Hurdle Rate / Lãi Suất Tối Thiểu, Lãi Suất Ngưỡng
Thuật ngữ trong hoạch định ngân sách vốn để chỉ suất thu lợi tối thiểu của ngân hàng khi tiến hành cho vay hay đầu tư. Các khoản vay được cung ứng nếu lợi nhuận mong đợi của ngân hàng cao hơn lãi suất ngưỡng. Còn gọi là MARGINAL COST OF FUNDS. Lợi suất hòa vốn; tại điểm đó doanh thu và chi phí bằng nhau.
Hypothecate / Cầm Cố
Quá trình gán một giá trị tiền tệ cho một tài sản kém thanh khoản, và sau đó rút ra thanh khoản dưới hình thức một khoản vay, sử dụng tài sản có tính thanh khoản kém như tài sản thế chấp.
Homogeneous Functions / Các Hàm Đồng Nhất
Một hàm được coi là đông nhất bậc n nếu nhân tất cả các biến ĐỘC LẬP với một hằng số Lamda có kết quả bằng BIẾN PHỤ THUỘC nhân với Lamda.
Homogeneity / Tính Thuần Nhất, Tính Đồng Nhất
Tính chất của hàng hoá dịch vụ hoặc các yếu tố giống nhau theo cách suy nghĩ của nhà phân phối và người tiêu dùng.
Home-Equity Loan / Vay Thế Chấp Tài Sản Nhà
Là khoản vay tiêu dùng được đảm bảo bởi một đơn vị thế chấp thứ cấp, cho phép người sở hữu nhà được vay bằng tài sản họ có trên cơ sở căn nhà sở hữu. Khoản vay này được xác định dựa trên khoản chênh lệch giữa tài sản của người chủ sở hữu và giá trị thị trường ở thời điểm hiện tại của căn nhà. Đơn vị thế chấp thứ cấp, trên cơ sở người vay phát hành chứng khoán bảo đảm bằng tài sản, sẽ cung cấp một khoản vay thế chấp và lãi suất của khoản vay này thường được miễn thuế.Tên khác: "vay tài sản" (equity loan) hoặc thế chấp thứ cấp (second mortgage).
Home Equity Conversion Mortgage / Thế Chấp Đảo Ngược Theo Thứ Tự Nhà
HECM thường được gọi là thế chấp ngược chiều. Loại thế chấp này khác với thế chấp bình thường là ở chỗ thay vì phải trả tiền cho nơi cho mượn thì nơi cho mượn lại trả tiền. Những người cao niên có nhà dùng cách này để biến phần sở hữu của họ trong bất động sản thành tiền mặt, thường thì là một món tiền hàng tháng. Cũng khác với cách vay tiền trên giá trị bất động sản mình làm chủ (home equity loans), ở đây việc xét xem người xin vay có đủ điều kiện hay không lại không dựa trên thu nhập mà dựa trên giá trị của ngôi nhà họ làm chủ. Thêm nữa, người vay không phải trả lại khoản tiền vay chừng nào họ còn cư trú trong bất động sản đó.
Hold-Up Problem / Vấn Đề Tắc Nghẽn
Vấn đề tắc nghẽn là thuật ngữ được sử dụng trong kinh tế nhằm để chỉ một tình huống trong đó hai bên (ví dụ như người cung cấp và người sản xuất) có thể hợp tác với nhau để làm việc hiệu quả, nhưng họ không làm việc đó bởi vì họ lo rằng bên kia sẽ có quyền thương lượng (quyền đòi hỏi) và như vậy sẽ bị giảm lợi nhuận. Ví dụ: Giả sử rằng lợi nhuận sẽ được tạo ra nếu bên X và bên Y làm việc cùng với nhau, vì vậy họ thỏa thuận với nhau là sẽ hợp tác, sau khi X mua các trang thiết bị cần thiết. Tình huống tắc nghẽn xảy ra khi X không sẵn sàng kí hợp đồng đó, mặc dù vậy kết quả sẽ là hiệu quả Pareto, bởi vì sau khi X mua các trang thiết bị cần thiết, Y sẽ có quyền thương lượng và có thể quyết định đòi phần lợi nhuận cao hơn trước. Nguồn gốc của quyền thương lượng của Y nằm ở vụ đầu tư của X. Bởi vì X đã đầu tư rất nhiều vào dự án, nhưng Y thì không, X có nguy cơ bị mất tiền nếu vụ làm ăn không được thực hiện, nhưng Y không gặp phải nguy cơ như vậy. Như vậy, Y có quyền thương lượng mà quyền này không tồn tại trước khi vụ đầu tư của X xảy ra. Mặt khác, Y có thể đòi 100% lợi nhuận nếu X không muốn bị mất hoàn toàn vụ đầu tư. Để tránh vấn đề tắc nghẽn, các doanh nghiệp có giải pháp sáp nhập với nhau, được gọi là hội nhập theo chiều dọc.
