Finance Corporation For Industry / Công Ty Tài Chính Công Nghiệp
Một tổng công ty cổ phần được lập vào năm 1973 từ Công ty Tài chính Công nghiệp (FCI) và Công ty Tài chính Công nghiệp và Thương mại (ICFC), FCI và ICFC được thành lập năm 1946 bởi Ngân hàng Anh, các ngân hàng thanh toán bù trừ London và các Ngân hàng Scotland nhằm cung cấp các khoản vay cho trung và dài hạn cho các công ty đang gặp khó khăn trong việc tăng số vốn từ các nguồn khác.
Finance / Tài Chính
Tài chính được hiểu theo một số nghĩa sau. Thứ nhất, đó là một ngành nghề. Thứ hai, đó là một lượng tiền hoặc tương đương với tiền, được sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Thứ ba, đó là một ngành học và lĩnh vực hoạt động nghiên cứu. Tài chính là một nghề. Tài chính là công việc có mặt ở mọi nơi, từ các cơ quan hành chính cho tới doanh nghiệp. Nhưng đông nhất là ở khối doanh nghiệp, nơi tài chính đóng vai trò cung cấp "máu" cho cơ thể doanh nghiệp đủ dinh dưỡng để tồn tại và phát triển. Nghề tài chính liên quan tới các công việc cụ thể: Kế toán, kiểm toán, đảm bảo thanh toán, đảm bảo nguồn vốn, cố vấn-tư vấn cho các quyết định đầu tư, đầu tư, tính toán hiệu suất nguồn vốn, xây dựng chiến lược phát triển (trong đó nguồn vốn đóng vai trò cực kỳ quan trọng), mua-bán và sát nhập doanh nghiệp, cấu trúc lại các cơ cấu quản lý-sở hữu, hạn chếxung đột lợi ích tài chính, vay nợ và thuê mua, tài trợ thương mại, thế chấp-tín thác, bảo hiểm, nghiệp vụ ngân hàng, v.v.. và nhiều dịch vụ tài chính khác. Có thể nói đây là một nghề có phạm vi hoạt động rất rộng rãi, và cũng là một trong những nghề sớm được biết đến trong xã hội. Nghề tài chính trong các xã hội hiện đại có thu nhập tốt và bản chất nghề nghiệp thách thức. Đòi hỏi chuyên môn nghề tài chính cũng rất khắt khe, trong đó kiến thức chỉ là một phần, cho dù là rất quan trọng. Chẳng hạn như Goldman Sachs khi tuyển dụng chuyên viên tài chính thì ngoài các kiểm tra về mặt trình độ chuyên môn, hiểu biết kinh doanh còn có bài kiểm tra fitting (thường là qua phỏng vấn trực tiếp và đo cảm xúc) để biết một chuyên viên tương lai có phù hợp với nghề nghiệp hay đồng nghiệp hay không. Các vị trí tài chính chủ chốt trong doanh nghiệp thường gẫn gũi với Ban lãnh đạo do tầm quan trọng của tài chính trong tổng thể vận hành chung. Chức vụ cao nhất của tài chính trong doanh nghiệp thường là CFO (Chief Financial Officer), ngày càng phổ biến ở Việt Nam. Đây cũng là vị trí khó tuyển dụng trong những năm đầu thế kỷ 21 ở Việt Nam. Một sai lầm phổ biến ở Việt Nam là nhầm lẫn giữa nghề tài chính và nghề kế toán. Các Khoa ở các trường đại học cũng góp phần thêm cho sai lầm này bằng cách đặt ngành học là Tài chính-Kế toán. Do tính truyền thống và phổ biến của kế toán nên ngành Tài chính-Kế toán thường xuyên bị kế toán lấn át, do đó có xu hướng coi tài chính cũng là kế toán. Rất nhiều người có cơ sở kiến thức kế toán tốt đã nỗ lực chuyển nghề sang làm tài chính theo các phạm trù hiện đại, nhưng hầu hết đều thất bại, do 2 lĩnh vực này đòi hỏi các hệ thống tư duy khác khác biệt. Có thể nói tài chính sử dụng ngôn ngữ chung là "kế toán" nhưng không phải là kế toán. Trong quan niệm chung, Giám đốc tài chính nghe sang trọng hơn Kế toán trưởng. Điều này cũng không đúng, vì như trên đã nói, đây là hai công việc khác nhau, không thể so cam với táo. Tài chính là tiền. Tài chính dùng như danh từ còn có thể hiểu là một lượng tiền trong thế giới kinh doanh hiện đại. Tài chính được sử dụng vào nhiều việc trong doanh nghiệp: Thanh toán, đầu tư, mua bán