Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Financial Times Industrial Ordinary Index / Chỉ Số Công Nghiệp Của Báo Financial Times

Trước khi xuất hiên chỉ số FT - SE 100 vào năm 1984, thì chỉ số này là chỉ số gái cổ phiếu được sử dụng phổ biến nhất với tư cách là chỉ tiêu tổng quát về tình hình của Thị trường chứng khoán của Anh.

Financial Times Actuaries Share Indices / Chỉ Số Giá Cổ Phiếu Thống Kê Của Báo Financial Times

Tập hợp các chỉ số giá và thu nhập trung bình và tiền lãi của các chứng khoán Anh trong sở giao dịch chứng khoán.

Financial Statements Audit / Kiểm Toán Tài Chính

Kiểm toán tài chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các Bảng khai tài chính của các đơn vị do các kiểm toán viên chuyên nghiệp tiến hành theo hệ thống pháp lý hiện hành. Cách thức tiến hành kiểm toán: - Kiểm toán theo khoản mục - Kiểm toán theo chu trình Một số đặc điểm:- Chủ thể: chủ yếu là kiểm toán viên nhà nước và kiểm toán viên độc lập - Kết thúc kiểm toán: phát hành Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý (nếu có) - Cơ sở pháp lý: Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán hiện hành - Khách thể kiểm toán  Khách thể bắt buộc: phải kiểm toán theo quy định của pháp luật (DN có vốn đầu tư nước ngoài, - Cty cổ phần niêm yết, Cty TNHH, Tổ chức tín dụng, tài chính, DN KD bảo hiểm, DN nhà nước…) Khách thể tự nguyện - Tính chất pháp lý của cuộc kiểm toán: phụ thuộc vào kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán.

Financial Statements Analysis: Activity / Chỉ Tiêu Tài Chính Với Hoạt Động Kinh Doanh