Holding The Market / Duy Trì Thị Trường
Duy trì thị trường (lưu giữ thị trường)là việc tham gia thị trường bằng lệnh mua đủ để đỡ giá chứng khoán hay hàng hoá nhằm ổn định chiều hướng đang xuống. Quan điểm SEC xem "lưu giữ" là hình thức vận động bất hợp pháp, ngoại trừ trường hợp ổn định việc phát hành chứng khoán mới đã thông qua SEC trước đó bệnh viện hay bệnh xá. Bệnh xá loại này sau đó được điều hành theo hợp đồng thuê mướn bởi tổ chức không vụ lợi hay một công ty hoạt động kinh doanh như công ty bệnh viện Hoa Kỳ. Trái phiếu doanh thu bệnh viện, là một loại khác của trái phiếu phát triển công nghiệp, được miễn thuế, nhưng việc miễn thuế cũng có giới hạn.
Holding Period / Thời Gian Lưu Giữ
Thời gian lưu giữ là khoảng thời gian một tài sản được chính phủ lưu giữ. Ở Hoa Kỳ, các tài sản vốn được lưu giữ 6 tháng hay hơn nữa thì được hưởng thuế đặc biệt về vốn kiếm được.
Hochiminh Stock Exchange - Hose / Sở Giao Dịch Chứng Khoán Tp. Hồ Chí Minh
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (TTGDCK TP.HCM) được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội của đất nước. Sự ra đời của TTGDCK TP.HCM có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra một kênh huy động và luân chuyển vốn mới phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là sản phẩm của nền chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhà nước ta. Là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp, Trung tâm được Chính phủ giao một số chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán tập trung tại Việt Nam. Đó là: tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bán chứng khoán; quản lý điều hành hệ thống giao dịch; thực hiện hoạt động quản lý niêm yết, công bố thông tin, giám sát giao dịch, hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán và một số hoạt động khác. Để thực hiện tốt các chức năng, Trung tâm có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, bao gồm: một Giám đốc và hai Phó giám đốc, trong đó có một Phó giám đốc thường trực và 9 phòng, ban (Phòng Quản lý niêm yết, Phòng Quản lý thành viên, Phòng Giám sát giao dịch, Phòng Đăng ký - Lưu ký - Thanh toán bù trừ, Phòng Công nghệ thông tin, Phòng Thông tin Thị trường, Phòng Hành chính Tổng hợp, Phòng Kế toán và Ban quản lý Dự án). Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (SGDCK TP.HCM), tiền thân là Trung Tâm Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, được chuyển đổi theo Quyết định 559/QĐ/TTg ngày 11/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 7/1/2008, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động Công ty TNHH Một thành viên cho Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE). Công ty TNHH Một thành viên này có địa chỉ trụ sở chính 45-47 Bến Chương Dương, Phường Thái Bình, quận 1, Tp.HCM. Công ty có vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng (bao gồm vốn ngân sách Nhà nước cấp do Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM chuyển giao và vốn bổ sung của Nhà nước trong quá trình hoạt động), ngoài ra còn có nguồn vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế và các nguồn vốn hợp pháp khác. Công ty này hoạt động theo Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Điều lệ của Sở Giao dịch chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Chức năng hoạt động của Công ty bao gồm: tổ chức thị trường giao dịch cho chứng khoán của các tổ chức phát hành đủ điều kiện niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán theo quy định của pháp luật, giám sát các hoạt động giao dịch chứng khoán niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán. - Tên gọi đầy đủ: Sở Giao Dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.- Tên giao dịch quốc tế: Hochiminh Stock Exchange.- Tên viết tắt: HOSE. Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh có quyền hạn và nghĩa vụ như sau: a. Quyền hạn * Ban hành các quy chế về niêm yết chứng khoán, giao dịch chứng khoán, công bố thông tin và thành viên giao dịch sau khi được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận; * Tổ chức và điều hành hoạt động giao dịch chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán; * Tạm ngừng, đình chỉ hoặc huỷ bỏ giao dịch chứng khoán theo Quy chế giao dịch chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán trong trường hợp cần thiết để bảo vệ nhà đầu tư; * Chấp thuận, huỷ bỏ niêm yết chứng khoán và giám sát việc duy trì điều kiện niêm yết chứng khoán của các tổ chức niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán; * Chấp thuận, huỷ bỏ tư cách thành viên giao dịch; giám sát hoạt động giao dịch chứng khoán của các thành viên giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán; * Giám sát hoạt động công bố thông tin của các tổ chức niêm yết, thành viên giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán; * Cung cấp thông tin thị trường và các thông tin liên quan đến chứng khoán niêm yết; * Làm trung gian hoà giải theo yêu cầu của thành viên giao dịch khi phát sinh tranh chấp liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán; * Thu phí theo quy định của Bộ Tài chính. b. Nghĩa vụ * Bảo đảm hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường được tiến hành công khai, công bằng, trật tự và hiệu quả; * Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê, nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; * Thực hiện công bố thông tin về giao dịch chứng khoán, thông tin về tổ chức niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán, thông tin về công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và thông tin giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán; * Cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác điều tra và phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán; * Phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho nhà đầu tư; * Bồi thường thiệt hại cho thành viên giao dịch trong trường hợp Sở giao dịch chứng khoán gây thiệt hại cho thành viên giao dịch, trừ trường hợp bất khả kháng. Hoạt động quản lý, điều hành thị trường: Các hoạt động giao dịch được diễn ra liên tục, thông suốt. Bên cạnh đó, Sở luôn nghiên cứu các giải pháp, kiến nghị Chính phủ và UBCKNN ban hành những chính sách, quy định kịp thời để điều tiết thị trường cho phù hợp với xu hướng phát triển và tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, công bằng, đúng pháp luật đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu tư. Đó là việc điều chỉnh biên độ dao động giá để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường; tăng phiên giao dịch từ 3 phiên/tuần lên 5 phiên/tuần; áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới như: Tăng từ một đợt khớp lệnh lên 2 đợt trong một phiên giao dịch, áp dụng lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh (lệnh ATO), chia nhỏ lô giao dịch cổ phiếu từ 100CP xuống còn 10 CP, giảm tỷ lệ ký quỹ tiền mua chứng khoán từ 100% xuống 70%; tăng tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài từ 20% lên 30% trên tổng khối lượng cổ phiếu niêm yết của một tổ chức phát hành, không giới hạn đối với trái phiếu; thay đổi phương thức giao dịch trái phiếu, theo đó trái phiếu chỉ được giao dịch theo phương thức thoả thuận, không quy định khối lượng giao dịch, biên độ dao động giá, đơn vị giao dịch và đơn vị yết giá và nhiều chính sách giải pháp khác. Bên cạnh đó, hoạt động giám sát giao dịch của Sở cũng được tiến hành thường xuyên nhằm phát hiện và đề xuất Thanh tra UBCKNN xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Hoạt động quản lý niêm yết: Khi mới đi vào hoạt động, tại TTGDCK