Hidden Unemployment / Thất Nghiệp Ẩn
Còn gọi là thất nghiệp trá hình. Vì lực lượng lao động biến đổi tuần hoàn, nên người ta lập luận rằng số người thất nghiệp được thông báo phản ánh không hết lượng người thất nghiệp thực sự do không tính những công nhân chán nản.
Hicks. Sir John R / (1904-1989)
Nhà kinh tế học người Anh, đồng giải Nobel kinh tế 1972, cùng với Kenneth ARROW Ông dạy tại trường Kinh tế London và các trường đại học: Cambridge, Manchester và Oxford. Ông nhận được giả Nobel do nghiên cứu về lý thuyết CÂN BẰNG TỔNG THỂ trong Giá trị và tư bản (1939), đặc biệt về vấn đề ổn định hệ thống cân bằng tổng thể trước các cú sốc từ bên ngoài; về nghiên cứu trong KINH TẾ HỌC PHÚC LỢI, THẠNG DƯ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG. Tuy nhiên, Hicks còn nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác. Lý tuyết tiền lương (1932) của ông nêu ra phương pháp NĂNG SUẤT BIÊN ứng dụng trong xác định tiền lương theo quan niệm cổ điển. Trong bài Keynes và các phương pháp cổ điển (1937), ông đã khắc phục được vấn đề bất định của thuế Keynes và quỹ có thể cho vay về LÃI SUẤT bằng cách đưa vào các đường IS/LM, các đường IS/LM trở thành công cụ dùng trong phân tích lý thuyết Keynes. Năm 1950, ông tổng hợp các ý tưởng Keynes (Phương pháp QUÁ TRÌNH SỐ NHÂN) của các nhà kinh tế lượng (độ trễ) của quá trìng gia tốc và của Harrod (tăng trưởng và hệ thống không ổn định) vào mô hình của chu kỳ kinh doanh trong Một đóng góp vào lý thuyết vào chu kỳ kinh doanh. Ông cũng đã xuất bản các cuốn sách về Lý thuyết cầu và hiện trạng của kinh tế học Keynes.
Hicks Neutral Technical Progress / Tiến Bộ Kỹ Thuật Trung Tính Hicks
Một phân loại của tiến bộ kỹ thuật phát triển độc lập so sánh các điểm trong quá trình tăng trưởng mà ở đó tỷ lệ VÔN/ LAO ĐỘNG là không đổi.
HH Bond / Trái Phiếu HH
Loạt trái phiếu tiết kiệm HH có mệnh giá từ 500 - 10 000 đôla. Trái phiếu E và EE có thể được sử dụng để đổi lấy trái phiếu HH. Trái phiếu HH trả lãi suất nửa năm 1 lần và đáo hạn sau 20 năm. Trái phiếu H đáo hạn sau 30 năm. Thuế thu nhập liên bang đánh trên những trái phiếu này có thể được hoãn lại cho đến khi trái phiếu được bán hoặc đáo hạn. Trái phiếu này không còn được bán bởi Kho bạc, hoặc không được dùng để đối lấu loại trái phiếu khác từ tháng 9 năm 2004.
Heteroscedasticity / Hiệp Phương Sai Không Đồng Nhất
Một bài toán kinh tế lượng trong đó phương sai của sai số trong một mô hình hồi quy không đồng nhất giữa các quan sát.
Heterogeneous Product / Sản Phẩm Không Đồng Nhất
Các hàng hoá hay dịch vụ do các đơi vị kinh tế đưa ra trên một thị trường nhất định mà có tổ hợp thuộc tính không giống nhau dưới con mắt của người mua sản phẩm đó.
Heterogeneous Capital / Vốn Không Đồng Nhất
VỐN vật chất thuộc nhiều loại đặc trưng riêng cho từng quá trình sản xuất và không được chuyển sang quá trình khác. Khái niệm này trở nên lỏng lẻo với ý tưởng rằng một hàng hoá vốn dễ chia nhỏ có thể sử dụng cho sản xuất nhiều hàng hoá trong nhiều quá trình.
