Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Goodhart's Law / Luật Goodhart

Một quy luật mang tên nhà kinh tế Goodhart cho rằng bất cứ tổng lượng tiền nào được chọn làm biến mục tiêu thì cũng đều bị bóp méo bởi chính những hành động vào mục tiêu đó.

Good 'Til Canceled/GTC / Hiệu Lực Cho Đến Khi Kết Thúc

Một lệnh mua hoặc bán chứng khoán với một giá xác định trước và có hiệu lực cho đến khi nhà đầu tư quyết định dừng lệnh hoặc cho đến khi giao dịch được thực hiện. Nếu một lệnh không có chỉ dẫn "Hiệu lực cho đến khi kết thúc" thì lệnh đó sẽ hết hiệu lực vào cuối ngày giao dịch mà lệnh được đưa ra. Trong hầu hết các trường hợp, các lệnh GTC bị các công ty môi giới hủy sau 30-90 ngày. Những lệnh kiểu này thường được đặt ở mức giá khác xa so với mức giá cổ phiếu ở thời điểm đặt lệnh. Ví dụ, một cổ phiếu bạn đang giữ có giá hiện tại là 40 đôla, nhưng bạn tin rằng giá của nó sẽ lên mức 50 đôla vào thời điểm bạn bán ra vì vậy bạn sẽ sử dụng lệnh GTC. Một khi lệnh bán GTC đã được đặt nếu giá của cổ phiếu ở mức 50 đôla ở một thời điểm bất kì trong các tháng tiếp theo thì các cổ phiếu của bạn sẽ được bán ra.

Good 'Til Canceled/GTC / Lệnh GTC

GTC là một lệnh mua hoặc bán một loại chứng khoán tại một mức giá đã định sẵn. Lệnh này có hiệu lực cho đến khi nhà đầu tư quyết định huỷ lệnh hoặc lệnh đã được thực hiện xong. Nếu như một nhà đầu tư đặt lệnh mà không đưa ra chỉ dẫn GTC thì lệnh này sẽ hết hiệu lực vào cuối của ngày đặt lệnh. Trong hầu hết các trường hợp, công ty chứng khoán sẽ huỷ lệnh GTC trong vòng từ 30 đến 90 ngày. Lệnh GTC thường được đưa ra khi nhà đầu tư kì vọng mức giá thị trường trong tương lai sẽ đạt tới mức anh ta mong đợi. Ví dụ : nếu bạn nắm giữ cổ phiếu có giá bán hiện tại trên thị trường là 40 đôla và bạn tin rằng giá cổ phiếu sẽ nhanh chóng tăng đến 50 đôla_ mức giá mà bạn sẵn sàng bán. Khi đó bạn nên đặt lệnh bán GTC. Khi đã đặt lệnh, nếu giá cổ phiếu đạt mức 50 đôla vào bất cứ thời điểm nào trong một vài tháng tiếp theo, lệnh của bạn sẽ được thực hiện. Tuy nhiên quá thời gian quy định bởi các công ty môi giới mà lệnh của bạn vẫn không thể thực hiện được (tức là mức giá không thể đạt mức 50 đôla trong thời gian quy định) thì lệnh của bạn sẽ bị huỷ. Ngoài lệnh GTC, bạn cũng có thể đặt lệnh thị trường, lệnh dừng, lệnh giới hạn hay lệnh dừng giới hạn.

Good Through / Lệnh Suốt

Lệnh suốt là lệnh mua hay bán chứng khoán trái phiếu hay hàng hoá theo giá đã ấn định trước vào thời khoảng đã định, trừ khi huỷ bỏ, thực hiện hay thay đổi. Nó là loại lệnh có giới hạn và có thể là GTW đã xác định, GTW trong thời khoảng ngắn hơn dài hơn.

Good Money / Tiền Có Sẵn

Quỹ sẵn có hay QUỸ LIÊN BANG. Thuật ngữ này được sử dụng trong chuyển tiền liên ngân hàng bằng hệ thống vô tuyến Fed của Cục Dự trữ Liên bang, dành cho hoạt động rút tiền trong cùng ngày, trái với CLEARINGHOUSE FUNDS, phải mất ít nhất 1-2 ngày để thanh toán.

Goldfeld - Quandt / Kiểm Định Goldfeld - Quandt

Tên của một phép kiểm định được sử dụng để nhận dạng vấn đề Phương sai không thuần nhất trong Số dư của một phương trình Hồi quy.