TP.HCM chỉ có 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch. Số lượng chứng khoán niêm yết đã tăng dần qua các năm. Tính tới tháng 12/2007, 537 chứng khoán, trong đó có 128 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quĩ, 407 trái phiếu, đang niêm yết và giao dịch tại Sở. Tính đến hết ngày 28/12/2007, thị trường có thêm 32 loại cổ phiếu và 1 chứng chỉ quỹ được niêm yết mới, nâng tổng số cổ phiếu trên sàn HOSE là 138 cổ phiếu và 3 chứng chỉ quỹ; và thêm 17 loại trái phiếu (trong đó có 12 trái phiếu chính quyền địa phương và 5 trái phiếu công ty). Số lượng cổ phiếu niêm yết tăng trưởng gần 30% so với năm 2006. Các công ty có cổ phiếu niêm yết mới trong năm 2007 đều là những công ty có vốn lớn, có tình hình quản trị công ty tốt, thực sự có nhu cầu huy động vốn qua thị trường chứng khoán, và đã góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán. Về số lượng tài khoản, nếu như cuối năm 2006 là 200.000 người thì năm nay đã tăng lên xấp xỉ 300.000 tài khoản, tăng 50%. Thời điểm cuối 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam đạt 17% GDP. Đến cuối năm 2007, thị trường chứng khoán đã đạt 40% GDP vượt mục tiêu 25-30% GDP mà Thủ tướng đặt ra trong chiến lược phát triển của thị trường chứng khoán đến năm 2010. Và dự kiến quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán trong năm 2008 sẽ chiếm khoảng 50 - 60% GDP. Hoạt động quản lý thành viên: Số Công ty chứng khoán thành viên SGDCK TP.HCM không ngừng tăng về số lượng, quy mô và chất lượng dịch vụ. Từ lúc chỉ có 6 Công ty chứng khoán thành viên vào thời điểm đầu, đến nay, theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, trên cả nước có 69 công ty chứng khoán đang hoạt động, con số đã được cấp phép là gần 100. Ngoài ra còn hơn 80 hồ sơ xin thành lập công ty chứng khoán đang chờ xét duyệt. So với dầu năm 2006, số lượng các công ty chứng khoán hiện tại tăng gấp 5 lần. Trong năm 2007, hầu hết các công ty chứng khoán đều đạt hoặc vượt kế hoạch kinh doanh. Mạng lưới hoạt động và vốn điều lệ của các công ty cũng tăng từ hai đến ba lần. Phân hóa giữa các công ty đã rõ nét. Theo tác giả Ngọc Thủy (Nhịp cầu Đầu tư), SSI chiếm 20% thị phần môi giới trên cả hai sàn. BVSC chiếp 70% thị phần bảo lãnh phát hành. Nhóm các công ty có hỗ trợ từ ngân hàng mẹ như ACBS, SBSC, DAS, VCBS, Agriseco cũng khẳng định lợi thế khách hàng và vốn. Hoạt động quản lý giao dịch: Hoạt động quản lý giao dịch là một trong những nghiệp vụ quan trọng của SGDCK TP.HCM. Xác định được tầm quan trọng đó, thời gian qua Sở luôn nghiên cứu và kiến nghị các giải pháp kỹ thuật cũng như các quy chế, quy trình nhằm từng bước hoàn thiện và tạo điều kiện thuạn lợi để các nhà đầu tư tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường. Từ thời điểm ban đầu Trung tâm chỉ thực hiện một đợt khớp lệnh trong một phiên giao dịch và mỗi tuần chỉ tổ chức 3 phiên giao dịch (Hai, Tư, Sáu) thì Sở đã tăng lên 3 đợt khớp lệnh trong một phiên và mỗi tuần thực hiện 5 phiên giao dịch. Bên cạnh đó, nếu như trước đây, trái phiếu được tổ chức giao dịch thông qua 2 phương thức là khớp lệnh và thoả thuận, có quy định biên độ giao động, đơn vị yết giá thì nay, căn cứ vào tình hình thị trường và kinh nghiệm quốc tế, trái phiếu được giao dịch chỉ qua phương thức thoả thuận, không quy định biên độ và đơn vị yết giá. Hoạt động công bố thông tin thị trường: Hoạt động công bố thông tin thị trưòng chiếm vị trí khá quan trọng trong việc xây dựng một thị trường chứng khoán hoạt động công khai, minh bạch nhằm tạo ra một môi trường đầu tư công bằng, cung cấp kịp thời các thông tin, dữ liệu cần thiết cho các nhà đầu tư. Nhận thức được điều đó, một mặt SGDCK TP.HCM tăng cường, kiểm tra giám sát việc thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của công ty niêm yết, mặt