tài sản, đảm bảo an toàn vốn, cung cấp nguồn lực cho chiến lược dài hạn, góp vốn kinh doanh, v.v.. Do thực tế là một doanh nghiệp không phát triển cũng có nghĩa là doanh nghiệp sắp từ giã thị trường, nên tài chính luôn quan trọng vì các doanh nghiệp không ngừng đầu tư mới, mua sắm mới, và triển khai các kế hoạch-chiến lược mới. Tất cả những điều này không thể diễn ra nếu thiếu "tài chính." Ở nghĩa này, tài chính có thể là: Tiền có nguồn gốc từ vốn góp, từ vốn vay, từ vốn chiếm dụng, và thu về từ các công cụ tài chính có bản chất hoặc góp vốn hoặc vay nợ. Để có được các nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh, rất nhiều loại thị trường (ngoại hối, vàng bạc, chứng khoán, ngân hàng, mua bán nợ, factoring...), định chế (ngân hàng, bảo hiểm, công ty đầu tư, công ty tín thác, ngân hàng đầu tư, môi giới tài chính, tái bảo hiểm...) và công cụ tài chính (trái phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu, CDs, cổ phiếu, phái sinh chứng khoán, futures, options, swaps, swoptions, real options...) đã ra đời. Tất cả cũng chỉ đều nhằm đảm bảo nguồn cung tài chính cho các doanh nghiệp cần tới nó cho kinh doanh. Tài chính là ngành học-nghiên cứu. Tài chính là một ngành học và nghiên cứu rất lớn, và cũng là một trong những nhánh phức tạp nhất của kinh tế học hiện đại. Tài chính bậc cao có xu hướng toán học hóa mạnh mẽ, và thứ thế kỷ 19, người ta đã biết rằng các định luật tài chính có mối liên hệ vô cùng chặt chẽ với các định luật vật lý và qui tắc toán học. Tài chính hiện đại còn được gọi bằng cái tên kỳ lạ là econophysics, ghép từ economics (kinh tế học) và physics (vật lý học). Nhà bác học vĩ đại của loài người về vật lý Stephen Hawking trong cuốn "Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ" có nói rằng thực ra hiện tượng lạm phát cần được xem như một hiện tượng của vật lý! Điều này cũng không quá đáng. Khoảng thập niên 1980, khi nghiên cứu lạm phát ở Anh quốc (một lĩnh vực của tài chính) hai nhà khoa học kinh tế-tài chính là Robert Engle và Clive Granger đã tìm ra định luật về hiệu ứng GARCH trong các dãy thống kê lạm phát (định luật biểu diễn Granger). Sau đó, hiệu ứng này đã nhanh chóng được ứng dụng trong toán học, vật lý, sinh học, xã hội học và tâm lý học... Ngành tài chính luôn thu hút được nhiều tài năng học thuật trên khắp các trung tâm nghiên cứu-đào tạo danh tiếng của thế giới. Wall Street và các trung tâm chứng khoán-tài chính lớn là nơi tiêu thụ các sản phẩm con người được đào tạo tốt có kỹ năng tốt về tài chính. Chúng ta cũng sẽ không ngạc nhiên nếu thấy tỉ lệ rất lớn các nhà chuyên môn tài chính thường có cơ sở học thuật về toán học và vật lý vững vàng. Số người chuyển từ ngành vật lý plasma, vật lý nguyên tử, vật lý năng lượng cao, hay vật lý lý thuyết... sang làm nghề tài chính rất đông, và thường họ cũng rất thành công. Nghề tài chính thường đòi hỏi các kiến thức quan trọng: * Kinh tế vi mô;* Kiến thức toán học; và,* Kỹ năng lập trình ứng dụng trên máy tính.
Final Product / Sản Phẩm Cuối Cùng
(Còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội) Tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ được người cuối cùng mua. Tổng sản lượng của một nền kinh tế sau khi trừ đi SẢN PHẨM TRUNG GIAN.
Final Offer Arbitration / (Phương Án) Trọng Tài Ra Quyết Định Cuối Cùng
Sự can thiệp vào TRANH CHẤP LAO ĐỘNG của một bên thứ ba độc lập và công bằng, bên thứ ba này xem xét các lý lẽ của hai bên và đề xuất ý kiến cuối cùng, quan điểm cuối cùng của một trong các bên tranh chấp sẽ được thực hiện.