Vốn Không Đồng Nhất (Heterogeneous Capital) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Vốn Không Đồng Nhất (Heterogeneous Capital) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Heterogeneity / Tính Không Đồng Nhất
Chất lượng của hàng hoá, dịch vụ hoặc các yếu tố tạo ra sự khác nhau trong quan niệm của người tiêu dùng và người sản xuất.
Herfindahl Index / Chỉ Số Herfindahl
Một thước đo độ tập trung của thị trường công nghiệp.
Herd Mentality / Hiệu Ứng Đàn Bầy
Hiệu ứng đàn bầy là thuật ngữ dùng để chỉ cách mà con người bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh trong việc lựa chọn những hành vi, xu hướng, và những món đồ để mua nhất định. Ví dụ về Hiệu ứng đàn bầy có thể thấy rất rõ ở hành vi mua những sản phẩm công nghệ cao như máy điện thoại, iPod, hoặc các xu hướng mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, mua quần áo thời trang, mua xe, cách trang trí nhà cửa... Trong môn tâm lí học xã hội còn có một số thuật ngữ khác cũng tương tự hiệu ứng đàn bầy. Theo triết gia Nietzche người sáng tạo ra thuật ngữ này, những người nằm trong "tầm ảnh hưởng" của hiệu ứng đàn bầy được chia ra thành hai nhóm nhỏ hơn: thứ nhất, những người thận trọng với hành vi của mình - họ suy xét sự phù hợp với niềm tin - tín ngưỡng, và những thức đó đó sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của họ như thế nào; thứ hai, những người bị ảnh hưởng bởi truyền thông, không suy xét cẩn thận - họ dễ dãi hơn và dựa vào những cái gì mà thông tin công cộng nói, theo đúng xu hướng và theo "bầy." Thuật ngữ Herd Mentality được kết hợp từ thuật ngữ "Herd" tức là bầy đàn, và "Mentality" tức là trí lực. Tuy nhiên, định nghĩa chính xác nhất phải là: Cách thức mà đám đông hành động theo các cách tương tự nhau ở cùng một thời điểm. Hiệu ứng bầy đàn và hành vi bầy đàn đã được sử dụng để miêu tả hành vi của con người từ khi bầy người nguyên thủy hình thành bộ lạc, di cư thành từng nhóm, và làm nông nghiệp cùng với nhau. Hành vi bầy đàn trong xã hội hiện đại được nghiên cứu bởi Sigmund Freud và Wilfred Trotter trong cuốn Herd Instincts in Peace and War.
Hemline Theory / Lý Thuyết Gấu Váy Cho Thị Trường
Có ý kiến kỳ quặc cho rằng giá chứng khoán biến chuyển cùng chiều hướng tổng quát như hemlines (gấu váy) của váy dài phụ nữ. Váy ngắn trong thập niên 1920 và thập niên 1960 được xem là dấu hiệu của chứng khoán tăng giá, trong khi đó váy dài trong thập niên 1930 và 1940 được xem là biểu thị giá hạ. Dù đôi lúc nó kỳ lạ như lời tiên tri, lý thuyết gấu váy phiếu như thế được lập ra cho danh mục đầu tư thiên về trái phiếu (bond-oriented portfolios) với Kicker - phần lợi thêm - của việc chuyển đổi ra chứng khoán, dự trù để bảo hộ chống lại lạm phát.
Hedonism / Chủ Nghĩa Khoái Lạc
Triết lý cho rằng hành vi của con người bị chi phối bởi sựu tìm kiếm thú vui. Tuy nhiên, với tư cách là một triết lý, chủ nghĩa khoái lạc bị thay đổi rất nhiều bởi khái niệm về nghĩa vụ, trách nhiệm…
Hedonic Price / Giá Ẩn
Giá ẩn hay GIÁ BÓNG là tính chất của một hàng hoá. Một phần giá của loại hàng hoá đó có liên quan đến mỗi tính chất của nó và do vậy có thể đánh giá sự thay đổi về chất lượng.
Hedging / Lập Hàng Rào
Một hành động do người mua hoặc người bán thực hiện để tự bảo vệ thu nhập của mình khi có sự tăng giá xảy ra trong tương lai.
