Intermediate Targets / Mục Tiêu Trung Hạn
Các mục tiêu tiền tệ, như tăng trưởng tiền tệ hoặc lãi suất, mà Dự trữ Liên bang thiết lập như những mục tiêu của chính sách tiền tệ. Trong những năm gần đây, Fed đã chuyển trọng tâm từ việc kiểm soát tăng và giảm của các lãi suất Quỹ Fed, để tập trung vào những mục tiêu tiền tệ và sự tăng trưởng trong cung tiền quốc gia. Cung tiền là một trong những mục tiêu này, mặc dù các chỉ báo kinh tế khác cũng được theo dõi chặt chẽ, bao gồm tổng giao dịch quỹ liên bang, dự trữ cho vay thuần và tổng dự trữ, cùng với tổng nợ trong nền kinh tế. Xem OPERATING TARGETS.
Interest Shortfall / Thâm Hụt Tiền Lãi
Tiền lãi có được nhưng chưa được thanh toán sau khi khoản vay đã được chi trả. Sự thâm hụt này xảy ra thường xuyên trong khoản vay cầm cố có lãi suất điều chỉnh có trần lãi suất, hoặc những khoản vay cầm cố với quyền chọn thanh toán hàng tháng thấp, dẫn đến khấu trừ âm.
Interest Sensitive Liabilities / Nợ Phải Trả Nhạy Với Tiền Lãi
Công cụ tiền gởi ngắn hạn trả lãi suất thả nổi, ngược với lãi suất cố định. Kể từ khi lãi suất trần theo Quy định Q được bãi bỏ bởi Đạo luật Kiểm soát Tiền tệ 1980, thì một phần đáng kể số tiền gởi ngân hàng nhạy với lãi suất, bao gồm Chứng chỉ Thị trường Tiền tệ sáu tháng, tài khoản tiền gởi của thị trường tiền tệ, và tài khoản Super Now. Việc loại bỏ dần trần lãi suất tiền gởi vào năm 1986, và loại bỏ hầu hết những khoản phạt đối với tiền gởi rút sớm, dẫn đến sự tăng biến động trong cung tiền gởi, tạo vốn cho các khoản cho vay của ngân hàng, và những kỹ thuật mới để quản lý rủi ro lãi suất. Xem ASSET-LIABILITY COMMITTEE; ASSET-LIABILITY MANAGEMENT; FUNDS MANAGEMENT; INTEREST SENSITIVE ASSETS.
Interest Sensitive Assets / Tài Sản Nhạy Với Tiền Lãi
Tài sản ngân hàng, thường là các khoản vay, phải chịu những thay đổi trong lãi suất, khi đáo hạn hoặc khi chúng được định giá lại theo lãi suất chỉ số. Việc định giá lại những tài sản này được gắn hoặc điều chỉnh theo những dao động lên hoặc xuống của lãi suất công bố, hoặc chỉ số chi phí các nguồn vốn như trái phiếu Kho bạc sáu tháng, lãi suất cơ bản của Ngân hàng v.v... Ví dụ như khoản vay tiêu dùng với mức lãi suất biến đổi, những khoản vay theo yêu cầu với lãi suất biến đổi, và những khoản vay cầm cố có lãi suất điều chỉnh. Xem ASSET-LIABILITY MANAGEMENT; DURATION; GAP; INTEREST SENSITIVE LIABILITIES; REPRICING OPPORTUNITIES.