Final Goods / Hàng Hoá Cuối Cùng
Những hàng hoá được sử dụng cho mục đích tiêu dùng chứ không dùng như là ĐẦU VÀO trong quá trình sản xuất ở các công ty. Do đó hàng hoá cuối cùng khác với SẢN PHẨM TRUNG GIAN.
Hàng Hoá Cuối Cùng (Final Goods) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Hàng Hoá Cuối Cùng (Final Goods) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Filtering / Quá Trình Lọc
Một cụm thuật ngữ được sử dụng trong KINH TẾ HỌC ĐÔ THỊ để mô tả quá trình thay đổi về chất lượng nhà ở, nhìn chung là diễn ra thông qua việc chuyển nhà ở của nhóm người có thu nhập cao sang nhóm người có thu nhập thấp hơn.
Filter / Bộ Lọc
Tên gọi của một công thức hay một phương thức nhằm loại bỏ những biến động không mong muốn của số liệu.
Fiduciary Issue / Tiền Không Được Bảo Lãnh
Một bộ phận của tiền do ngân hàng Anh phát hành theo ĐẠO LUẬT QUY CHẾ NGÂN HÀNG của Huân tước Robert Peel năm 1844, có khả năng đổi lấy trái phiếu của chính phủ, và khác với tiền vàng (và tiền bạc trên một phạm vi nhất định) và thoi vàng.
Fictitious Capital / Tư Bản Giả
Tư bản giả là tư bản không có giá trị hiện thực, chỉ có danh nghĩa về thu nhập, có quyền hưởng thu nhập. Tư bản giả tồn tại dưới hình thức chứng khoán có giá (cổ phiếu, kỳ phiếu và trái phiếu, công trái, giấy cầm đồ của ngân hàng cầm cố) và tạo khả năng cho những người có chứng khoán thu được giá trị thặng dư dưới hình thức lợi tức cổ phần hoặc lợi tức cho vay. Khác với tư bản thực tế bỏ vào sản xuất (công xưởng, nhà máy, hầm mỏ, v.v...) tư bản giả không có giá trị độc lập và không hoạt động trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chứng khoán có giá chỉ là bằng chứng về đầu tư tư bản hoặc về cung cấp tiền vay. Thu nhập hàng năm của người có cổ phiếu gọi là lợi tức cổ phần, còn người có trái khoán nhận được thu nhập đều đặn dưới hình thức lợi tức. Chứng khoán có giá được đem ra mua bán ở sở giao dịch chứng khoán. Từ năm 1840 ông chủ ngân hàng Anh ở Yorkshire đã có nhận xét như sau: "... không thể xác định được trong số kỳ phiếu đó, phần nào do những công việc kinh doanh thực tế tạo ra (thí dụ như do có mua bán thực sự) và phần nào đã được sinh ra một cách giả tạo (fictitions) và chỉ gồm những kỳ phiếu giả, tức là kỳ phiếu phát ra đề rút về trước kỳ hạn một kỳ phiếu khác đang lưu hành, thành thử tạo ra một tư bản giả bằng cách chỉ tạo ra những phương tiện lưu thông đơn thuần mà thôi". Cách phát hành các kỳ phiếu để tạo nên một hệ thống các quan hệ vay mượn nhằng nhịt đã làm cho tư bản giả tăng lên ghê gớm. Ví dụ, hôm nay tôi gửi ở ngân hàng A một triệu đồng, thì mai lượng tiền đó sẽ được ngân hàng A chi ra và hình thành số tiền gửi ở ngân hàng B. Ngày kia nó lại có thể được ngân hàng B chi ra và hình thành một số tiền gửi ở ngân hàng C... Và cứ thế tiếp tục diễn ra, như vậy cái triệu đồng kia sau một loạt chuyển dịch, trao đổi từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, từ tay người này sang tay người khác, nó có thể tăng lên mãi. Sự mua đi bán lại các cổ phiếu cũng diễn ra tương tự. Trong kinh tế học thị trường người ta cũng đã phân tích rằng các ngân hàng thương mại tiến hành kinh doanh tiền tệ, làm cho đồng tiền quay vòng và sinh sôi nảy nở, nghĩa là hệ thống ngân hàng, trong quá trình vay và cho vay đã tạo ra tiền mà không phải in thêm, tỷ lệ giữa tiền sinh sôi này nở này với cơ sở tiền tệ gọi là số nhân về tiền (hay còn gọi là hệ số khuếch đại tiền). Việc đầu cơ ở sở giao dịch chứng khoán (mà có nhà kinh tế đã từng phát biểu rằng "kinh doanh và đầu cơ nhiều khi gắn chặt với nhau đến nỗi khó mà nói được rằng tới mức nào thì thôi không còn là kinh doanh nữa và bắt đầu từ đâu là đầu cơ") dẫn đến phân phối lại tư bản tiền tệ giữa các nhà tư bản, nó là công cụ của bọn tư bản lớn cướp đoạt những người có ít chứng khoán, đồng thời làm tăng số tư bản giả lên. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các quan hệ kinh tế trở nên đa dạng và rất phức tạp, tư bản giả cũng tăng lên rất nhanh so với tư bản tồn tại thực tế. Sự tăng lên quá mức về tư bản giả so với tư bản thực tế đã gây ra trong lịch sử thế giới nhiều cuộc khủng hoảng chu kỳ gây tác hại ghê gớm. Lịch sử đã chứng kiến tình trạng mất giá khủng khiếp của các chứng khoán nhà nước và các cổ phiếu trong cuộc khủng hoảng tiền tệ xảy ra năm 1847. Từ đó đến nay, không thập niên nào là không có một vài cuộc khủng hoảng tiền tệ lớn nhỏ khác nhau. Sau cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mê hi cô (năm 1994) thì gần đây nhất là vào những tháng cuối năm của năm 1997 cuộc đại khủng hoảng tiền tệ bắt đầu từ Thái Lan, Hồng Kông đã làm chấn động cả thế giới. Riêng ở Mỹ ngày 27/10/1997 chỉ số Dow Jones đã giảm tới 594,26 điểm, thấp hơn 7,2% so với mức sụt giảm kỷ lục (508 điểm) cách đây 10 năm. Một trong số các nguyên nhân cơ bản của hiện tượng trên là đại đa số dân Mỹ (ước tính 3/4 dân số) đều đem một phần tài sản của mình đầu tư vào thị trường chứng khoán, với hy vọng thu lợi tức cổ phần và lãi vốn. Lợi tức cổ phần thì phụ thuộc vào hoạt động cụ thể của từng công ty, còn lãi vốn là khoản chênh lệch thu lại do dự đoán chính xác về biến động trong trị giá cổ phiếu. Việc công chúng Mỹ đổ xô vào đầu cơ cổ phiếu đã tạo nên cái gọi là "hiệu ứng của cải". Suốt 15 năm nay nạn đầu cơ, đặc biệt là đầu cơ giá lên (dự đoán giá lên và quyết định mua cổ phiếu vào để sau một thời gian bán ra để thu lãi) đã đẩy giá chứng khoán tăng lên quá cao so với tư bản thực tế. Và khi có một chấn động nhỏ ở nơi nào đó, gây ra tâm lý muốn bán tống bán tháo các cổ phiếu đi thì lập tức sẽ đẩy giá chứng khoán xuống dốc. Người ta đã thống kê được rằng số lượng chứng khoán có giá phát hành từ năm 1919 đến năm 1929 (trong vòng 10 năm) đã tăng lên 300%, trong khi cùng thời gian đó, sản xuất công nghiệp chỉ tăng lên 43%. Và những năm cuối của thế kỷ 20 này số lượng tư bản giả đã tăng lên con số khủng khiếp, gấp 30 lần số lượng tư bản thực tế. Một trong những nguyên nhân làm cho tư bản giả tăng nhanh với gia tốc ngày một lớn là số xí nghiệp cổ phần tăng, thị giá cổ phiếu cao vọt vì lợi nhuận độc quyền tăng lên và tỷ suất lợi tức giảm xuống, số nợ của nhà nước tăng thêm. Tiếp đến là do các quan hệ tiền tệ phát triển đã làm cho quá trình quốc tế hóa các nền kinh tế, quá trình xã hội hóa sản xuất phát triển nhanh, dẫn đến sự hình thành một thị trường thế giới, việc mua bán, đầu cơ cá chứng khoán, kỳ phiếu càng trở nên rộng lớn hơn. Nhưng rút cục các nước nghèo vẫn bị các nước giàu chèn ép và bóc lột bằng chính ngay các thủ đoạn đầu cơ tiền tệ bẩn thỉu... Tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất cộng với bản chất cái vỏ bọc nhỏ hẹp của chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa làm cho tư bản giả tăng lên là biểu hiện tính chất ăn bám của chủ nghĩa tư