Hedgers / Các Nhà Phòng Ngừa Rủi Ro
Nông dân, nhà sản xuất, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu đểu có thể là các nhà phòng ngừa rủi ro. Một nhà phòng ngừa rủi ro mua hoặc bán trong thị trường giao sau để bảo đảm cho giá cả của hàng hóa trong tương lai mà họ dự định bán hoặc mua vào một ngày trong tương lai trên thị trường tiền mặt. Điều này sẽ giúp bảo vệ chống lại rủi ro giá cả.Những người nắm giữ vị thế mua trong hợp đồng giao sau (những người mua hàng hóa) đang cố gắng để bảo vệ giá càng thấp chừng nào càng tốt chừng đó. Ngược lại những ai nắm giữ vị thế bán trong hợp đồng giao sau (người bán hàng hóa) sẽ muốn giữ cho giá cao chừng nào tốt chừng đó. Tuy nhiên, hợp đồng giao sau cung cấp một mức giá xác định rõ ràng cho cả hai bên đối tác, nó sẽ làm giảm rủi ro liên quan đến biến động giá. Phòng ngừa rủi ro bằng các hợp đồng giao sau có cũng có thể được sử dụng nhưng một phương tiện để chốt một mức giá biên có thể chấp nhận được giữa chi phí của nguyên liệu thô và chi phí bán lẻ của sản phẩm được sản xuất cuối cùng.Ví dụ:Một thợ bác phải bảo đảm một lượng bạc nhất định trong thời gian 6 tháng để làm bông tai và lắc tay theo như các mẫu đã quảng cáo trong một catolog sắp tới với mức giá xác định. Nhưng nếu giá của bạc tăng lên trong 6 tháng tiếp theo? Bởi vì giá của bông tai và lắc tay (bằng bạc) đều đã được thiết lập trước rồi, chi phí tăng thêm của nguyên liệu bạc không thể tính cho người mua lẻ cuối cùng, có nghĩa là thợ bạc phải chịu phần chi phí tăng thêm đó. Người thợ bạc cần phải được phòng ngừa rủi ro, hoặc ít nhất là họ cần được tối thiểu hóa rủi ro chống lại khả năng tăng giá bạc. Nhưng bằng cách nào?Người thợ bạc có thể tham gia vào thị trường giao sau và mua một hợp đồng bạc để thanh toán trong thời gian 6 tháng (ví dụ là tháng 6) với mức giá $5 một ounce. Tại thời điểm cuối của kỳ hạn 6 tháng, giá của bạc trên thị trường tiền mặt thực sự là $6 một ounce, so đó người thợ bạc đã có lợi từ hợp đồng giao sau và thoát được việc phải mua với giá cao hơn. Cuối cùng nếu giá của bạc trên thị trường tiền mặt giảm thì người thợ bạc không tham gia vào thị trường giao sau sẽ tốt hơn. Tuy nhiên, Tại cùng một thời điểm, bởi vì thị trường bạc rất biến động, các nhà tạo lập bạc cũng vẫn muốn bảo vệ họ tránh khỏi các rủi ro bằng việc tham gia vào các hợp đồng giao sauDo đó, nguyên tắc cơ bản của việc phòng ngừa rủi ro là: cố gắng để tối thiểu hóa rủi ro nhiều nhất có thể bằng cách chốt trước các mức giá mua và khối lượng mua trong tương lai.
Hedged Tender / Đặt Giá Thầu Có Bảo Hộ
Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp bán khống (Selling short - bán chứng khoán vay mượn) một số lượng cổ phần đang được đặt giá thầu để bảo vệ giá không rớt trong trường hợp tất cả cổ phần này không được chấp nhận (chấp nhận theo giá đặt mua thầu). Ví dụ, công ty ABC hay công ty khác muốn mua công ty ABC tuyên bố giá đặt thầu là $52/cổ phần khi cổ phần ABC đang bán với giá thị trường là $40. Bây giờ giá thị trường cổ phần - ABC tăng dần bằng giá đặt thầu (giá đặt mua cao hơn giá thị trường - Tender offer) là $52. Nhà đầu tư muốn bán tất cả 2000 cổ phần với giá $52 nhưng không thể chắc chắn bán được 2000 cổ phần. Với giá đề nghị $52/cổ phần, nhà đầu tư nghĩ rằng chắc chỉ bán được 1.000 cổ phần do đó ông ta sẽ bán khống 1.000 cổ phần được chấp nhận theo giá đó và khi giá đặt thầu hết hiệu lực (hết hạn) và giá thị trường cổ phần ABC bắt đầu rớt giá thì nhà đầu tư vẫn bán được hết 2.000 cổ phần với giá $52 hoặc là sát với giá đó. Một nửa cho người đã đặt giá thầu và một nửa thì đã bán khống.
