Gold Fixing / Cố định giá vàng
Quá trình thiết lập giá hàng ngày cho vàng giao dịch trên thị trường giao ngay. Nó diễn ra tại Luân Đôn, Paris và Zurich vào 10:30 sáng và 3:30 chiều theo giờ Luân Đôn vào mỗi ngày làm việc. Giá này là mức trung bình cho việc thực hiện mọi lệnh đấu giá quan trọng và được thiết lập bởi các chuyên gia giao dịch vàng ở các tổ chức tài chính kinh doanh vàng hoạt động tại những thành phố này.
Gold Exchange Standard / Tiêu chuẩn hối đoái vàng
Là hệ thống tiền tệ quốc tế, một biến thể của bản vị vàng, trong đó ngân hàng trung ương sẽ dự trữ vàng thỏi hoặc tiền tệ dự trữ có thể chuyển đổi ra vàng. Một số nhà kinh tế tin rằng, chế độ bản vị vàng tác động như phanh kìm hãm lạm phát, bởi vì giá cả hàng hóa được gắn với vàng. Từ năm 1930 tới năm 1971, đồng đô la Mỹ được chuyển đổi thành vàng với giá $35/ounce, tỷ giá hối đoái cũng được cố định,hay neo với đồng đô la. Vào năm 1971, Hoa Kì bãi bỏ chế độ chuyển đổi đô la thành vàng, khởi đầu cho thời kì tỷ giá hối đoái thả nổi, là nền tảng của hệ thống tiền tệ quốc tế như hiện nay. Xem INTERVENTION.
Gold Card / Thẻ vàng
Là thẻ tín dụng Visa và Mastercard với mức tín dụng tối thiểu là $5000, và thường cao hơn. Những thẻ này có mức phí hàng năm cao hơn thẻ tín dụng tiêu chuẩn ngân hàng, và được đưa ra thị trường tới khách hàng có thu nhập trên trung bình. Đôi khi chúng được gọi là thẻ đặc quyền hay thẻ thưởng. Thẻ vàng American Express khác với các thẻ do ngân hàng phát hành. American Express phát hành thẻ, nhưng mức tín dụng được thỏa thuận riêng bởi một ngân hàng, có vai trò như đại lí cho nhà phát hành thẻ, và thay đổi khác nhau giữa các ngân hàng. Công ty Dịch vụ Du lịch của American Express phát hành những thẻ vàng đầu tiên vào năm 1966, và đề nghị ưu tiên sở hữu tên gọi này, nhưng yêu cầu không được tòa án xác nhận.
Going Short / Vị thế dự phòng bán khống
Chiến lược phòng ngừa rủi ro qua đó ngân hàng đạt được cam kết kì hạn hoặc cam kết dự phòng từ người mua của thị trường thứ cấp, về việc mua các khoản vay trước khi chúng thực sự được giao. Bằng việc có được cam kết, người cho vay có thể chốt lãi suất cầm cố nếu lãi suất kì vọng tăng hoặc giảm. Trong ngành chứng khoản, để chỉ việc bán chứng khoán không thực sự sở hữu bởi nhà đầu tư - việc bán khống khi dự kiến vị thế mở tạo ra bởi việc bán có thể bị đóng lại khi chứng khoán được mua sau đó với giá thấp hơn.
Going Long / Vị thế đầu tư
Cấp phát khoản vay cầm cố ban đầu không có mục cam kết chắc chắn từ một nhà đầu tư của thị trường thứu cấp. Nếu lãi suất ổn định, người cho vay có thể duy trì những khoản vay này trong danh mục đầu tư, hoặc cố gắng giao chúng cho bên mua vào thời hạn trễ hơn. Trong ngành chứng khoán, để chỉ việc mua chứng khoán cho đầu tư hay đầu cơ, và không có kế hoạch báo lại ngay.
Go-Around / Thăm dò
Là quá trình các doanh nghiệp đưa ra các yết giá cạnh tranh khi Ủy ban thị trường mở Liên bang mua (hoặc bán ) trên thị trường chứng khoán mở, khi thực hiện chính sách tiền tệ của Cục dự trữ Liên bang. The Go-Around là một nghiên cứu bằng điện thoại của Phòng thị trường mở tại Ngân hàng dự trữ liên bang của New York, báo hiệu ý định của Cục dự trữ Liên bang, giao dịch với những trung tâm giao dịch chứng khoán của chính phủ trên thị trường sơ cấp. Việc mua chứng khoán sẽ làm tăng dự trữ của ngân hàng, tăng nguồn vốn để cho vay của ngân hàng , còn việc bán sẽ có những tác động ngược lại.
