Factors Influence Futures' Price / Những Nhân Tố Ảnh Hưởng Tới Giá Hợp Đồng Futures
Giá của hợp đồng futures chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và chính trị nhưng nó cũng bị ảnh hưởng bởi các tin tức kinh tế mà chính phủ tiết lộ, bởi thời gian hiệu lực của hợp đồng và bởi những gì người đầu cơ nói và làm. Thông thường thì hàng ngày, chính phủ sẽ công bố các dữ liệu kinh tế, bán trái phiếu Kho bạc dài hạn hoặc qui định các chính sách mới có thể ảnh hưởng đến giá của hợp đồng tương lai đối với cả các sản phẩm tự nhiên lẫn sản phẩm tài chính. Ví dụ thông tin về việc bán nhà mới, có thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá hợp đồng futures gỗ, khi cả những người hạn chế rủi ro lẫn những người đầu cơ đều cố gắng để hạn chế sự tăng hoặc giảm giá gỗ nhằm đáp ứng với yêu cầu của ngành xây dựng. Nếu một nhà sản xuất chấp nhận giữ lại sản phẩm của mình để giao hàng vào một thời điểm tương lai, hợp đồng sẽ phản ánh các khoản chi hàng ngày cho việc lưu kho, bảo hiểm và các công việc liên quan khác cho đến ngày phải giao hàng. Nói chung, càng xa ngày phải giao hàng, chi phí liên quan càng lớn. Mặc dù vậy, giá cả hiếm khi tăng lên đều đặn trong các tháng liên tiếp nhau. Khi giá tăng lên như vậy, mối quan hệ này được gọi là contango. Sự đầu cơ cũng ảnh hưởng đến giá sản phẩm. Cầu đột ngột đối với một hợp đồng - bị kích động do tin đồn, thông tin nội bộ hoặc các yếu tố khác - có thể khiến giá hàng hoá đó "cao đến tận mây xanh". Hoặc điều ngược lại có thể xảy ra khi có các tin đồn hoặc các sự kiện khiến nhà đầu tư do dự không muốn bán. Đầu tư vào các công cụ phái sinh chứng khoán futures và options khác với đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và quỹ tương hỗ bởi vì thị trường futures và options là thị trường có tổng bằng 0 (zero-sum market). Điều đó có nghĩa cứ mỗi đồng một người nào đó kiếm lãi được (trước khi trả phí hoa hồng) thì nhất định sẽ có một người khác mất một đồng. Hay nói một cách rõ ràng hơn, có nghĩa là mỗi khoản lãi một người kiếm được chính là từ chi phí của một người khác.
Factor - Price Frontier / Giới Hạn Yếu Tố Sản Xuất - Giá Cả
Thuật ngữ này do PAUL SAMUELSON đưa ra, chỉ mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa mức tiền công và lợi nhuận trong lý thuyết tăng trưởng.
Factor-Price Equalization / Sự Cân Bằng Yếu Tố Sản Xuất - Giá Cả
Một định đề nảy sinh từ CÁCH TIẾP CẬN HECKSCHER - OHLIN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ cho rằng với một số giả thiết hạn chế, THƯƠNG MẠI TỰ DO là sự thay thế hoàn hảo cho việc di chuyển yếu tố sản xuất và sẽ có tác dụng san bằng mức thanh toán cho bất kỳ một yếu tố sản xuất nào trên phạm vi toàn thế giới, chẳng hạn như mức tiền công của tất cả các nước phải bằng nhau.