Hedge Ratio / Tỷ Lệ Bảo Hộ Giá
Thuật ngữ này dùng để chỉ tỷ lệ hợp đồng option so với hợp đồng Futures mà người mua đã mua để loại trừ rủi ro trong giao dịch mua bán. Tỷ lệ dựa trên hệ số delta của hợp đồng option. Ví dụ, nếu hợp đồng Future thay đổi $1 thì sẽ làm thay đổi phí option là $0,5; tỷ lệ sẽ là 2 hợp đồng option cho mỗi hợp đồng futures.
Hedge Fund / Self-Insurance Fund / Quỹ Tự Bảo Hiểm Rủi Ro
Quỹ tự bảo hiểm rủi ro là một thể chế tài chính có thể đạt được những lợi thế an toàn trong ngắn hạn hoặc dài hạn bằng cách mua bán các cổ phiếu kể cả các cổ phiếu được định giá thấp, mua bán cácquyền chọn mua bán hoặc trái phiếu. Quỹ tự bảo hiểm rủi ro được đầu tư vào bất cứ cơ hội nào, tại bất cứ thị trường nào có khả năng sinh lời và rủi ro thấp. Nó có nhiều chiến lược khác nhau như chiến lược chống lại sự sụt giảm của thị trường chứng khoán trong điều kiện bất ổn và suy giảm của những thị trường chứng khoán quá nóng. Mục đích chính của hầu hết các quỹ tự bảo hiểm rủi ro là giảm thiểu sự bất ổn và rủi ro để bảo toàn vốn và thu lợi trong mọi điều kiện thị trường. Quỹ tự bảo hiểm rủi ro hiện có khoảng 14 chiến lược đầu tư riêng biệt, mỗi chiến lược có mức độ thu nhập và rủi ro khác nhau. Ví dụ một quỹ tự bảo hiểm rủi ro vĩ mô đầu tư vào thị trường cổ phiếu hoặc trái phiếu hoặc thị trường tiền tệ với hy vọng vào sự thay đổi tích cực của tỷ lệ lãi suất quốc tế hay sự thay đổi của chính sách tiền tệ quốc gia. Quỹ tự bảo hiểm rủi ro đầu tư cổ phiếu có thể đầu tư trong phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu, quỹ này chống lại sự suy giảm trên thị trường chứng khoán bằng cách phân loại ra những cổ phiếu được định giá cao hoặc phân loại theo chỉ số cổ phiếu. Hiểu về đặc điểm của các chiến lược quỹ tự bảo hiểm rủi ro khác nhau là điều kiện cần thiết để phân bổ vốn cho các cơ hội đầu tư một cách hiệu quả. Vì tất cả các quỹ tự bảo hiểm rủi ro không giống nhau nên cần phải hiểu sự khác biệt giữa các chiến lược quỹ tự bảo hiểm rủi ro. Thu nhập từ đầu tư, sự bất ổn định và rủi ro là các yếu tố có sự khác nhau đối với mỗi chiến lược. Một vài chiến lược không liên quan trực tiếp đến thị trường chứng khoán có thể tạo ra nguồn thu nhập ổn định với độ rủi ro và thua lỗ thấp so với quỹ tương hỗ. Một quỹ đầu tư thành công sẽ nhận ra được sự khác biệt, biết kết hợp các chiến lược và các loại tài sản khác nhau để tạo ra thu nhập ổn định và lâu dài hơn các quỹ đầu tư tư nhân. Đặc điểm của các quỹ tự bảo hiểm rủi ro Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro sử dụng nhiều biện pháp tài chính khác nhau để giảm thiểu rủi ro, gia tăng thu nhập và tối thiểu sự liên hệ trực tiếp với thì trường chứng khoán và cổ phiếu. Rất nhiều quỹ tự bảo hiểm rủi ro linh động trong lựa chọn đầu tư (có thể sử dụng bán ngắn hạn, đầu cơ vay nợ, chứng khoán phái sinh). Các quỹ tự bảo hiểm rủi ro có thu nhập đầu tư khác nhau, tính không ổn định khác nhau và rủi ro khác nhau. Không phải tất cả nhưng rất nhiều