Glass - Steagall Act
Luật liên bang do Quốc hội ban hành năm 1933 quy định phải có sự phân biệt giữa nghiệp vụ ngân hàng thường mại và nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Luật này yêu cầu các ngân hàng thương mại giải tán các chi nhánh chứng khoán dưới cùng tên như Luật ngân hàng năm 1933 và một phần của luật gốc năm 1933. Từ đó cái tên Glass-steagall được dùng phổ biến hơn khi đề cập đến bốn mục của Luật Ngân hàng (mục 16, 20, 21, 32) gắn với hoạt động bảo hiểm và bán chứng khoán. Cuối những năm 80, những rào cản pháp lí giữa nghiệp vụ ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư đã giảm đi đáng kể, khi các ngân hàng có nhiều quyền hơn trong việc giao dịch chứng khoán với khách hàng. Các ngân hàng thương mại sở hữu chứng khoán, các nhà môi giới, các công ty quản lý đầu tư và các công ty quỹ tương hỗ, và giữ vai trò như những nhà tư vấn đầu tư cho chính quyền thành phố và công ty cổ phần. Những ngân hàng được sự chuẩn y của Cục Dự trữ Liên bang bảo lãnh phát hành các thương phiếu vào năm 1987, cùng các chứng khoán và trái phiếu công ty cổ phần vào năm 1990 (thông qua các chi nhánh của công ty cổ phần ngân hàng). Luật Gramm-Leach-Bliley đã bãi bỏ lệnh thành lập công ty con (điều 20) và liên kết quản lí (điều 32) của Glass-Steagall. Các điều khoản thiết yếu khác của luật Glass-Steagall vẫn còn hiệu lực là mục 16 cấm các ngân hàng thành viên của cục Dự trữ Liên bang trực tiếp bảo lãnh chứng khoán, ngoại trừ chứng khoán của kho bạc và các đơn vị liên bang Hoa Kỳ, và các chứng khoán nợ tiểu bang và đô thị. Mục 21 cấm các tổ chức bảo lãnh chứng khoán nhận tiền gửi được bảo hiểm liên bang. Xem PERMISSIBLE NONBANK ACTIVITIES; SECURITIES SUBSIDIARY.
Ginnie Mae Pass - Through / Chứng khoán trung gian Ginnie Mae
Loại chứng khoán bảo đảm bởi thế chấp, đưa cho người giữ chứng khoán một lãi suất theo tỷ lệ trong hỗn hợp thế chấp dân sự, được bảo đảm bởi Hiệp hội Thế chấp Quốc gia của Chính phủ. Chứng khoán Ginnie Mae được gọi là trung gian vì các ngân hàng xuất xứ, tức các ngân hàng thế chấp, và các tổ chức tiết kiệm sẽ chuyển vốn và lãi cùng với các khoản thanh toán trực tiếp tới nhà đầu tư. Không có tái đầu tư vốn như trong trái phiếu thế chấp. Chứng khoán Ginnie Mae được bảo lãnh bởi Bộ Cựu chiến binh và cục quản lí Nhà ở Liên bang. Có hai laoị chứng khoán Ginnie Mae dành cho các nhà đầu tư. Những chứng chỉ GNMA I chuyển tiền thanh toán trực tiếp từ nhà phát hành tới nhà đầu tư vào ngày 15 mỗi tháng. Người chứng khoán được chi trả riêng biệt phần vốn và lãi cho mỗi chứng chỉ được phát hành. Việc thanh toán cho GNMA II được thực hiện vào 20 mỗi tháng. Loại chứng khoán này không giống như GNMA I, được đảm bảo bởi những khoản vay phân tán theo địa lí, và trả phiếu lãi suất lên tới 1%. Các tổ chức tài chính xuất xứ sẽ khấu trừ chi phí dịch vụ bằng (1/2) của 1% trước khi chuyển phần tiền thanh toán thế chấp tới Ginnie Mae. (Phí dịch vụ của GNMA II có thể thay đổi từ 1/2 của 1% tới 1.5%). Chứng khoán Ginnie Mae được gọi là chứng khoán trung gian điều chỉnh vì phiếu lãi suất (còn được gọi là lãi suất sản xuất) của chứng khoán sẽ được giảm bởi phí dịch vụ cho nhà phát hành. Vì chứng khoán Ginnie Mae được bảo lãnh trên tín chấp của chính phủ Mỹ, nên chúng có mặt rộng rãi trên thị trường thứ cấp. Các hợp đồng tương lai trong Ginnie Mae được giao dịch trên thị trường giao dịch Chicago từ năm 1972. Xem PARTICIPATION CERTIFICATE; SECONDARY MARKET.