Factoring And Forfaiting / Nghiệp Vụ Factoring Và Forfaiting
Factoring và Forfaiting là nghiệp vụ của các công ty cung cấp các khoản tín dụng đặc biệt mang tên tín dụng Factoring và tín dụng Forfaiting. Hai loại nghiệp vụ cũng như hai loại tín dụng này khác nhau ở thời hạn tín dụng và khả năng bao thầu tín dụng. Nghiệp vụ Factoring: một công ty tài chính cỡ lớn ứng trước cho các nhà xuất khẩu 70-80% tổng giá trị hóa đơn bán hàng và giành lấy quyền đòi nợ khách mua hàng. Tuy nhiên việc ứng trước một khoản tiền lớn chứa đựng rất nhiều rủi ro đối với công ty Factoring vì phải thẩm định khả năng tài chính của nhà xuất khẩu hoặc nhà xuất khẩu phải buộc thế chấp tài sản trong điều kiện khát vốn. Chính vì vậy, nhà xuất khẩu sẽ mang hối phiếu đã ký phát cho người nhập khẩu đến công ty này chiết khấu thu về tiền mặt, và để lại quyền đòi nợ người nhập khẩu cho công ty Factoring bằng cách ký hậu trên hối phiếu "theo lệnh của công ty...". Rõ ràng tín dụng Factoring mang lại lợi ích cho cả bên mua vì sớm thu hồi lại vốn, và cả bên tổ chức Factoring vì hưởng được chênh lệch chiết khấu. Tỷ lệ ứng trước cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ suất chiết khấu hối phiếu trên thương trường và phí nhờ thu cùng với độ rủi ro có thể xảy ra với công ty. Tuy nhiên tín dụng Factoring thường là tín dụng ngắn hạn và không miễn truy đòi. Điều này có nghĩa là khả năng bao thầu tín dụng thấp, nếu công ty Factoring cầm hối phiếu trong tay mà không thể đòi nợ được từ người mua thì có quyền truy đòi lại người bán. Nghiệp vụ Forfaiting: một công ty tài chính cỡ lớn ứng trước không hoàn lại cho nhà xuất khẩu một tỷ lệ % nhất định so với tổng trị giá hàng để giành lấy quyền đòi tiền từ người nhập khẩu và chịu mọi rủi ro mà người nhập khẩu không thanh toán nếu có xảy ra. Như vậy về cơ bản Forfaiting cũng giống nghiệp vụ Factoring, nhưng tín dụng Forfaiting là tín dụng trung và dài hạn và đặc biệt là miễn truy đòi. Nếu không thể đòi nợ được từ người bị ký phát trên hối phiếu, công ty Forfaiting không có quyền được truy đòi người xuất khẩu. Chính vì vậy khả năng bao thầu tín dụng của Forfaiting là cao hơn nhiều, và người xuất khẩu thích lựa chọn kiểu tín dụng này nhưng bù lại họ phải chịu một tỷ lệ chiết khấu thấp hơn. Đương nhiên, công ty tài chính cũng chỉ cấp tín dụng Forfaiting cho nhà xuất khẩu khi người nhập khẩu đã được một ngân hàng hạng nhất bảo lãnh thanh toán. Thường thì ngân hàng đứng ra bảo lãnh ở đây là ngân hàng phát hành L/C, nếu người mua không có khả năng trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì ngân hàng phát hành sẽ đứng ra thanh toán thay. Tín dụng Factoring và Forfaiting còn được sử dụng nhiều trong việc mua lại các khoản phải thu hay các chứng khoán của các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, đặc biệt tránh các khoản khách hàng nợ khó thu. Nên tín dụng Factoring và Forfaiting cũng là nguồn vốn hữu ích mà các doanh nghiệp hay tìm đến.
Factoring / Nghiệp Vụ Factoring
Factoring là một dạng của cung cấp vốn (tương tự như mua bán ăn hoa hồng), trong đó một doanh nghiệp bán các tài khoản phải thu của mình cho một bên thứ ba còn gọi là "factor company" với giá đã được khấu trừ. Nhờ vào các vụ thu xếp này mà doanh nghiệp factor cung cấp cho doanh nghiệp bán một khoản tài chính hoặc dịch vụ khác và họ sẽ ăn phần lãi và phí do đã mua trước các công cụ báo thu. Các doanh nghiệp đang cần gấp tiền mặt có thể nhờ hình thức này mà đảm bảo lên tới 80% trị giá trên giấy tờ các công cụ báo thu của mình (thỉnh thoảng có thể còn cao hơn, nhưng trong hầu hết các trường hợp 20% được để trong quỹ dự trữ cho đến khi