Golden Share / Cổ Phiếu Đặc Biệt

Cổ phiếu đặc biệt (hay còn gọi là cổ phiếu vàng) là loại cổ phiếu thường nhưng chủ sở hữu có quyền biểu quyết mạnh hơn các cổ đông khác trong một số tình huống cụ thểNgày 4 tháng 7 năm 2001, Tòa án Hiến pháp châu Âu đã ra chỉ thị chống lại các cổ phiếu vàng, quy định rằng, chúng chỉ được phép tồn tại trong những hoàn cảnh được xác định chặt chẽ. ủy ban châu Âu lý luận rằng, cổ phiếu vàng đã hạn chế sự vận động tự do của dòng vốn trong phạm vi Liên minh châu Âu và tuyên bố rằng, các nước như Đức và Italy sẽ bị đưa ra tòa xét xử vì chính phủ các nước này vẫn nắm giữ cổ phiếu vàng trong các công ty niêm yết.

Golden Rule Of Accumulation / Nguyên Tắc Vàng Về Tích Luỹ; Quy Tắc Vàng Của Tích Luỹ

Con đường tăng trưởng cân đối trong đó mỗi một thế hệ tiết kiệm thế hệ mai sau phần thu nhập mà các thế hệ trước đó đã tiết kiệm được.

Golden Rule / Nguyên Tắc Vàng; Quy Tắc Vàng

Con đường tăng trưởng tối ưu đưa ra mức tiêu dùng đầu người là bền vững và tối đa trong một nền kinh tế.

Golden Parachute / Phụ Cấp Thôi Việc

Golden Parachute có nghĩa là chiếc dù vàng, nhưng đồng thời là một thuật ngữ kinh tế. Nó được dùng để chỉ một thỏa thuận, hợp đồng được kí kết về việc bồi thường cho các giám đốc khoản tiền khi hợp đồng kết thúc và những lợi nhuận khác vì quyết định để họ thôi việc sớm so với hợp đồng, vì các lý do như sự thay đổi quyền quản lý sau khi diễn ra việc hợp tác.Các thành viên ban quản trị đưa ra yêu cầu về “Phụ cấp thôi việc” dựa trên các văn bản luật quy định về các công ty sau khi sát nhập, có thể yêu cầu thêm sự ủng hộ của các cổ đông. Phụ cấp thôi việc sẽ được áp dụng khi họ từ chức hoặc bắt buộc phải từ chức khi có sự thay đổi quyền sở hữu khi công ty diến ra việc sát nhập. Một vài yêu cầu “Phụ cấp thôi việc” vẫn được đưa ra khi quyền điều hành công ty vẫn không thay đổi hoàn toàn, những “Phụ cấp thôi việc” như vậy nhằm hưởng một tỷ lệ phần trăm nhất định trong số cổ phần hợp tác."Phụ cấp thôi việc" có thể là số tiền phải thanh toán sau khi kết thúc hợp đồng, tiền thưởng, hay cổ phiếu,...“Phụ cấp thôi việc” được chấp nhận là một thỏa thuận, hợp đồng thỏa đáng vì 3 lý do:Thứ nhất, sau khi nhận được các khoản phụ cấp này, các giám đốc này có thể giúp các nhà quản trị mới trong việc thuê và giữ lại các nhân viên chất lượng cao trong khi không phải miễn cưỡng làm việc cho họ.Thứ hai, “Phụ cấp thôi việc” sẽ được tính vào chi phí sát nhập. Chính vì vậy, “Phụ cấp thôi việc” sẽ làm cho việc sát nhập và mua lại trở nên tốn kém hơn. Đây cũng được coi là một trong những biện pháp nhằm ngăn cản việc sát nhập.Cuối cùng, với phụ cấp thôi việc, các giám đốc này có thể đưa ra những ý kiến tốt về hình ảnh nhà quản trị mới với các cổ đông. Nếu không, họ sẽ chống lại nhà quản trị mới, gây sự quan tâm của các cổ đông, quyết giành lại được công việc cũng như các lợi ích khác của mình.Hiện nay, chúng ta vẫn thường hiểu "Phụ cấp thôi việc" như một khoản tiền nhằm giúp đỡ những người buộc phải thôi việc vì các lý do như cắt giảm biên chế, lao động mất sức,... Bài viết này dịch "Golden Parachute" là "Phụ cấp thôi việc" có thể sẽ gây một số nhầm lẫn, nhưng hi vọng mọi người hiểu rõ ý nghĩa của từ này.