bản ngày càng tăng. Song sự phát triển cao độ của quá trình quốc tế hóa các nền kinh tế, cộng với sự mở rộng thị trường chứng khoán cả chiều rộng lẫn chiều sâu đã làm thay đổi một cách căn bản các quan hệ xã hội. Nghĩa là sự hình thành những nhà máy của các cổ đông, những nhà máy hợp tác tạo nên một kiểu sản xuất mới là "sản xuất tư nhân không có sự kiểm soát của quyền sở hữu tư nhân"... Và điều này đúng như những dự doán khoa học của các nhà kinh điển mác xít rằng "những sự đối kháng giữa tư bản và lao động đã được xóa bỏ trong phạm vi những nhà máy hợp tác đó, mặc dầu buổi đầu nó chỉ được xóa bỏ bằng cách biến những người lao động liên hiệp thành nhà tư bản đối với chính bản thân mình, nghĩa là cho họ có thể dùng tư liệu sản xuất để bóc lột lao động của chính họ". Tính chất hai mặt của các quan hệ tín dụng, tiền tệ dưới chủ nghĩa tư bản đã làm cho chúng, như C.Mác đã khái quát, "vừa là những kẻ lừa đảo, lại vừa là những vị tiên tri".
Feudalism / Chủ Nghĩa Phong Kiến
Một dạng hệ thống chính trị và kinh tế thống trị ở Châu Âu thời kỳ trung cổ. Chủ nghĩa phong kiến được đặc trưng bởi một tháp xã hội bắt đầu từ người nông dân lệ thuộc thông qua các chúa đất và tước hầu ở "thái ấp" lên đến tận nhà vua.
Feedback / Entrapment Effects / Tác Động Phản Hồi/Bẫy
Giả thiết cho rằng những điều kiện trong thị trường lao động thứ cấp (cấp hai) làm cho công nhân có những thói quen lao đông xấu.
Federal Trade Commission Act / Đạo Luật Về Hội Đồng Thương Mại Liên Bang
Đạo luật này được ban hành ở Mỹ vào năm 1914, nhằm thiết lập một hội đồng (FTC) có khả năng trong các công việc kinh doanh để điều tra "việc tổ chức, chỉ đạo kinh doanh, thủ tục và quản lý" của các công ty hoạt động thương mại giữa các tiểu bang và chống lại "các phương pháp cạnh tranh không công bằng". FTC cũng có nhiệm vụ chống lại "các hoạt động hoặc thủ tục không công bằng, dối trá hoặc có liên quan đến thương mại".
Federal Reserve System / Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang
Hệ thống ngân hàng trung ương tại Mỹ, "Fed", được Đạo luật dự trữ Liên bang năm 1913 thành lập và, bao gồm 12 Ngân hàng dự trữ Liên bang khu vực và 24 văn phòng chi nhánh, Ủy ban các thống đốc của Dự trữ liên bang đặt trụ sở tại Washington, D.C, Ủy ban của Thị trường mở Liên bang, Ủy ban tư vấn Liên bang, và các ngân hàng thành viên sở hữu cổ phiếu tại một trong 12 ngân hàng Dự trữ Liên bang. Những ngân hàng quốc gia được pháp luật yêu cầu sở hữu cổ phiếu trong Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại khu vực của chúng. Những ngân hàng được tiểu bang cấp phép có quyền lựa chọn trở thành ngân hàng thành viên, mặc dù chỉ khoảng 1,100 ngân hàng được tiểu bang cấp phép và thực hiện như vậy. Như tên gọi thì Hệ thống dự trữ Liên bang là ngân hàng trung ương liên bang, với trách nhiệm vận hành chia sẻ giữa ủy ban Thống độc và 12 Ngân hàng khu vực. Hệ thống dự trữ Liên bang điều tiết chi phí và khả năng tín dụng ngân hàng thông qua những quyết định chính sách tiền tệ của ủy ban Thị trường mở Liên bang; thiết lập lãi suất triết khấu mà ngân hàng sẽ trả khi vay từ Ngân hàng dự trữ Liên bang; chấp nhận những việc sáp nhập ngân hàng liên tiểu bang; giám sát những công ty cổ phần ngân hàng, và giám sát các hoạt động ngân hàng quốc tế thông qua thỏa thuận với ngân hàng trung ương khác. Xem FEDERAL RESERVE BANK; FEDERAL RESEVER BOARD; FEDERAL WIRE.