khác nâng cao chất lượng, nội dung và đa dạng hoá các phương tiện công bố thông tin theo phương châm: Đầy đủ, kịp thời, chính xác và dễ tiếp cận. Hiện nay các thông tin về hoạt động chứng khoán và hoạt động của các tổ chức niêm yết được công bố thông tin đúng theo quy định và qua nhiều phương tiện như: trang Web, bản tin Thị trường Chứng khoán, màn hình điện tử đặt tại SGDCK TP.HCM và các công ty Chứng khoán thành viên, thông qua mạng Internet gửi đến các địa chỉ E-mail đăng ký, Fax và các ấn phẩm thường niên của Sở. Trang thông tin điện tử của Sở GDCK Tp. Hồ Chí Minh mỗi ngày đang phục vụ nhu cầu thông tin của gần nửa triệu nhà đầu tư, công ty chứng khoán và định chế tài chính cùng rất đông đảo người sử dụng Internet quan tâm tới thị trường vốn, thị trường chứng khoán Việt Nam. Tính tới thời điểm tháng 12/2007, địa chỉ http://hose.vse.vn đã tiếp nhận 14 triệu lượt truy cập. Hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán: Hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ của SGDCK TP.HCM không ngừng được cải thiện, nâng cao và luôn đảm bảo quy trình thanh toán các giao dịch được diễn ra thông suốt an toàn. Tính đến ngày 28/07/2004, Trung tâm đã nhận lưu ký 87.101.594 cổ phiếu (chiếm tỷ lệ 70,1%) và 176.841.650 (chiếm tỷ lệ 98,9%). Ngoài ra, Trung tâm đã thực hiện cầm cố đối với 48.614.897 cổ phiếu và 5.560.100 trái phiếu; Thực hiện 94 đợt thanh toán hộ cổ tức với tổng giá trị 249.905.411.100 đồng và 102 đợt thanh toán lãi trái phiếu với tổng giá trị 850.938.615.517 đồng. Đồng thời, TTGDCH TP.HCM đã triển khai thực hiện các nghiệp vụ cho các loại trái phiếu chính phủ đang lưu ký của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương mại... như quản lý các giao dịch trái phiếu cầm cố, chiết khấu, các trái phiếu được đưa vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tham gia thị trường mở và các hoạt động khác của Ngân hàng Nhà nước. Các giao dịch trái phiếu Chính phủ qua hệ thống lưu ký của Trung tâm đã mang lại những thuận lợi nhất định như thực hiện được nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm chi phí do sự cách trở về địa lý và giảm được chi phí rút, in ấn chứng chỉ chứng khoán, vận chuyển cũng như đảm bảo an toàn cho quá trình thực hiện. Ngày 7/7/2006 tại Hà Nội, Bộ Tài chính - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã tổ chức Lễ ra mắt Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK). TTLKCK tạo ra một định chế tài chính mới, góp phần hoàn thiện hơn thị trường chứng khoán trong việc đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho việc giao dịch chứng khoán. TTLKCK sẽ là địa điểm rất tin cậy cho các nhà đầu tư cũng như Nhà nước giám sát được thị trường chứng khoán. Cụ thể, đối với các thành viên lưu ký, TTLKCK cung cấp các dịch vụ lưu ký cho nhà đầu tư; giảm các chi phí liên quan đến lưu giữ, tổ chức kho két, chuyển giao chứng khoán vật chất; được thông báo đầy đủ kết quả bù trừ, thanh toán các giao dịch chứng khoán lưu ký; được nhận sự hỗ trợ từ Quỹ thanh toán trong trường hợp mất khả năng thanh toán. Còn đối với các Tổ chức phát hành sẽ không phải mất chi phí xác nhận lại quyền sở hữu khi chứng khoán được giao dịch mua bán trên các Sàn GDCK và TTGDCK; Tiết kiệm được các chi phí liên quan đến việc tập hợp danh sách cổ đông khi muốn thực hiện đại hội cổ đông, thanh toán cổ tức... thông qua việc sử dụng hệ thống đăng ký và thực hiện quyền trên TTLKCK; giảm thiểu được các chi phí phát hành chứng chỉ chứng khoán trong trường hợp phát hành thêm thông qua việc sử dụng hệ thống bút toán ghi sổ trên TTLKCK. Đối với các nhà đầu tư, chứng khoán lưu ký được lưu giữ an toàn, đảm bảo; chuyển quyền sở hữu chứng khoán thông qua chuyển giao ghi sổ, an toàn, hiệu quả; người đầu tư không phải đăng ký lại chứng khoán khi thực hiện quyền...