Golden Handshake / Điều Khoản "Cái Bắt Tay Vàng"

“Golden handshake” là một điều khoản trong hợp đồng lao động đối với các nhân sự quản trị cao cấp, điều khoản này đảm bảo cho nhà quản trị một khoản bù đắp gián đoạn đủ lớn trong trường hợp bị sa thải, nghỉ việc do tái cấu trúc doanh nghiệp hoặc bị về hưu. Khoản đền bù này có thể nằm ở dạng tiền mặt, cổ phần hoặc những lợi ích khác và thường được đi kèm với việc được hưởng quyền chọn mua cổ phiếu lớn . “Golden handshakes” thông thường chỉ được đề xuất cho những vị trí quản trị viên cao cấp bởi các công ty lớn và có thể có giá trị hàng triệu đôla. “Golden handshakes” được đưa vào để đền bù cho những rủi ro vốn có khi nhận một công việc mới, bởi vì các quản trị viên cao cấp thường có xu hướng dễ bị sa thải và bởi vì việc công ty thuê một người ngoài đảm nhận vị trí cao như thế có thể chỉ là một vị trí tạm thời trong mảng tài chính. Việc này làm một số nhà đầu tư lo lắng vì họ không xác định được nhà quản trị đó liệu sẽ đảm nhận thành công vai trò của mình đến mức độ nào. Đã có nhiều trường hợp, nhà quản trị vẫn nhận tiền, trong khi dưới cương vị quản lý của mình, công ty bị mất hàng triệu đô-la và hàng ngàn công nhân bị sa thải.

Gold Standard System / Chế Độ Bản Vị Vàng

Chế độ bản vị vàng - Gold Standard SystemChế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà pháp luật quy định dùng vàng để đúc tiền vàng. Trong quá trình phát triển, chế độ này tiến triển dưới hình thức của 3 chế độ khác nhau: bản vị tiền vàng, bản vị vàng thỏi và bản vị hối đoái vàng.Lịch sử phát triểnTính chất không ổn định của chế độ hai bản vị đã kìm hãm sự phát triển nhanh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản chưa có đủ điều kiện khách quan để thực hiện một chế độ bản vị đơn vàng, vì lượng vàng khai thác ra chưa thể đáp ứng yêu cầu lưu thông tiền tệ bằng vàng, do đó, phải đúc tiền bạc để đưa vào lưu thông.Mãi tới thế kỷ 18 sang thế kỷ 19, do công nghiệp khai thác vàng phát triển, các nước mới có đủ điều kiện chuyển từ chế độ hai bản vị sang chế độ bản vị vàng. Anh là nước có nền kinh tế và thương mại phát triển nhất lúc bầy giờ, là nước đầu tiên thực hiện chế độ bản vị vàng, spng cũng phải trải qua một hời kỳ chuyển tiếp lâu dài từ 1717 đến 1821. Pháp lệnh của nhà nước Anh công bố thực hiện chế độ bản vị vàng vào năm 1816 nhưng mãi tới năm 1821 mới được thi hành.

Gold Points / Các Điểm Vàng

Các mức tỷ giá trao đổi mà tại đó khi một đồng tiền ở một BẢN VỊ VÀNG, thì việc mua vàng từ Ngân hàng trung ương và xuất khẩu vàng (điểm xuất khẩu vàng) hay nhập khẩu và bán nó cho ngân hàng trung ương (điểm nhập khẩu vàng) là có lợ nhuận.

Gold Market / Thị Trường Vàng

Thị trường buôn bán vàng kim loại, tiền vàng hay vàng nén.

Gold Certificate / Chứng Chỉ Vàng

Là loại chứng chỉ do Bộ Tài chính Mỹ phát hành do các Ngân hàng Dự trữ Liên bang, chứng nhận quyền sở hữu nguồn dự trữ vàng chính thức của Mỹ. Ngoại trừ những chứng chỉ dành cho giáo dục, không có chứng chỉ nào thật sự được phát hành, đây là tín dụng ghi sổ. Khi kho bạc mua vàng và muốn cân bằng số dư dollar, họ sẽ phát hành những chứng chỉ vàng cho Ủy ban Dự trữ Liên bang, được duy trì trong một tài khoản chứng chỉ vàng riêng biệt. Các Ngân hàng Dự trữ Liên bang sẽ dùng những chứng chỉ vàng để giải quyết việc thanh toán giữa các ngân hàng dự trữ, ghi vào sổ sách của tài khoản thanh toán liên khu vực.