Federal Reserve Note / Chứng Nợ Của Cục Dự Trữ Liên Bang
Tiền tệ lưu thông được Ngân hàng dự trữ Liên bang phát hành để đáp ứng nhu cầu theo mùa công chúng. Tín phiếu dự trữ Liên bang là do là những giấy tờ không chịu lãi suất được phát hành dưới nhiều mệnh giá từ $1 đến $100, và là giấy tờ pháp lí để thanh toán nợ. Các tín phiếu phải mang tên Ngân hàng Dự trữ Liên bang phát hành.
Federal Reserve (Fed) / Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ
Cục dự trữ liên bang Mỹ, gọi tắt là FED, là Ngân hàng trung ương của nước Mỹ. Trong vai trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của Chính phủ liên bang. FED được xây dựng để đảm bảo duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt hơn, an toàn hơn, và ổn định hơn. Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ, FED ngày càng chứng mình được vai trò vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ. Được thành lập ngày 23/12/1913 theo đạo luật mang tên "Federal Reserve Act" do tổng thống Woodrow Wilson kí, FED là một mạng lưới gồm 12 Ngân hàng dự trữ liên bang và một số chi nhánh khác. Về mặt quản lý, FED chia nước Mỹ làm 12 khu vực, được gọi là các "Quận" (District), mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt tên theo tên thành phố mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas, San Francisco, trong đó Ngân hàng dự trữ New York có vai trò nổi bật hơn một chút so với các ngân hàng còn lại. Lãnh đạo FED là Ban thống đốc (Board of Governors) gồm có 7 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. 7 thành viên của Ban thống đốc đóng vai trò như là đa số trong Uỷ ban thị trường mở Hoa Kì (FOMC), là cơ quan quyết định tất cả các chính sách tiền tệ của Mỹ. 5 thành viên còn lại của FOMC là chủ tịch của Ngân hàng dự trữ liên bang New York và 4 chủ tịch ngân hàng dự trữ liên bang khác. Nhiệm kì của mỗi thành viên Ban thống đốc kéo dài 14 năm, và các thành viên chỉ có thể được tái bổ nhiệm nếu nhiệm kì trước của ông ta không phải là một nhiệm kì trọn vẹn. Tổng thống tiếp tục bổ nhiệm Chủ tịch và phó Chủ tịch Ban thống đốc, hai người này giữ chức trong vòng 4 năm và có thể được tái bổ nhiệm không hạn chế chừng nào họ còn là thành viên của Ban thống đốc. Chủ tịch của FED hiện nay là Ben Bernanke, người đã thay thế Alan Greenspan vào ngày 01/01/2006. Alan Greenspan đã từng phục vụ ở cương vị Chủ tịch FED từ năm 1987. FED có một số nhiệm vụ chính như: Thực thi những chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm, giá cả ổn định và lãi suất tương đối thấp. Giám sát và quản lý các thể chế ngân hàng để đảm bảo đó là những nơi an toàn để gửi tiền và để bảo vệ quyền lợi tín dụng của người dân. Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tín dụng, Chính phủ Mỹ và Ngân hàng trung ương các nước khác như thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử, phát hành tiền... Ngoài ra FED còn tiến hành các nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ cũng như kinh tế các bang, cung cấp thông tin về nền kinh tế thông qua các ấn phẩm, hội thảo giáo dục và qua website. Với vai trò là Ngân hàng trung ương của nền kinh tế mạnh nhất thế giới, mỗi quyết định của FED đều gián tiếp ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Người ta hay nói vui rằng "một cái hắt hơi sổ mũi của chủ tịch FED" cũng đủ làm chao đảo nền kinh tế thế giới, xét về mặt nào đó cũng không phải là không có lý. Vậy FED đã tác động đến nền kinh tế toàn cầu như thế nào? Thứ nhất các quyết định về tăng giảm lãi suất của FED tác động trực tiếp đến sức mạnh của đồng USD, qua đó ảnh hưởng mạnh đến các đối tác thương mại của Mỹ. Nếu FED tăng lãi suất đồng USD nhằm kiềm chế lạm phát, vô hình chung làm tăng sức mạnh của đồng USD trên thị trường tiền tệ quốc tế, làm tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu, giảm đầu tư vào Mỹ. Thứ hai, FED còn trực tiếp can thiệp vào việc xác lập giá trị đồng USD thông qua hoạt động mua bán USD và các ngoại tệ khác. Ví dụ, nếu Mỹ bán đồng Yen ra đồng thời mua vào USD thì giá trị của USD sẽ tăng, trong khi giá trị Yen giảm xuống, dẫn đến tỉ giá USD/Yen tăng. Chính vì vậy những chuyên tham gia vào thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế không bao giờ bỏ qua những diễn biến của FED.
