cấp đi vào giai đoạn "dấu lặng." Theo qui định nhiều thị trường các công ty bảo lãnh và những người có liên quan mật thiết tới vận hành kinh doanh của doanh nghiệp bị cấm đưa ra các dự báo về doanh thu và lợi nhuận tương lai trong "giai đoạn dấu lặng." Trước kia, Ủy ban Giao dịch chứng khoán Mỹ áp dụng giai đoạn dấu lặng 25 ngày kể từ ngày IPO, nhưng tới năm 2002 đã tăng lên 40 ngày, nhằm tránh việc các đối tác có thông tin lũng đoạn và gây ảnh hưởng thiên lệch tới thị trường bằng thông tin. Sau giai đoạn này, công ty bảo lãnh chính sẽ tiến hành công bố các nghiên cứu liên quan tới cổ phiếu của công ty IPO.

Involuntary Unemployment / Thất Nghiệp Không Tự Nguyện

Thất nghiệp sẽ được loại bỏ khi tổng cầu tăng lên, tổng cầu làm cho giá cả tăng lên và tiền công thực tế thấp đi.

Invisible Hand / Bàn Tay Vô Hình

Một cụm thuật ngữ chỉ một quá trình phối hợp không trông thấy được nhằm đảm bảo cho sự nhất quán của các kế hoạch cá nhân trong nền kinh tế thị trường phi tập trung.

Thuyết “Bàn tay vô hình” được Adam Smith – nhà kinh tế học người Scotland đưa ra trong những năm của thế kỉ 18 mà giá trị cuả nó đến nay vẫn còn được công nhận. Theo Adam Smith thì “Bàn tay vô hình” có nghĩa là: "Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Ai cũng muốn thế cho nên vô tình chung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng." Ông dùng thuật ngữ này mô tả khả năng của cơ chế thị trường trong việc điều chỉnh cung cầu trên thị trường. Và ví sức mạnh của cơ chế thị trường như bàn tay vô hình định hướng người bán và người mua, phân bố nguồn lực kinh tế đạt được hiệu quả xã hội lớn nhất mà không cần sự can thiệp của chính phủ. Theo quan điểm của A.Smith chính phủ chỉ nên giữ chức năng quản lý. Bởi, "Chính bàn tay vô hình với tư cách là cơ chế tự cân bằng của thị trường cạnh tranh làm cho phúc lợi cá nhân và hiệu quả kinh tế đạt tối đa. Trong khi chạy theo lợi ích riêng của mình, con người phụng sự xã hội nhiều hơn anh ta chủ trương làm điều đó” Tư tưởng của Adam Smith thích hợp với chủ nghĩa tư bản trong một thời kì dài - thời kì tự do cạnh tranh. Nhưng về sau này, khi vấp phải những cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc thì những nhà kinh tế học khác lại kêu gọi đến bàn tay hữu hình của Nhà nước để điều chỉnh kinh tế. Để khắc phục những khuyết tật của cơ chế bàn tay vô hình, nền kinh tế hiện đại cần được điều hành bởi sự kết hợp giữa bàn tay vô hình của thị trường với bàn tay hữu hình của Nhà nước thông qua các kênh luật pháp, thuế và nhiều biện pháp kinh tế, tài chính khác.

Investors In Industry / Các Nhà Đầu Tư Trong Công Nghiệp

Một công ty tài chính phát triển được ngân hàng Anh và Ngân hàng thanh toán London và Scotland thành lập năm 1946 gọi là Hiệp Hội Tài Chính Công Nghiệp Và Thương Mại (ICFC) với sự trợ giúp của chính phủ Anh nhằm lấp một trong những "lỗ hổng" của thị trường vốn Anh do uỷ ban Macmillan xác định.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55