Gold Bricking / Hoạt Động Lừa Dối

Sự hạn chế sản lượng do công nhân gây ra trong khuôn khổ HỆ THỐNG THANH TOÁN KHUYẾN KHÍCH để tránh việc áp dụng các tiêu chuẩn nỗ lực làm việc cao hơn trên một đơn vị thanh toán.

Gold Age Growth / Tăng Trưởng "Thời Kỳ Hoàng Kim"

Trong lý thuyết tăng trưởng, đó là một tình huống TĂNG TRƯỞNG CÂN ĐỐI trong đó TỶ LỆ TĂNG TRƯỞNG CÓ BẢO ĐẢM bằng với Tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên khi có đủ việc làm.

Going Public / Phát Hành Công Khai Lần Đầu

Quá trình bán cổ phần ra công chúng lần đầu tiên. Cũng giống như "Phát hành lần đầu ra công chúng - IPO".

GNP (Gross National Product) / Tổng Sản Phẩm Quốc Dân

Tổng sản phẩm quốc dân hay Tổng sản phẩm quốc gia là một chỉ tiêu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước nó được tính là tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ra trong một khoảng thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính, không kể làm ra ở đâu (trong hay ngoài nước). Sản phẩm cuối cùng là hàng hóa được tiêu thụ cuối cùng bởi những người tiêu dùng chứ không phải là những sản phẩm được sử dụng như là sản phẩm trung gian trong sản xuất những sản phẩm khác. Ví dụ, một chiếc ô tô bán cho người tiêu dùng là một sản phẩm cuối cùng; các thành phần như lốp được bán cho nhà sản xuất ô tô là sản phẩm trung gian. Cũng chiếc lốp đó, nếu bán cho người tiêu dùng thì nó lại là sản phẩm cuối cùng. Chỉ có sản phẩm cuối cùng mới được tính trong thu nhập quốc gia, do việc đưa cả sản phẩm trung gian vào sẽ dẫn tới việc tính kép làm tăng ảo giá trị thực sự của thu nhập quốc gia. Ví dụ, trong trường hợp chiếc lốp được bán cho nhà sản xuất ôtô, giá trị của nó đã được tính khi nó được nhà sản xuất lốp bán cho nhà sản xuất ô tô, nếu sau đó một lần nữa được tính trong giá trị chiếc ô tô khi nhà sản xuất ô tô bán cho người tiêu dùng thì sẽ làm cho giá trị GNP tăng lên. Thu nhập được tính như là một phần của GNP, phụ thuộc vào ai là chủ sở hữu các yếu tố sản xuất chứ không phải là việc sản xuất diễn ra ở đâu. Ví dụ, một nhà máy sản xuất ô tô do chủ sở hữu là công dân Mỹ đầu tư tại Việt Nam thì lợi nhuận sau thuế từ nhà máy sẽ được tính là một phần của GNP của Mỹ chứ không phải của Việt Nam bởi vì vốn sử dụng trong sản xuất (nhà xưởng, máy móc, v.v.) là thuộc sở hữu của người Mỹ. Lương của công nhân người Việt là một phần của GNP của Việt Nam, trong khi lương của công nhân Mỹ làm việc tại đó là một phần của GNP của Mỹ. Có nhiều cách tính tổng sản phẩm quốc dân, dưới đây là cách tính theo quan điểm chi tiêu xã hội: GNP = C + I + G + (X - M) + NR Trong đó: C = Chi phí tiêu dùng cá nhân I = Tổng đầu tư cá nhân quốc nội G = Chi phí tiêu dùng của nhà nước X = Kim ngạch xuất khẩu ròng các hàng hóa và dịch vụ M = Kim ngạch nhập khẩu ròng của hàng hóa và dịch vụ NR= Thu nhập ròng từ các tài sản ở nước ngoài (thu nhập ròng) Còn một chỉ số khác hay được nhắc kèm với GNP đó  là chỉ số GNI_Gross National Income, tức Tổng thu nhập quốc gia hay Tổng thu nhập quốc dân. Giá trị của nó tương đương với giá trị của GNP. Tuy nhiên, người ta phân biệt chúng, do cách thức tiếp cận vấn đề là dựa trên các cơ sở khác nhau. GNP dựa trên cơ sở sản xuất ra sản phẩm mới, còn GNI dựa trên cơ sở thu nhập của công dân. Điều này là quan trọng để tiếp cận các khái niệm NNP và NNI. Khi đó phải tính đến khấu hao và các loại thuế gián tiếp, và NNI sẽ luôn luôn nhỏ hơn NNP một lượng bằng giá trị của thuế gián tiếp.