Interest Rate Options / Quyền Chọn Lãi Suất
Hợp đồng cung cấp quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, mua hoặc bán một công cụ tài chính, trả lãi suất cố định với mức giá và ngày xác định trong tương lai. Hợp đồng quyền chọn theo các khoản tiền tiêu chuẩn của các công cụ tài chính, với giá thực hiện và ngày hết hạn tiêu chuẩn, được giao dịch trên thị trường chứng khoán và hàng hoá, hoặc được thoả thuận trong thị trường OTC bởi một ngân hàng thương mại hoặc một ngân hàng đầu tư. Quyền chọn lãi suất, còn được gọi là quyền chọn nợ hoặc quyền chọn thu nhập cố định, được giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Mỹ và Ủy ban Giao dịch quyền chọn Chicago. Các công cụ tài chính được giao dịch bao gồm trái phiếu và tín phiếu kho bạc Mỹ. Hợp đồng quyền chọn giao dịch OTC, thường được sử dụng khi bảo vệ danh mục trái phiếu đầu tư, phát hành bởi các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư cho tín phiếu và trái phiếu kho bạc, chứng khoán được bảo lãnh bằng thế chấp, và công cụ thị trường tiền tệ. Một loại quyền chọn lãi suất khác cho phép quyền chọn trong các hợp đồng tài chính kỳ hạn. Ví dụ, bên mua một quyền chọn mua trong trái phiếu kỳ hạn kho bạc, thực hiện vị thế trường đối với trái phiếu kho bạc với ngày đáo hạn cụ thể. Những quyền chọn kỳ hạn về trái phiếu kho bạc được giao dịch tại Ủy ban Thương mại Chicago, ở đó những quyền chọn kỳ hạn đôla Châu Âu được giao dịch trên Thị trường Tiền tệ Quốc tế, tại Trung tâm Giao dịch Chicago và Trung tâm giao dịch Hợp đồng kỳ hạn Tài chính Quốc tế London.
Interest Rate Cap / Lãi Suất Tối Đa
1. Thoả thuận bằng hợp đồng bảo vệ người vay khi lãi suất tăng lên. Đổi lại phí mở đầu được trả khi nguồn vốn được tạm ứng, bên cho vay đồng ý duy trì lãi suất được tăng đến trần quy định trước. Ví dụ, bên vay nhận khoản vay được định giá ở mức chênh lệch trên Lãi suất Liên Ngân hàng London (LIBOR) cho những khoản tiền gởi đôla Châu Âu 90 ngày, trả mức phí trần để bảo đảm rằng lãi suất vay không vượt quá một lãi suất quy định trước trong suốt thời gian vay. Bên bán có mức trần (bên cho vay) đồng ý trả cho bên mua (bên vay) mức chênh lệch giữa LIBOR và giá thực hiện của giá trần khi LIBOR tăng trên giá trần này. Trần lãi suất được định giá như các hợp đồng quyền chọn, thường sử dụng công thức xác định giá quyền chọn. Hầu hết những nhà cho vay thương mại bảo vệ chống lại rủi ro lãi suất tạo ra bởi mức trần, bằng cách mua một mức trần bù trừ từ một định chế tài chính khác, bằng cách trao đổi khoản nợ lãi suất thả nổi, với khoản nợ lãi suất cố định trong hợp đồng hoán đổi lãi suất, hoặc bằng cách bảo vệ - bán khống hợp đồng kỳ hạn - trong thị trường hợp đồng kỳ hạn tài chính. Nếu lãi suất có khả năng tăng, thì bên cho vay có thể bán hợp đồng tương lai với mức giá cao hơn. Cách dễ nhất để mua sự bảo vệ chống lại rủi ro lãi suất, là mua một mức trần lãi suất khác. Một ngân hàng bán mức trần 15% trên khoản vay 100 triệu có thể tự bảo vệ bằng cách nhận một mức trần tương đương từ bên cho vay khác. So sánh với "Collar". 2. Trong cầm cố với lãi suất điều chỉnh, có thoả thuận về giới hạn đối với việc điều chỉnh lãi suất vượt quá một chỉ số, như mức trần hằng năm và mức trần suốt kỳ hạn khoản vay.
Interest-only Loan / Khoản Cho Vay Chỉ Trả Tiền Lãi
1. Vay cầm cố mà bên vay chỉ trả tiền lãi cho kỳ hạn quy định. Vào cuối kỳ hạn này, thường từ năm đến mười năm tại Mỹ, khoản vay được chuyển thành khoản vay trả dần toàn bộ cả tiền lãi và vốn gốc. Khoản vay chỉ tính tiền lãi làm giảm khoản thanh toán tiền vay trong những năm đầu, vì vậy, bên vay hy vọng thu nhập của họ sẽ tăng lên trong thời gian vay, để có thể thực hiện cầm cố lớn hơn để có thể mua nhà. 2. Khoản vay thương mại hoặc mức tín dụng trả lãi theo khoảng thời gian đều đặn cho đến khi đáo hạn, khi mà toàn bộ số dư đến hạn. Bên vay trả lãi đều đặn và trả hết vốn gốc vào năm hết hạn của khoản vay. Xem BALLOON MATURITY; BULLET LOAN.