Ginnie Mae / Hiệp hội Thế chấp Quốc gia
Là tên thông thường của Hiệp hội Thế chấp Quốc gia của chính phủ, cơ quan liên bang của Bộ Nhà ở và Phát triển Đô thị (HUD). Ginnie Mae đảm bảo thanh toán đúng hạn tiền vốn và lãi hàng tháng, dưới sự hỗ trợ tín chấp và tín dụng của chính phủ Mỹ, đối với chứng khoán thông qua thế chấp được bảo đảm bởi liên bang hay khoản vay thế chấp có đảm bảo. Nó không phát hành chứng khoán bảo đảm bởi thế chấp theo chính tên Ginnie Mae. Ginnie Mae hoạt động với sự hợp tác của những người cho vay, thực hiện việc bảo đảm cho những khoản thế chấp dân sự, được bảo hiểm bởi Cục quản lí Nhà ở Liên bang (FHA) hay Bộ Cựu chiến binh (VA), hoặc thực hiện những khoản vay theo chương trình của Dịch vụ Nhà ở Nông thôn của Bộ nông nghiệp. Ginnie Mae được thành lập vào năm 1968, khi Hiệp hội thế chấp Quốc gia Liên bang và được tách ra từ HUD và trở thành một công ty độc lập. Vào năm 1970, Ginnie Mae bảo đảm các chứng khoán thế chấp giao dịch công chúng đầu tiên, tiêu biểu cho phần lãi không chia trong các khoản vay (FHA) và (VA). Xem FREDDIE MAC; GINNIE MAE PASS-THROUGH.
Gilt - Edged / Trái phiếu đồng bảng Anh
Loại trái phiếu đồng bảng Anh do ngân hàng Anh phát hành, và được xem như một loại trái phiếu trên thị trường, là loại chứng khoán có ít rủi ro thanh toán. Nó còn được dùng để nói đến loại chứng khoán công ty Hoa Kỳ xếp hạng AAA.
GI Loan / Khoản vay thế chấp giả định
Là tên gọi phổ biến cho việc thế chấp có bảo đảm của Bộ Cựu chiến binh, được cấp phép từ luật Tái điều chỉnh cho quân nhân năm 1944. Vay GI, có bảo đảm một số tiền nhất định, đều được dùng cho các mục đích dân sự như mua nhà, mua căn hộ, tái cấp vốn, cải thiện nơi ở. Không giống hầu hết các khoản vay thế chấp thông thường-khác-những khoản vay này là những khoản thế chấp giả định, nghĩa là có thể chuyển sang một người thế chấp mới khi căn nhà được bán. Bộ cựu Chiến binh, cũng thực hiện những khoản vay trực tiếp cho các cựu chiến binh đủ điều kiện.
Gift Causa Mortis / Quà tặng của người chết
Quà tặng tài sản cá nhân của một người dự kiến trước khi chết. Món quà có hiệu lực pháp lí chỉ khi người tặng đã qua đời, có thể được giảm thuế thừa kế lẽ ra phải trả. Trái với gift inter vivos.
Gift Inter Vivos / Quà tặng của người đang sống
Quà tặng tài sản cá nhân giữa những người đang sống, được thực hiện trong cuộc đời của người trao tặng, trái ngược với Gift causa mortis. Quà tặng này không thể hủy ngang, miễn là người cho nhường lại quyền sở hữu và thực hiện việc tặng không đề cập sự chết. Xem INTER VIVOS TRUST.
Gift Card / Thẻ ngân hàng
Là những loại thẻ trả trước như Visa Card, Mastercard, hay American Express, chúng giúp người mua hàng hóa và dịch vụ tương ứng với giá trị của thẻ. Những thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành hoạt động giống như những thẻ thanh toán mua bán hàng lẻ, phục vụ như những chứng chỉ thanh toán có thể mua lại. Các định chế tài chính phát hành thẻ sẽ thu lợi nhuận từ việc lưu thông thẻ hay tiền lãi, từ ngày mua tới ngày giao dịch. Các ngân hàng có thể xem thẻ thanh toán này như tiền mặt ứng trước thẻ tín dụng bằng cách tính phí giao dịch trên người sử dụng.
Gen-Saki
Là một thị trường tiền tệ ngắn hạn ở Nhật, được xem như thị trường thứ cấp cho việc mua bán các loại trái phiếu chính phủ, và trái phiếu công ty dài hạn hoặc trung hạn. Thị trường gen-saki, mở rộng đối với các công ty cũng như các tổ chức tài chính, đang phát triển vì không có thị trường thứ cấp nào khác ở Nhật, dành cho những chứng khoán kho bạc phát hành bởi Ngân hàng Nhật.
Generic Securities / Chứng khoán chung
Là các chứng khoán được bảo đảm bởi những thế chấp mới phát hành và những khoản vay khác..Đối với các nhà đầu tư, chúng kém có giá trị hơn chứng khoán thời vụ.