Globalization / Toàn Cầu Hóa

Toàn cầu hoá là sự gia tăng quá trình tương tác lẫn nhau giữa con người và khu vực dưới tác động của các tiến bộ trong giao thông, thông tin liên lạc, và công nghệ dẫn đến sự hội tụ về chính trị, kinh tế và văn hóa. Thuật ngữ Toàn cầu hóa có thể đã được sử dụng từ năm 1944. Thuật ngữ được các nhà kinh tế học sử dụng từ năm 1981, tuy nhiên các khái niệm xung quanh vấn đề này không nhận được sự được hiểu biết rộng rãi mãi cho đến nửa sau của thập kỉ 1990. Rất nhiều các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã cố gắng mô tả sự nối tiếp của các xu hướng trong các thời kì trước với thời đại ngày nay. Kỉ nguyên toàn cầu hóa đầu tiên diễn ra trong suốt thế kỉ 19 chính là sự phát triển nhanh chóng trong thương mại giữa Châu Âu, các thuộc địa của Châu Âu và Mỹ. Sau Thế chiến II, toàn cầu hóa lại tiếp diễn và được lái đi bởi các tiến bộ trong công nghệ, dẫn tới giảm thiểu giá của các giao dịch kinh tế. Toàn cầu hoá được xem như một quá trình dài, theo sau sự gia tăng dân số và những tiến bộ của văn minh nhân loại, đã phát triển chóng mặt trong 50 năm qua. Những hình thức đầu tiên của toàn cầu hóa đã tồn tại trong thời kì Đế Chế La Mã, đế chế Parthia, và Vương Triều nhà Hán, khi con đường tơ lụa được bắt đầu ở Trung Quốc, trải dài tới biên giới của Đế chế Parthia, và tiếp tục kéo dài tới Rome. Thời kì vàng kim của Hồi giáo cũng là một ví dụ, khi đó các thương gia người Hồi giáo và các nhà thám hiểm đã thiết lập nên một nền kinh tế toàn cầu thời kì đầu dẫn đến sự phổ biến kĩ thuật nông nghiệp, thương mại, tri thức và công nghệ; và sau đó là trong thời kì mở rộng của Mông Cổ, khi đó có sự giao lưu rộng lớn hơn giữa con người và các vùng đất dọc theo chiều dài của Con đường tơ lụa. Hội nhập toàn cầu tiếp tục thông qua sự mở rộng của thương mại Châu Âu vào thế kỉ thứ 16 và 17, khi đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vươn tới mọi ngõ ngách của thế giới sau khi mở rộng sang các nước ở Châu Mỹ. Tự do hoá ở thế kỉ 19 đôi khi cũng được gọi là Kỉ nguyên đầu tiên của toàn cầu hoá, một thời kì đánh dấu sự phát triển nhanh chóng trong thương mại và đầu tư quốc tế giữa Châu Âu, các lục địa của Châu âu và Mỹ. Kỉ nguyên đầu tiên của toàn cầu hóa bắt đầu tan vỡ với sự bắt đầu của Thế chiến I, và sau đó là sụp đổ dưới thời kì Sụp đổ của chế độ bản vị vàng cuối những năm 20 đầu những năm 30. Toàn cầu hoá sau Thế chiến II là kết quả của những chiến lược của các nhà kinh tế, và chính trị gia, những người nhận ra sự gia tăng chi phí dưới tác động của bảo hộ và suy giảm hội nhập kinh tế. Những kế hoạch của họ dẫn tới hội nghị Bretton Woods và thành lập một số tổ chức quốc tế nhằm mục đích giám sát các quá trình toàn cầu hóa, thúc đẩy tăng trưởng và điều chỉnh các hậu quả không như mong đợi. Đó là Ngân hàng quốc tế về phục hồi và phát triển (Ngân hàng thế giới) và Quỹ tiền tệ quốc tế. Toàn cầu hoá đã được tạo điều kiện thuận lợi bởi sự phát triển về công nghệ dẫn đến giá giao dịch giảm, và các vòng đàm phán thương mại mởi đầu với GATT, dẫn tới một loạt các hiệp định nhằm dỡ bỏ rào cản thương mại. Vòng đàm phán Uruguay từ 1984-1995 dẫn tới một hiệp ước nhằm thành lập Tổ chức thương mại thế giới để giải quyết các tranh chấp thương mại và thành lập một sân chơi thống nhất về thương mại. Và hàng loạt các hiệp ước thương mại song phương và đa phương khác như Hiệp ước Maastricht của Châu âu, Hiệp ước NAFTA cũng được kí nhằm mục đích giảm thiểu thuế quan và các rào cản thương mại. Những quan điểm ủng hộ thương mại tự do cho rằng toàn cầu hóa làm gia tăng mức độ sung túc cũng như cơ hội, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển, làm tăng cường các quyền tự do và dẫn tới phân bổ nguồn lực tự nhiên hiệu quả hơn (dựa trên lợi thế tương đối). Những người phản đối toàn cầu hoá thì cho rằng toàn cầu hóa dẫn đến nguy hại cho hành tinh dưới góc độ phát triển không bền vững gây ảnh hưởng xấu tới sinh quyển, làm gia tăng nghèo đói, bất bình đẳng, bất công bằng, và xói mòn trong văn hoá truyền thống dưới kết quả của sự giao lưu kinh tế liên quan đến toàn cầu hóa.