cân đối tài khoản được trả hết) Factoring là nghiệp vụ bổ xung nguồn tài chính được yêu thích đối với các doanh nghiệp nhỏ mới thành lập."Một công ty factor là một nguồn huy động quỹ hữu ích nếu bạn đã hoạt động kinh doanh bán hàng hóa dịch vụ cho khách", tạp chí Financing for The Small Business gợi ý. "Các công ty factor mua lại các giấy tờ báo thu của bạn với giá có khấu trừ vì vậy bạn nhận được tiền mặt sớm hơn là bạn để tự mình đi thu". Các công ty factor còn cung cấp cả dịch vụ đòi nợ khách hàng cho các công ty bán nếu họ phải đòi nợ từ các khách hàng của mình, hoặc công ty factor còn chịu cả rủi ro nếu số nợ từ khách hàng không thể đòi được. Các công ty factor có thể là một nguồn tài chính hữu ích cho các doanh nghiệp đã hoạt động trên thị trường nhưng họ lại không phải là lựa chọn cho các công ty vừa với thành lập bởi vì các công ty kiểu này không hoạt động vì lợi ích của khách hàng. Các chủ doanh nghiệp nhỏ phải ý thức được rằng nghiệp vụ factoring về một số khía cạnh cơ bản khác với vay vốn từ ngân hàng. Ông Mike Willis, tạp chí Tampa Bay Business lưu ý thêm, Factoring đắt hơn Ngân hàng. "Chi phí thường chiếm từ 2-10% giá bán, phí bị khấu trừ bao gồm chi phí tài chính, phí dịch vụ. Phí thu xếp dao động rất khác nhau, phụ thuộc vào khả năng thanh khoản của khách hàng và quy mô dịch vụ mà bạn thuê từ các công ty này". Ngoài ra các doanh nghiệp nhỏ cũng nên biết rằng sự lựa chọn các công ty factor là một sự lựa chọn "tất cả hoặc không có gì". Ông Mark Stevens, trong cuốn The Macmillan Small Business Handbook, nhấn mạnh thêm "Các công ty factor yêu cầu 100% giá trị các giấy tờ và công cụ báo thu của khách hàng. Họ sẽ không từ bỏ bất cứ cái gì tạo ra lợi nhuận mặc dù có phải chấp nhận mức rủi ro cao". Các công ty factor là lựa chọn chính đối với các doanh nghiệp đang tìm kiếm vốn. Khối lượng tài chính do các công ty kiểu này đảm nhận đã tăng từ 60 triệu đôla vào năm 1993 đến 80 triệu đôla vào năm 1999. Mặc dù thực tế là một số công ty factor đem đến rủi ro cho các doanh nghiệp nhỏ nhưng nó là một công cụ cung cấp tiền mặt cực kì quan trọng trong ngắn hạn.
Factor Reverals / Sự Đảo Ngược Các Yếu Tố Sản Xuất
Một trong các giả thiết của CÁCH TIẾP CẬN HECKSCHER - OHLIN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ là các hàm sản xuất hàng hoá khác nhau ở tỷ số, cường độ sử dụng các yếu tố sản xuất và một hàng hoá sử dụng.
Factor Model / Mô Hình Nhân Tố
Một cách để tách các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ suất sinh lời của một chứng khoán thành các nhân tố ảnh hưởng chung và nhân tố ảnh hưởng riêng đến từng công ty. Một trong các mô hình nhân tố khá nổi tiếng là mô hình CAPM, sử dụng duy nhất nhân tố beta để so sánh một danh mục đầu tư với toàn thị trường. Bên cạnh đó, người ta có thể thêm các nhân tố khác vào mô hình này để đưa ra những phân tích phù hợp hơn. Một mô hình nhân tố khác cũng khá nổi tiếng là mô hình 3 nhân tố của Gene Fama và Ken French. Mô hình này sử dụng thêm hai nhân tố beta nữa gắn với các cổ phiếu tăng trưởng và cổ phiếu giá trị, những cổ phiếu được đánh giá là hoạt động tốt hơn bình quân thị trường.
Factor Intensity / Mức Độ/ Cưòng Độ Huy Động (Sử Dụng) Các Yếu Tố Sản Xuất
Mức độ / cường độ huy động (sử dụng) các yếu tố sản xuất.
Factor Incomes / Thu Nhập Từ Yếu Tố Sản Xuất
Thu nhập trực tiếp có được nhừo sản xuất hàng hoá và dịch vụ hiện tại.
Factor Endowment / Nguồn Lực Sẵn Có; Nguồn Tài Nguyên Sẵn Có; Sự Sở Hữu Các Yếu Tố Sản Xuất; Tính Sẵn Có, Lượng Các Yếu Tố Sản Xuất
Mức độ sẵn có các yếu tố sản xuất trong một vùng hay một nước thường là đất đai, lao động, vốn và kỹ thuật.