Interchange Rate / Lệ Phí Trao Đổi
Phí được một ngân hàng trả cho một ngân hàng khác, để trang trải chi phí giao dịch và rủi ro tín dụng trong giao dịch thẻ ngân hàng. Phí trao đổi thường chảy vào ngân hàng cấp vốn cho một giao dịch, và chấp nhân rủi ro trong quá trình giao dịch. Trong giao dịch thẻ tín dụng thì phí trao đổi còn được biết đến như phí hoàn lại của bên phát hành, được trả bởi ngân hàng mua (hoặc ngân hàng chấp nhận) hối phiếu kinh doanh (Ngân hàng thương mại) cho ngân hàng phát hành thẻ, là ngân hàng sẽ thanh toán cho chủ thẻ. Phí trao đổi là phần trăm số tiền giao dịch, được tính theo công thức kế toán có xét đến chi phí cấp giấy phép, thua lỗ tín dụng và gian lận. và chi phí bình quân của quỹ ngân hàng và được điều chỉnh định kỳ. Trong các hệ thống chi trả nợ bằng điện tử và máy rút tiền tự động, thì phí trao đổi chuyển theo hướng ngược lại; khi khách hàng rút tiền tại một máy rút tiền tự động, thì ngân hàng sở hữu thiết bị đầu cuối sẽ thu phí này.
Insured Loan / Khoản Cho Vay Được Bảo Hiểm
Khoản cho vay cầm cố nhà ở được bảo hiểm bởi Cục Nhà ở Liên Bang (FHA) hoặc công ty bảo hiểm cầm cố. Trong trường hợp không thể chi trả, thì FHA bảo đảm cho người giữ cầm cố một phần hoặc toàn bộ vốn gốc chưa trả. Các khoản vay được FHA bảo hiểm thường có tỉ lệ khoản vay trên giá trị cao, và thường được tổ hợp lại để bán cho các nhà đầu tư định chế như Chứng chỉ Trung gian Bảo lãnh của Ginne Mae (Hiệp hội Cầm cố Quốc gia của Chính phủ). Lãi suất trên những khoản vay được FHA bảo hiểm được quy định hơi thấp hơn, so với lãi suất thị trường trên các khoản vay cầm cố thông thường. Xem CREDIT ENHANCEMENT, PRIVATE MORTGAGE INSURANCE.
Insured Financial Institution / Định Chế Tài Chính Được Bảo Hiểm
Định chế tiết kiệm hoặc ngân hàng là thành viên của kế hoạch bảo hiểm tiềm gởi của Công ty Bảo Hiểm Tiền gởi Liên bang. Các ngân hàng quốc gia và các ngân hàng tiểu bang được yêu cầu bảo hiểm tiền gởi với Quỹ Bảo hiểm của Ngân hàng. Tiền gởi trong các Hiệp hội tiết kiệm và cho vay, trong các ngân hàng tiết kiệm liên bang, được bảo vệ bởi Quỹ Bảo hiểm của Hiệp hội tiết kiệm, và tiền gởi trong các hiệp hội tín dụng được bảo hiểm bởi Quỹ bảo hiểm Chia sẻ của Hiệp hội Tín dụng Quốc gia.