Federal Nation Mortgage Association (FNMA) / Hiệp Hội Cầm Cố Quốc Gia Liên Bang
Một tổ chức do chính phủ Mỹ thành lập năm 1938, nhằm trợ giúp thị trường đối với các tài sản cầm cố được chính phủ tài trợ.
Federal Home Loan Bank System (Fhlbs) / Hệ Thống Ngân Hàng Cho Vay Nội Bộ Của Liên Bang
Cơ quan của chính phủ Mỹ sử dụng quyền lực của mình trên thị trường tiền tệ để cung cấp các khoản thanh khoản cho Hiệp hội tiết kiệm và cho vay.
Federal Funds Rate / Fed Funds Rate / Tỉ Lệ Lãi Suất Cho Vay Nhằm Đáp Ứng Yêu Cầu Dự Trữ Bắt Buộc
Mặc dù các ngân hàng đều muốn cho vay tất cả số tiền họ có, nhưng Cục Dự Trữ Liên Bang yêu cầu tất cả các ngân hàng luôn phải giữ một lượng tiền mặt nhất định (yêu cầu dự trữ) ở chi nhánh của Cục dự trữ liên bang. Federal funds rate là tỉ lệ lãi suất các ngân hàng cho nhau vay trong khoảng thời gian 1 ngày để có được số tiền bằng đúng yêu cầu dự trữ bắt buộc. Mỗi tháng, Fed thông qua Ủy Ban Thị Trường Mở Liên Bang, xác định một mức Federal Funds Rate nhất định. Mức lãi suất này ảnh hưởng trực tiếp tới tỉ lệ lãi suất ngắn hạn, như tiền gửi, các khoản vay ngân hàng, tỉ lệ lãi suất thẻ tín dụng, và vay thế chấp có điều chỉnh. Tỉ lệ lãi suất dài hạn bị ảnh hưởng gián tiếp. Fed funds rate làm việc như thế nào? Tỉ lệ Fed funds cao hơn đồng nghĩa với các ngân hàng ít có thiện chí đi vay để giữ mức dự trữ bắt buộc. Điều này có nghĩa rằng họ sẽ vay ngoài ít hơn, và rằng lãi suất họ cho vay cũng sẽ cao hơn bởi vì bản thận họ cũng phải trả tỉ lệ lãi suất cao hơn khi đi vay. Khi các khoản vay trở nên khó khăn và đắt đỏ hơn các ngành kinh doanh sẽ phát triển chậm lại, ảnh hưởng lên toàn nền kinh tế. Thêm vào đó, vay thế chấp có điều chỉnh cũng trở nên "đắt" hơn, và vì vậy người mua nhà chỉ có thể vay những khoản nhỏ, và khiến ngành bất động sản phát triển chậm lại. Giá nhà đất giảm xuống, vì vậy những người chủ sở hữu ngôi nhà có cảm giác mình nghèo đi. Nếu Fed cắt 1/4 tỉ lệ, việc này không những khiến nền kinh tế phát triển nhanh hơn, và còn gửi đến những tín hiệu vui mừng cho thị trường. Tuy nhiên, nếu phát triển nhanh quá cũng sẽ dẫn đến lạm phát. Tăng tỉ lệ lãi suất lên 1/4 sẽ kiềm chế được lạm phát, nhưng cũng sẽ làm kinh tế phát triển chậm lại. Những thay đổi và mức cắt giảm tỉ lệ lãi suất của Fed (1990 – nay) Change(basis points) Date Increase Decrease Level(percent) 2008 January 30 ... 50 3.00 January 22 ... 75 3.50 2007 December 11 ... 25 4.25 October 31 ... 25 4.50 September 18 ... 50 4.75 2006 June 29 25 ... 5.25 May 10 25 ... 5.00 March 28 25 ... 4.75 January 31 25 ... 4.50 2005 December 13 25 ... 4.25 November 1 25 ... 4.00 September 20 25 ... 3.75 August 9 25 ... 3.50 June 30 25 ... 3.25 May 3 25 ... 3.00 March 22 25 ... 2.75 February 2 25 ... 2.50 2004 December 14 25 ... 2.25 November 10 25 ... 2.00 September 21 25 ... 1.75 August 10 25 ... 1.50 June 30 25 ... 1.25 2003 June 25 ... 25 1.00 2002 November 6 ... 50 1.25 2001 December 11 ... 25 1.75 November 6 ... 