Mức độ sẵn có các yếu tố sản xuất trong một vùng hay một nước thường là đất đai, lao động, vốn và kỹ thuật.
Factor Augmenting Technical Progress / Tiến Bộ Kỹ Thuật Gia Tăng Ảnh Hưởng Của Yếu Tố
Tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc gia tăng mức sản lượng khi VỐN và LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG KHÔNG ĐỔI.
Facilitimes Management / Điều Hành Phương Tiện
Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp hoạt động của phòng xử lý dữ kiện của ngân hàng phục vụ do bên thứ 3 thực hiện, thông thường là theo thoả thuận hợp đồng trong nhiều năm. Điều nay giúp cho ngân hàng bớt được gánh nặng phải duy trì một hệ thống hợp máy vi tính và để cạnh tranh với các công ty khác trong lãnh vực chuyên môn xử lý dữ kiện, đồng thời giúp cho ngân hàng dễ dàng đáp ứng đầy đủ quy định về an toàn EDP.
Face-Amount Certificate Company / Công Ty Phát Hành Chứng Chỉ Theo Mệnh Giá
Thuật ngữ này chỉ chứng chỉ (công cụ nợ) do công ty đầu tư phát hành cam kết trả cho nhà đầu tư một số tiền như đã công bố (mệnh giá) vào thời điểm ấn định. Nhà đầu tư cho chứng chỉ (mua chứng chỉ) từng số tiền theo từng giai đoạn hoặc trả một lần tiền.
Face-Amount Certicate / Chứng Chỉ Theo Mệnh Giá
Đây là loại trái phiếu nợ của công ty chuyên phát hành chứng chỉ theo mệnh giá, một trong ba loại quỹ hỗ tương đầu tư được đạo luật Investment Company Act of 1940 giải thích rõ. Chủ sở hữu trả cho nhà phát hành theo từng thời kỳ và người phát hành hứa sẽ trả cho người mua theo mệnh giá khi đáo hạn hay trị giá bỏ cuộc (surrender value) nếu như chứng chỉ được giao lại trước thời hạn.
Face Value / Mệnh Giá
Trong lĩnh vực tài chính, mệnh giá có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Với trái phiếu, mệnh giá là số tiền gốc hoặc số tiền thu lại được khi đáo hạn. Tiền lãi được tính theo một số phần trăm nhất định của mệnh giá. Trước khi đáo hạn, giá trị thực tế của một trái phiếu có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn mệnh giá, tuỳ thuộc vào thời gian, lãi suất và rủi ro đi kèm với trái phiếu đó. Khi đáo hạn, giá trị thực tế của trái phiếu sẽ vừa đúng bằng mệnh giá. Khi phát hành cổ phiếu, mệnh giá chính là mức giá chuẩn (par value) của cổ phiếu. Với cổ phiếu phổ thông, thì mệnh giá chủ yếu mang tính chất danh nghĩa khi mà giá trị của cổ phiếu được quyết định bởi thị trường. Ngược lại, với cổ phiếu ưu đãi mệnh giá gần với giá trị thực tế hơn khi mà cổ tức lại được tính toán theo một số phần trăm nhất định của mệnh giá. Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, face value là giới hạn trách nhiêm của hãng bảo hiểm, mức bồi thường trong trường hợp người được bảo hiểm chết. Trong bảo hiểm tài sản thìface value là số tiền bảo hiểm, số tiền tối đa mà hãng bảo hiểm phải bồi thường trong các điều kiện như qui định trong hợp đồng. Đối với tiền tệ mệnh giá là giá trị được in trên bề mặt của đồng tiền. Về cơ bản đó chính là giá trị thực tế của đồng tiền, song trong một số trường hợp thì nó chỉ là giá trị danh nghĩa, ví dụ khi đồng tiền được đúc bằng vàng chẳng hạn.
Vốn gốc của một giá trị bề mặt chứng khoán, chính sách bảo hiểm hoặc đơn vị tiền tệ. Trong chứng khoán thì mệnh giá (hoặc par value: mệnh giá) và giá thị trường thường khác nhau cho đến khi đáo hạn. Sự chênh lệch giá này là khoản phụ trội (premium) hoặc chiết khấu.