Insured Account / Tài Khoản Được Bảo Hiểm
Tài khoản tại ngân hàng, hiệp hội cho vay và tiết kiệm, hoặc định chế tài chính khác, được bảo đảm chống lại thua lỗ bởi quỹ bảo hiểm tiền gởi. Tài khoản trong các định chế ký gởi bảo hiểm liên bang được bảo vệ lên đến $100,000 trong số dư vốn gốc. Các tài khoản ngân hàng thương mại và các tài khoản ngân hàng tiết kiệm hỗ tương được bảo hiểm bởi Quỹ Bảo hiểm Ngân hàng; các tài khoản ngân hàng tiết kiệm liên bang và các quỹ cho vay và tiết kiệm được bảo hiểm bởi Quỹ Bảo hiểm của Hiệp hội Tiết kiệm, và tài khoản hiệp hội tín dụng được bảo hiểm bởi Quỹ Bảo hiểm Chia sẻ Hiệp hội Tín dụng Quốc gia. Xem UNINSURED DEPOSITOR. Trái với tài sản không được bảo hiểm, không được bảo vệ bởi bảo hiểm tiền gởi liên bang. Các quỹ tương hỗ và những khoản niên kim là các khoản đầu tư không được bảo hiểm rủi ro của thị trường, nhưng các nhà đầu tư với các tài khoản của nhà môi giới - thương nhân có thể được bảo vệ, trong trường hợp xảy ra khả năng không thể thanh toán của nhà môi giới, bởi Công ty Bảo vệ Nhà đầu tư Chứng khoán (SPIC).
Instrumentality / Phương Tiện
Cơ quan chính quyền phát hành chứng khoán khả mại được bảo đảm bằng tín dụng trung thực của chính phủ. Thuật ngữ này thường được sử dụng liên quan đến tín phiếu, chứng chỉ, và trái phiếu được các cơ quan chính phủ Mỹ phát hành, như Ngân hàng Xuất Nhập khẩu, Hiệp hội Cầm cố Quốc gia của Chính phủ, hoặc Cục Quản trị Doanh nghiệp nhỏ, nhưng có thể đề cập bất kỳ cơ quan nào của chính phủ.
Instructing Bank / Ngân Hàng Chỉ Thị
Ngân hàng tiến hành chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng, trái với ngân hàng tư vấn, có nhiệm vụ thông báo cho người gởi rằng việc thanh toán đã được thực hiện. Còn được gọi là bên đặt lệnh.
Institutional Lender / Bên Cho Vay Định Chế
Định chế tài chính hoặc nhà đầu tư định chế, đầu tư các quỹ của chính định chế đó, hoặc do định chế đó quản lý, dưới dạng cổ phần công ty và chứng khoán nợ, chứng khoán chính phủ, cầm cố nhà ở, bất động sản thương mại hoặc chứng khoán được được bảo đảm bằng cầm cố. Thường thì những nhà đầu tư này mua khoản vay cầm cố, toàn bộ khoản vay hoặc tổ hợp các khoản vay kết hợp như các chứng khoán, và những chứng khoán mới được chào bán thông qua thoả thuận cá nhân. Trong thị trường cầm cố thứ cấp, thì những hiệp hội cho vay và tiết kiệm, những ngân hàng tiết kiệm, công ty bảo hiểm nhân thọ, những ngân hàng thương mại, và các quỹ lương hưu hoạt động như những định chế cho vay.
Insider Information / Thông Tin Nội Bộ
Thuật ngữ pháp lý đối với thông tin không công bố rộng rãi cho công chúng, nhưng được biết bởi các giám đốc nội bộ, những người chủ công ty biết trong việc hoạch định mua thâu tóm một công ty khác hoặc các ngân hàng khác. Các nhân viên, giám đốc và những người khác bên trong công ty sở hữu ít nhất 10% cổ phần của công ty, phải báo cáo việc mua bán cho Sở Giao dịch chứng khoán.
Initial Interest Rate / Lãi Suất Ban Đầu
Lãi suất, thường được chiết khấu ở dưới mức lãi suất điều chỉnh đầy đủ theo chỉ số, có hiệu lực trong suốt thời kỳ, trước khi có sự thay đổi lãi suất đầu tiên của cầm cố có lãi suất điều chỉnh (ARM).