Historical School / Trường Phái Lịch Sử
Một nhóm các nhà kinh tế Đức thế kỷ XIX mà phương pháp luận và phân tích của họ có ảnh hưởng lớn trong các nước nói tiếng Đức.
Trường Phái Lịch Sử (Historical School) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Trường Phái Lịch Sử (Historical School) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Historical Model / Các Mô Hình Lịch Sử
Các mô hình kinh tế có khả năng phân tích các biến đổi vàtình hình trong thế giới hiên thực, đối lập với các mô hình CÂN BẰNG thường nặng tính lý thuyết.
Historical Costs / Chi Phí Lịch Sử
Chi phí xảy ra vào thời điểm một yếu tố đầu vào hoặc nguên liệu được mua vào và vì vậy không bằng chi phí thay thế đầu vào đó (chi phí thay thế) nếu giá tăng lên vào thời điểm đó.
Histogram / Biều Đồ Tần Suất
Một minh hoạ bằng đồ thị của phân phối theo tần xuất ( hay PHÂN PHỐI XÁC SUẤT), trong đó tần suất (hay xác suất) là một biến lấy giá trị giữa các giới hạn được tính bằng chiều cao của một cột trên trục hoành giữa các giới hạn đó.
Hiring Standards / Các Tiêu Chuẩn Thuê Người
Khó khăn trong tuyển người đối với người chủ không phải là tiếp xúc với nhiều ững cử viên nhất, mà vấn đề là tìm đủ số ứng cử viên xứng đáng để dành thời gian xem xét.
High-Yield Debt / Junk Bond / Trái Phiếu Có Lãi Suất Cao
Trong lĩnh vực tài chính, trái phiếu lãi cao hay còn gọi là "Junk bond" được dùng để chỉ các loại trái phiếu có mức độ uy tín thấp hơn các tiêu chuẩn thông thường. Các trái phiếu này thường tiềm ẩn nguy cơ không được thanh toán lớn và chào bán với tỉ lệ lãi suất cao. Thêm váo đó, không giống với phần lớn các trái phiếu ngân hàng hay trái phiếu chính phủ, trái phiếu lãi cao không được đảm bảo một cách chắc chắn, nguy cơ vỡ nợ có thể xảy ra bất cứ khi nào tình hình tài chính của doanh nghiệp gặp khó khăn, ví dụ như vay quá nhiều tiền mà không đủ khả năng trả lãi. Lượng trái phiếu lãi cao phát hành trên toàn thế giới vào năm 2003 lên có trị giá tới 146 tỉ $ (trong khi con số này vào năm 2002 là 63 tỉ $). Trước đây việc phát hành Junk bond chủ yếu được phát hành tại Mỹ, tuy nhiên hiện nay châu Âu, châu Á, và nam Phi cũng đóng góp phần lớn, chủ yếu để huy động vốn để tái đầu tư hoặc tiến hành các hoạt động sáp nhập, thâu tóm. Năm 2006, các công ty tại châu Âu đã phát hành lượng trái phiếu lãi cao trị giá 31 tỉ EUR. Người nắm giữ trái phiếu dưới bất kì hình thức nào cũng đều phải đối mặt với rủi ro về lãi suất và rủi ro tín dụng. Rủi ro về lãi suất liên quan đến sự thay đổi giá trị của trái phiếu do những biến động trong cấu trúc và tỉ lệ lãi suất. Rủi ro về tín dụng của một Junk bond liên quan đến khả năng vỡ nợ của công ty đã phát hành ra nó. Mức rủi ro này được thể hiện qua xếp hạng uy tín của công ty