chiến lược quỹ tự bảo hiểm rủi ro có xu hướng chống lại sự suy giảm trên các thị trường giao dịch. Nhiều quỹ tự bảo hiểm rủi ro có khả năng tạo ra những thu nhập không xuất phát từ thị trường. Nhiều quỹ tự bảo hiểm rủi ro đặt mục tiêu rõ ràng về thu nhập đi đối với bảo toàn vốn hơn là chỉ đặt tầm quan trọng về thu nhập. Hầu hết các quỹ tự bảo hiểm rủi ro được quản lý bởi các chuyên gia có kinh nghiệm về đầu tư với tính nguyên tắc cao và sự cần mẫn. Các quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm, các ngân hàng tư nhân và các gia đình hoặc cá nhân giàu có đầu tư vào quỹ tự bảo hiểm rủi ro để giảm thiểu sự bất ổn định trong đầu tư và gia tăng lợi nhuận. Các nhà quản lý quỹ có tính chuyên biệt cao, mỗi người chỉ hoạt động mua bán, giao dịch trong lĩnh vực mình am hiểu và có lợi thế cạnh tranh. Hedge fund là loại quỹ đầu tư có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá chặt. Khái niệm "Hedge Fund" không nhằm ám chỉ tới một loại pháp nhân riêng biệt của thị trường vốn, mà chỉ là cách người ta gọi nhằm phân biệt các quỹ ít bị quản chế chặt chẽ (do các điều luật nới lỏng hơn). Thường các quỹ loại này chỉ giao dịch với một số lượng hạn chế các nhà đầu tư vào quỹ, vì thế thường mỗi nhà đầu tư phải bỏ ra những khoản tiền đầu tư rất lớn đóng theo phương thức "gọi vốn không đại chúng" (private placement). Ngược với các quỹ Hedge Fund là các quỹ có tính đại chúng cao, phần đông dân cư đều có thể tham gia đầu tư và thường được xếp vào nhóm các Quỹ hỗ tương (Mutual Funds). Do ít không bị quản chế ngặt nghèo, Hedge Fund thường rất linh hoạt trong các chiến lược đầu tư. Hedge fund có thể bỏ tiền vào đầu tư những loại phái sinh chứng khoán (như cổ phiếu) và chỉ bị chế tài bởi các điều khoản do hợp đồng kiểm soát quỹ. Tùy thuộc vào "Chỉ dẫn đầu tư" và "Phương thức", Hedge Fund có thể mua hay bán trên thị trường và tham gia các hợp đồng futures, swaps hoặc các phái sinh chứng khoán khác. Như vậy, Hedge Fund có thể tiến hành các chiến lược đầu tư phức hợp, nhiều khi hưởng lợi từ các khoảnh khắc dao động lớn của thị trường, hoặc khi thị trường đang bán tháo tài sản tài chính. Do hạn chế số nhà đầu tư tham gia, Hedge Fund thường "mở" cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp, tổ chức hoặc có trình độ cao. Vậy Hedge Fund khác gì các quỹ đầu tư không đại chúng Private Equity?Chúng khá giống các quỹ Private Equity, có nhiều điểm chung. Cả 2 loại này đều ít bị chế tài ngặt nghèo, và là các "rổ tiền riêng" đầu tư vào chứng khoán và đều kích thích bộ máy quản lý quỹ bằng lợi nhuận do quỹ sinh ra. Nhưng hầu hết các quỹ Hedge fund đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản rất cao, và cho phép các nhà đầu tư góp vốn hoặc rút vốn khỏi quỹ khá dễ dàng. Các quỹ Private equity lại hầu hết là đầu tư vào các tài sản vốn không thanh khoản như các công ty ở giai đoạn trước khi trở thành đại chúng. Như vậy, nhà đầu tư vào Private Equity Fund thường bị "giam tiền" trong suốt đời