Sự phụ thuộc lẫn nhau của người mua và người bán vào các công cụ tài chính trong các trung tâm tài chính toàn thê giới. Hiện tượng này có nguyên nhân chính là những nhân tố sau: 1) Sự bão hòa của thị trường ĐỒNG TIỀN CHÂU ÂU từ những năm 1960; 2) những thay đổi đáng kể về công nghệ giao dịch thương mại trong vài năm gần đây, giúp cho những người hoạt động thị trường nhanh chóng tiếp cận được các thông tin thị trường về hàng hóa và công cụ tài chính; 3) các tổ chức tài chính mong muốn mở rộng hoạt động khác vượt khỏi ranh giới địa lý; 4) mong muốn kiểm soát rủi ro bảng cân đối tài sản thông qua hợp đồng HOÁN ĐỔI LÃI SUẤT cùng nhiều thỏa thuận hoán đổi tài chính khác. Ví dụ, việc sử dụng ngày càng nhiều các công cụ nợ trên thị trường tài chính quốc tế, chủ yếu trên thị trường TRÁI PHIẾU CHÂU ÂU, trái với hoạt động cho vay truyền thống của ngân hàng, như một phương tiện tài trợ cho những công ty và chính quyền muốn vay nợ. Thương phiếu châu Âu đẵ bắt đầu sử dụng vào đầu thập niên 1980, và đã phát triển nhiều nhờ thị trường thứ cấp mạnh trong hoạt động tài trợ bằng trái phiếu châu Âu. Cả ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư đều tham gia vào thị trường này. Bên ngoài nước Mỹ, các ngân hàng thương mại của Mỹ không bị giới hạn bởi luật Glass - Steagall về bảo lãnh chứng khoán, là những thành viên tham gia chủ động trên thị trường trái phiếu châu Âu. Những tiến bộ về CÔNG NGHỆ THÔNG TIN cho phép các thương nhân giao dịch trên thị trường ngoại hối và các công cụ thị trường tiền tệ khác, để quản lý vị thế trên cơ sở 24 giờ, thông qua việc di chuyển sổ sách giao dịch tới một trung tâm tài chính khác vào lúc khóa sổ giao dịch. Thực tiễn này gọi là chuyển sổ sách, cho phép các tổ chức tài chính giai dịch thị trường New York, Luân Đôn hay Tokyo, để duy trì một sổ sách giao dịch duy nhất liệu kê các vị thế, giới hạn và mức rủi ro cho toàn doanh nghiệp, thay vì duy trì các sổ sách riêng rẽ ở mỗi trung tâm giao dịch.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55