General Examination / Kiểm tra tổng quát
Xem xét tình hình chi tiết của một ngân hàng thông qua các cơ quan điều tiết tài chính ban đầu của ngân hàng ấy. Những ngân hàng quốc gia sẽ được Tổng kiểm toán kiểm tra khoảng hai năm một lần, những ngân hàng tiểu bang do các cơ quan quản lý ngân hàng tiểu bang xem xét. Cục dự trữ liên bang sẽ kiểm tra những ngân hàng tiểu bang là ngân hàng thành viên của Hệ thống dự trữ Liên bang, thanh tra sổ sách tài chính của những công ty cổ phần ngân hàng.
General Agreements To Borrow (GAB) / Thỏa thuận chung về vay tiền
Là những điều kiện trong đó các thành viên của nhóm 10 quốc gia có thẻ tạo khoản vay cho quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) theo đồng tiền của họ, nhằm hỗ trợ việc rút tiền của một thành viên trong nhóm G-10. Thụy Sỹ cũng tham gia hiệp ước này. Nhóm 10 nước và Thụy Sỹ đã quyết định thực hiện cam kết hỗ trợ vốn theo GAB, dành cho tất cả thành viên của IMF.
Gateway / Cổng điện tử
Phương tiện mà những người sử dụng hệ thống máy tính có thể tiếp cận nhau mà không cần kết nối riêng biệt. Cổng vào này thường được dùng trong hệ thống máy rút tiền tự động (ATM), và hệ thống giao dịch điện tử thông qua một cổng duy nhất. Xem INTERNET BANKING, SWITCH.
Garn - ST Germain Depository Institution Act
Bộ luật định chế kí gởi liên bang được ban hành bởi Quốc hội năm 1992, cho phép các ngân hàng và các tổ chức tiết kiệm đưa ra một tài khoản mới gọi là tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ-một tài khoản giao dịch không có trần lãi suất, nhằm cạnh tranh hiệu quả với những quỹ hỗ tương trên thị trường tiền tệ; cho phép các tổ chức tín dụng và cho vay thực hiện các khoản vay thương mại; và cho phép các cơ quan điều tiết liên bang lần đầu tiên có quyền chuẩn y việc mua lại các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm liên tiểu bang thua Sau đây là những điểm đáng lưu ý của các điều khoản trong đạo luật này: 1. Các tổ chức tiết kiệm và cho vay có quyền thực hiện các khoản vay thương mại, góp vốn, kinh doanh hay đầu tư vào nông nghiệp lên đến 10% tài sản sau ngày 1-1-1984. 2. Lãi suất ký gởi chênh lệch, cho phép các ngân hàng cho vay và tiết kiệm đưa ra mức lãi suất cho các khoản vay kí gởi sinh lãi cao hơn 1/4 của 1% so với ngân hàng thương mại vào tháng 1-1984. 3. Cho phép chương trình hộ trợ vốn mới gọi là Chương trình Chứng nhận giá trị ròng, trong đó các công ty Bảo hiểm Tiết kiệm và Cho vay Liên bang, sẽ mua một số phương tiện hỗ trợ vốn gọi là Chứng nhận giá trị ròng từ tổ chức tiết kiệm, với tỷ suất giá trị ròng trên tài sản dưới 3% rồi sau đó trả lại các chứng nhận này khi họ phục hồi tình hình tài chính. 4. Luật cho phép các hiệp hội tiết kiệm cung ứng các tài khoản séc (tài khoản kí gởi theo nhu cầu) dành cho cá nhân, và tài khoản séc kinh doanh cho những khách hàng đã có tài khoản khác. 5. Các tổ chức tiết kiệm và cho vay được quyền tăng cho vay dành cho người tiêu dùng từ 20 lên 30% tài sản, mở rộng phần cho vay dành cho doanh nghiệp và cung cấp tài chính cho khoản vay kế hoạch sàn. 6. Luật còn tạo mức trần trên đầu tư trực tiếp của các tổ chức tiết kiệm trong lĩnh vực bất động sản, không phải để ở, từ 20 tới 40% tài sản và cũng cho phép đầu tư 10% tài sản trong khoản vay giáo dục, 100% tài sản trong trái phiếu tiểu bang và đô thị. 7. Luật cũng đề ra những giới hạn cho tiểu bang, về việc thi hành các điều luật trả góp của người cho vay, trong hầu hết các trường hợp thế chấp trong thời hạn 3 năm, kết thúc vào 15-10-1985, cho phép các tổ chức cho vay tiểu bang cấp phép, cung ứng cùng các loại cho vay thế chấp trong nhiều tổ chức tài chính quốc gia. 8. Giao quyền cho Tổng kiểm toán ngân hàng, hay các định chế kí thác do ngân hàng sở hữu. 9. Cho phép những ngân hàng chuyên ngành được tiểu bang cấp phép đủ điều kiện bảo hiểm tiền gửi liên bang. 10. Nâng giới hạn khoản vay pháp định cho những ngân hàng quốc gia từ 10 lên 15% vốn và thặng dư.