50 2.00 October 2 ... 50 2.50 September 17 ... 50 3.00 August 21 ... 25 3.50 June 27 ... 25 3.75 May 15 ... 50 4.00 April 18 ... 50 4.50 March 20 ... 50 5.00 January 31 ... 50 5.50 January 3 ... 50 6.00 2000 May 16 50 ... 6.50 March 21 25 ... 6.00 February 2 25 ... 5.75 1999 November 16 25 ... 5.50 August 24 25 ... 5.25 June 30 25 ... 5.00 1998 November 17 ... 25 4.75 October 15 ... 25 5.00 September 29 ... 25 5.25 1997 March 25 25 ... 5.50 1996 January 31 ... 25 5.25 1995 December 19 ... 25 5.50 July 6 ... 25 5.75 February 1 50 ... 6.00 1994 November 15 75 ... 5.50 August 16 50 ... 4.75 May 17 50 ... 4.25 April 18 25 ... 3.75 March 22 25 ... 3.50 February 4 25 ... 3.25 1992 September 4 ... 25 3.00 July 2 ... 50 3.25 April 9 ... 25 3.75 1991 December 20 ... 50 4.00 December 6 ... 25 4.50 November 6 ... 25 4.75 October 31 ... 25 5.00 September 13 ... 25 5.25 August 6 ... 25 5.50 April 30 ... 25 5.75 March 8 ... 25 6.00 February 1 ... 50 6.25 January 9 ... 25 6.75 1990 December 18 ... 25 7.00 December 7 ... 25 7.25 November 13 ... 25 7.50 October 29 ... 25 7.75 July 13 ... 25 8.00
Federal Funds Rate / Lãi Suất Liên Bang
Lãi suất liên bang là loại lãi suất dành cho nội bộ hệ thống các ngân hàng thương mại vay mượn nhau “qua đêm” để đạt được lượng dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng trung ương. Những ngân hàng có cân đối dự trữ vượt yêu cầu có thể sử dụng khoản vượt này để cho các ngân hàng bị hụt vay tạm. Các khoản cho vay "tình thế" này tại Mỹ thường được thực hiện với số tiền tương đối lớn, từ một triệu USD trở lên. Tuy các khoản nợ này luôn luôn được thực hiện trên cơ sở một ngày đáo hạn xác định, chúng có thể được gia hạn thêm. Do Ngân hàng Trung ương kiểm tra rất chặt chẽ các khoản dự trữ bắt buộc, lãi suất liên bang được xem là một hàn thử biểu quan trọng về chính sách tiền tệ của nhà nước và chiều hướng tương lai của các loại lãi suất khác. Các nhà phân tích tài chính theo dõi sát sao diễn biến nhạy cảm trong lĩnh vực này để có thể đưa ra dự đoán về những thay đổi sắp xảy ra trên các thị trường tín dụng. Lãi suất liên bang sụt giảm có thể cho thấy là Ngân hàng Trung ương đã quyết định kích thích nền kinh tế bằng cách nới lỏng các khoản dự trữ áp dụng cho cả hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, các nhà tài chính khuyến cáo ta nên thận trọng khi sử dụng chỉ số này, và khi sử dụng cần kết hợp các chỉ số khác để xác định. Đây là loại lãi suất có biến động nhiều nhất trong các loại lãi suất. Nó thay đổi hằng ngày để phản ánh nhu cầu vốn cần điều chuyển qua lại giữa các ngân hàng cho hoạt động tín dụng của mình.
Federal Fund Market / Thị Trường Tiền Quỹ Liên Bang
Thị trường ở Mỹ, trong đó "những khoản tiền có thể được sử dụng ngay lập tức" được đem cho vay hay đi vay, chủ yếu là qua đêm giữa các Ngân hàng thành viên của HỆ THỐNG DỰ TRỮ LIÊN BANG, các thể chế tài chính chủ yếu khác các chi nhánh và cơ quan của các ngân hàng không phải của Mỹ.