Inflation - Indexed Securities / Chứng Khoán Điều Chỉnh Theo Lạm Phát
Kỳ phiếu hoặc trái phiếu đảm bảo tỉ lệ lợi nhuận trên mức lạm phát nếu giữ đến ngày đáo hạn. Chứng khoán kho bạc điều chỉnh theo lạm phát, đã có từ năm 1997, được đưa ra theo những kỳ hạn sau đây: kỳ phiếu kho bạc 5 năm và 10 năm, và trái phiếu kho bạc 30 năm. Chứng khoán kho bạc điều chỉnh lạm phát có hai phần: Tỉ lệ lợi nhuận cố định, trả như là tiền lãi, và phần hoàn lại có thể điều chỉnh (vốn gốc) được điều chỉnh theo tốc độ thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Nếu lạm phát tăng lên thì phiếu lãi vẫn không đổi, nhưng vốn gốc được điều chỉnh theo lạm phát (trả khi đáo hạn) sẽ tăng giá trị. Chứng khoán điều chỉnh lạm phát của kho bạc Mỹ được mô phỏng theo Trái phiếu Lãi suất thực được Chính phủ Canada phát hành, và được Cục Nợ công của Bộ Tài chính sử dụng, với các mệnh giá thấp đến $1,000. Chứng khoán này có thể được mua bằng điện tử thông qua Treasury Direct (Kho bạc Trực tiếp), Văn phòng kinh doanh của Bộ Tài chính cho các nhà đầu tư nhỏ hoặc thương nhân - nhà môi giới tài chính.
INET / Hệ Thống Thanh Toán Trên Mạng
Mạng lưới để trao đổi những giao dịch có và nợ của thẻ ngân hàng giữa các định chế tài chính, là chi nhánh của tổ chức Mastercard International. Hệ thống cấp phép (INAS) và hệ thống thanh toán (INET) của thẻ Mastercard hiện nay được phối hợp trong mạng truyền thông dữ liệu toàn cầu được biết đến như BankNet. Tên đầy đủ là Interbank Network for Electronic Transfer (Mạng liên ngân hàng chuyển khoản điện tử).
Industrial Development Bond / Trái Phiếu Phát Triển Công Nghiệp
Trái phiếu đô thị được phát hành bởi chính quyền địa phương hoặc chính quyền tiểu bang, hoặc bởi một cơ quan phát triển, để cung cấp tài chính cho các dự án công nghiệp cá nhân tạo ra doanh thu chịu thuế, và một số dự án công trình công cộng. Những trái phiếu này có hai loại: trái phiếu phát triển cung cấp tài chính để nâng cấp hoặc cải thiện các công ty tiện ích công cộng, và trái phiếu thu nhập công nghiệp mà một công ty tư nhân chịu trách nhiệm thanh toán cho chủ trái phiếu. Những trái phiếu công nghiệp chịu các quy định điều tiết đặc biệt của IRS liên quan miễn thuế tiền lãi. Miễn thuế trên nhiều loại trái phiếu này, khác với các trái phiếu cung cấp tài chính cho ngành hàng không, các nhà máy xử lý nước và một số dự án liên quan đến công trình công cộng khác, bị bãi bỏ bởi Đạo luật Cải cách Thuế 1986. Xếp hạng trái phiếu thu nhập dựa trên xếp hạng tín dụng của công ty tư nhân bảo lãnh cho hợp đồng thuê và hợp đồng thuê mua những phương tiện, bởi vì nguồn thanh toán lại sau cùng là công ty, không phải bên phát hành trái phiếu. Xem PRIVATE PURPOSE BOND; PUBLIC PURPOSE BOND.
Individual Retirement Account Rollover / Tái Tục Tài Khoản Hưu Trí Cá Nhân
Điều khoản trong bộ luật thuế Mỹ cho phép chủ tài khoản hưu trí cá nhân chuyển tài sản trong tài khoản, mà không bị phạt, sang tài khoản IRA khác, hoặc một kế hoạch hưu trí đủ điều kiện, nếu các quỹ được tái đầu tư trong vòng 60 ngày. Quy tắc tương tự áp dụng cho những khoản phân phối sớm bằng cổ phần của quỹ lương hưu, kế hoạch chia sẻ lợi nhuận và các kế hoạch tiết kiệm nhân viên khác đủ điều kiện về thuế. Điều khoản này cho phép các cá nhân chuyển tài sản từ một hình thức đầu tư này sang một hình thức đầu tư khác, mà không phải trả tiền phạt IRS 10% khi rút sớm. Còn được gọi là IRA luân chuyển.