hoạt động của quỹ (thường từ 7-10 năm). Hedge fund thường đầu tư vào các quỹ mua bán các công ty chưa đại chúng, chứ không đầu tư trực tiếp lên tài sản vốn của những công ty này. Hedge Fund khác gì Mutual FundMặc dù cùng là các "rổ tiền" thu hút từ các nhà đầu tư, cấu trúc 2 loại quỹ này rất khác nhau. Quỹ đầu tư Mutual Fund có tính đại chúng cao và bị quản chế ngặt nghèo bởi cơ quan quản lý giao dịch chứng khoán (ví dụ SEC), nhưng Hedge fund thì không. Nhà đầu tư vào Hedge fund bắt buộc phải là người có trình độ chuyên môn cao, có hiểu biết thấu đáo về thị trường và giao dịch. Quỹ Mutual Funds được yết giá và cổ phiếu phải có tính thanh khoản cao hàng ngày. Mutual fund bắt buộc phải có các bản cáo bạch đầy đủ, chi tiết và sẵn sàng cung cấp cho bất kỳ ai yêu cầu được xem, mà yêu cầu này có thể qua bưu điện hoặc thư điện tử. Hoạt động phải được công bố rõ ràng hàng quý, nhất là về các khoản đầu tư. Hedge Fund không phải tuân thủ các yêu cầu khắt khe này. Hedge Fund cũng không cần có tính thanh khoản giao dịch hàng ngày, ngược lại thường "khóa chặt" các khoảng thời gian rút vốn để hoạt động có thể sinh lợi. Họ chỉ trả lợi tức cho nhà đầu tư khi khoảng thời gian qui định đó kết thúc, thông qua các kiểm chứng của kế toán hành nghề chính thức và các biểu mẫu thuế công khai. Mặc dù vậy, nhiều người chấp nhận cách thức của Hedge Fund vì nó có thể sinh lợi nhiều hơn Mutual Fund cho họ. Để cạnh tranh, gần đây một số Mutual Fund đã tung ra sản phẩm mới có các đặc tính mà trước đó chỉ có Hedge Fund cung cấp cho thị trường.
Hedge Fund / Quỹ Đầu Tư Thanh Khoản - Linh Hoạt
Hedge fund là loại quỹ đầu tư có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá chặt. Khái niệm "Hedge Fund" không nhằm ám chỉ tới một loại pháp nhân riêng biệt của thị trường vốn, mà chỉ là cách người ta gọi nhằm phân biệt các quỹ ít bị quản chế chặt chẽ (do các điều luật nới lỏng hơn). Thường các quỹ loại này chỉ giao dịch với một số lượng hạn chế các nhà đầu tư vào quỹ, vì thế thường mỗi nhà đầu tư phải bỏ ra những khoản tiền đầu tư rất lớn đóng theo phương thức "gọi vốn không đại chúng" (private placement). Ngược với các quỹ Hedge Fund là các quỹ có tính đại chúng cao, phần đông dân cư đều có thể tham gia đầu tư và thường được xếp vào nhóm các Quỹ hỗ tương (Mutual Funds). Do ít không bị quản chế ngặt nghèo, Hedge Fund thường rất linh hoạt trong các chiến lược đầu tư. Hedge fund có thể bỏ tiền vào đầu tư những loại phái sinh chứng khoán (như cổ phiếu) và chỉ bị chế tài bởi các điều khoản do hợp đồng kiểm soát quỹ. Tùy thuộc vào "Chỉ dẫn đầu tư" và "Phương thức", Hedge Fund có thể mua hay bán trên thị trường và tham gia các hợp đồng futures, swaps hoặc các phái sinh chứng khoán khác. Như vậy, Hedge Fund có thể tiến hành các chiến lược đầu tư phức hợp, nhiều khi hưởng lợi từ các khoảnh khắc dao động lớn của thị trường, hoặc khi thị trường đang bán tháo tài sản tài chính. Do hạn chế số nhà đầu tư tham gia, Hedge Fund thường "mở" cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp, tổ chức hoặc có trình độ cao. Vậy Hedge Fund khác gì các quỹ đầu tư không đại chúng Private Equity?Chúng khá giống các quỹ Private Equity, có nhiều điểm chung. Cả 2 loại này đều ít bị chế tài ngặt nghèo, và là các "rổ tiền riêng" đầu tư vào chứng khoán và đều kích thích bộ máy quản lý quỹ bằng lợi nhuận do quỹ sinh ra. Nhưng hầu hết các quỹ Hedge fund đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản rất cao, và cho phép các nhà đầu tư góp vốn hoặc rút vốn khỏi quỹ khá dễ dàng. Các quỹ Private equity lại hầu hết là đầu tư vào các tài sản vốn không thanh khoản như các công ty ở giai đoạn trước khi trở thành đại chúng. Như vậy, nhà đầu tư vào Private Equity Fund thường bị "giam tiền" trong suốt đời hoạt động của quỹ (thường từ 7-10 năm). Hedge fund thường đầu tư vào các quỹ mua bán các công ty chưa đại chúng, chứ không đầu tư trực tiếp lên tài sản vốn của những công ty này. Hedge Fund khác gì Mutual FundMặc dù cùng là các "rổ tiền" thu hút từ các nhà đầu tư, cấu trúc 2 loại quỹ này rất khác nhau. Quỹ đầu tư Mutual Fund có tính đại chúng cao và bị quản chế ngặt nghèo bởi cơ quan quản lý giao dịch chứng khoán (ví dụ SEC), nhưng Hedge fund thì không. Nhà đầu tư vào Hedge fund bắt buộc phải là người có trình độ chuyên môn cao, có hiểu biết thấu đáo về thị trường và giao dịch. Quỹ Mutual Funds được yết giá và cổ phiếu phải có tính thanh khoản cao hàng ngày. Mutual fund bắt buộc phải có các bản cáo bạch đầy đủ, chi tiết và sẵn sàng cung cấp cho bất kỳ ai yêu cầu được xem, mà yêu cầu này có thể qua bưu điện hoặc thư điện tử. Hoạt động phải được công bố rõ ràng hàng quý, nhất là về các khoản đầu tư. Hedge Fund không phải tuân thủ các yêu cầu khắt khe này. Hedge Fund cũng không cần có tính thanh khoản giao dịch hàng ngày, ngược lại thường "khóa chặt" các khoảng thời gian rút vốn để hoạt động có thể sinh lợi. Họ chỉ trả lợi tức cho nhà đầu tư khi khoảng thời gian qui định đó kết thúc, thông qua các kiểm chứng của kế toán hành nghề chính thức và các biểu mẫu thuế công khai. Mặc dù vậy, nhiều người chấp nhận cách thức của Hedge Fund vì nó có thể sinh lợi nhiều hơn Mutual Fund cho họ. Để cạnh tranh, gần đây một số Mutual Fund đã tung ra sản phẩm mới có các đặc tính mà trước đó chỉ có Hedge Fund cung cấp cho thị trường.
Hedge Clause / Điều Khoản Bảo Hộ
Đây là điều không được khẳng định thường thấy trong văn kiện thị trường, các bản báo cáo nghiên cứu chứng khoán hay văn bản khác phải làm để đánh giá đầu tư, nó có ý miễn cho người viết trách nhiệm về tính chính xác của thông tin có được từ nguồn đáng tin cậy. Bất chấp các điều khoản này có thể làm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý, người viết vẫn có thể chịu trách nhiệm vì tính cẩu thả khi sử dụng thông tin. Ngôn ngữ điển hình cho điều khoản bảo hộ là thông tin được cung cấp ở đây là thông tin lấy được từ các nguồn đáng tin cậy nhưng tính xác thực thì không được đảm bảo.