đó. Tại Mỹ có ba công ty xếp hạng uy tín lớn là S&P, Moody's và Fitch Ratings. Các công ty sẽ được xếp theo các thứ hạng từ cao đến thấp như sau : AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C và D_mức xếp hạng uy tín thấp nhất thường là các công ty có nợ đọng. Trái phiếu chính phủ được coi là loại trái phiếu phi rủi ro vì được xếp hạng AAA và có sự bảo đảm của nhà nước. Trái phiếu của công ty có xếp hạng uy tín từ mức BBB trở lên thường được coi là trái phiếu an toàn. Trái phiéu nào có xếp hạng uy tín thấp hơn mức BBB thì gọi chung là Junk bond. Junk bond trở nên phổ biến vào những năm 1980, thông qua các hoạt động thâu tóm, sáp nhập của giới chủ ngân hàng như Michael Milken. Để tiến hành sáp nhập, mua lại, các công ty tiến hành sáp nhập thường phát hành junk bond để huy đông vốn để trả chi phí sáp nhập. Sau đó sẽ dùng dòng tiền của công ty mục tiêu để trả nợ dần. Trong năm 2005, 80% lượng trái phiếu lãi cao phát hành tại Mỹ chủ yếu được doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động khác thay vì chi cho việc sáp nhập hoặc mua lại.
High-Tech Stock / Chứng Khoán Công Ty Kỹ Thuật Cao
Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp chứng khoán của các công ty liên quan đến các lãnh vực kỹ thuật máy vi tính, bán dẫn, kỹ thuật sinh học, ngành rô-bốt, chứng khoán kỹ thuật cao thành công có lợi nhuận phát triển trên mức trung bình và vì thế giá chứng khoán rất hay thay đổi.
High-Powered Money / Tiền Mạnh
Trong lý thuyết truyền thống về số nhân tín dụng, tài sản dự trữ mà dựa vào đó hệ thống ngân hàng tạo ra tiền gửi ngân hàng ràng buộc các hoạt động cho vay của ngân hàng và dẫn đến tạo ra tiền gửi gộp chung được gọi là "tiền mạnh".
Highly Leveraged Transaction / Giao DỊch Mua Bán Hỗ Trợ Tài Chính Cao
Tiền vay ngân hàng tài trợ cho việc tái tư bản hoá hay mua lại cổ phần công ty với sự hỗ trợ tài chính (leveraged buyout - mua lại cố phần công ty để tiếp quản công ty đó với sự hỗ trợ tài chính bên ngoài mà lúc đó việc tài trợ này dẫn đến việc số nợ của người vay tăng gấp đôi và tỷ lệ nợ/tài sản trên 50% hoặc khi người vay có tổng số nợ (kể cả chứng khoán ưu đãi) vượt quá 75% tổng số tài sản. Ngoài ra, số tiền vay có thể được lập ra với đòn bẩy tài chính cao (hỗ trợ tài chính) nhờ sự điều chỉnh nghiệp vụ ngân hàng hay nhờ đơn vị bao tiêu.
High Ratio Loan / Tiền Vay Có Tỷ Lệ Cao
Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp tiền vay có thế chấp có số lượng được người cho vay ứng trước gần bằng với trị giá tài sản đã được đánh giá. Thông thường, tỷ lệ tiền vay/trị giá tài sản thế chấp cao hơn 80% được xem là tiền vay có tỷ lệ cao. Người cho vay trong trường hợp này thường yêu cầu người vay phải có bảo hiểm tiền vay có thế chấp.