Các chỉ tiêu tài chính với hoạt động kinh doanh được xây dựng để đo lường hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Mức độ đầu tư vào tại sản của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều yếu tố. Bởi vậy, ``mức độ đầu tư thế nào là phù hợp?'' trở thành câu hỏi quan trọng. Điểm hợp lý để bắt đầu tìm lời giải đáp là so sánh giá trị tài sản với doanh số thu về trong cùng thời gian đầu tư và sử dụng tài sản. Mục tiêu của việc này là xác định hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu. Chỉ tiêu tổng doanh thu tài sản. Chỉ tiêu tổng doanh thu tài sản được xác định qua việc chia tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán cho bình quân tổng tài sản. Lưu ý: để đơn giản, có thể sử dụng giá trị tổng tài sản cuối kỳ để tính toán. Chỉ số này có xu hướng chỉ ra mức độ hiệu quả trong sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Nếu chỉ số tổng doanh thu tài sản cao, có thể cho rằng doanh nghiệp đã sử dụng tài sản tạo ra doanh thu hiệu quả. Nếu chỉ số này thấp, doanh nghiệp chưa khai thác hết công suất các tài sản hiện có, do đó, cần tăng doanh số hoặc bán bớt tài sản. Một vấn đề thường gặp phải với chỉ số này là việc tận dụng tối đa các tài sản cũ bởi giá trị kế toán của các tài sản này luôn thấp hơn các tài sản mới và có cùng công năng sử dụng. Tuy vậy, cần lưu ý tới vấn đề công nghệ ở đây. Ngoài ra, cũng có những doanh nghiệp do đặc thù kinh doanh mà có mức độ đầu tư tương đối bé cho tài sản. Doanh nghiệp thương mại thường có chỉ số tổng tài sản doanh thu nhỏ hơn khi so sánh với doanh nghiệp sản xuất. Vậy nên, chớ đem so táo với cam! Doanh số phải thu. Chỉ tiêu doanh số phải thu được tính bằng cách chia doanh số cho bình quân các khoản phải thu trong kỳ kế toán. Chia số ngày trong năm (365) cho chỉ tiêu doanh số phải thu sẽ tính được thời gian thu tiền bán hàng bình quân của doanh nghiệp. Các khoản phải thu ròng được sử dụng trong tính toán các chỉ số trên. (Phải thu ròng được tính bằng các khoản phải thu trừ đi dự phòng nợ khó đòi và nợ xấu.) Chỉ tiêu doanh số phải thu và thời gian thu tiền bán hàng bình quân cung cấp thông tin về thành công của doanh nghiệp trong quản lý các tài khoản phải thu. Giá trị thực tế của các chỉ số này phản ánh chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có chính sách tín dụng tự do, khối lượng các khoản phải thu sẽ lớn hơn các trường hợp khác. Một nguyên tắc thường được những người phân tích tài chính áp dụng là thời gian thu tiền bán hàng bình quân không nên nhiều hơn thời gian trả chậm theo các điều khoản tín dụng trên 10 ngày. Doanh số tồn kho. Chỉ tiêu doanh số tồn kho được tính bằng cách chia giá vốn hàng bán cho giá trị hàng tồn kho bình quân. Do luôn được phát biểu như một chi phí trong quá khứ, giá vốn hàng bán được sử dụng thay cho doanh số (doanh số bao gồm cả phần lợi nhuận và biến đổi theo giá bán hiện tại). Số ngày trong năm chia cho tỉ số doanh số tồn kho chính là chỉ số ngày tồn kho. Chỉ số này là số ngày cần thiết để hàng hóa được sản xuất và bán; còn được gọi là ngày trên kệ trong các doanh nghiệp thương mại bán buôn và bán lẻ. Các chỉ số hàng tồn kho đo lường thời gian hàng hóa được sản xuất và bán đi. Các chỉ số này chịu tác động rõ rệt của công nghệ sản xuất. Cần nhiều thời gian để chế tạo ô tô hơn so với việc làm ra một ổ bánh mỳ. Các chỉ số này còn chịu ảnh hưởng từ thời gian sử dụng của chính sản phẩm. Một sự gia tăng đáng kể của số ngày tồn kho có thể là dấu hiệu đáng ngại vè mức tồn kho cao của các hàng hóa thành phẩm chưa bán được hoặc thay đổi trong quá trình hoàn thành sản phẩm của doanh nghiệp (cần nhiều thời gian hơn để sản xuất sản phẩm). Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho, lẽ tự nhiên, tác động tới các chỉ số hàng tồn kho được tính toán. Do vậy, người phân tích tài chính nên nhận thức rõ về sự khác biệt giữa các phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho và tác động thay đổi của mỗi phương pháp tới các chỉ số tồn kho.

Financial Statement / Báo Cáo Tài Chính

Báo cáo tóm tắt tình hình tài chính của một câ nhân , công ty hoặc tổ chức kinh doanh. Những báo cáo mà bên cho vay là ngân hàng sử dụng thường xuyên khi cấp khoản vay là bảng cân đối kế toán (tài sản, nợ phải trả và giá trị ròng vào một ngày cụ thể); báo cáo thu nhập tóm tắt thu nhập và chi phí; và những báo cáo luân chuyển tiền tệ tóm tắt các nguồn thu và sử dụng các quỹ trong năm đó.

Báo cáo tóm tắt tình hình tài chính của một cá nhân, công ty hoặc tổ chức kinh doanh. Những báo cáo mà bên cho vay là ngân hàng sử dụng thường xuyên khi cấp khoản vay là bảng cân đối kế toán (tài sản, nợ phải trả và giá trị ròng tại một ngày cụ thể); Báo cáo thu nhập tóm tắt thu nhập và chi phí; và báo cáo luân chuyển tiền tệ tóm tắt các nguồn thu và sử dụng các quỹ trong năm nào đó.

Financial Modeling / Mô Phỏng Tài Chính

Mô phỏng tài chính là một công việc quen thuộc của giới kinh doanh, đầu tư và tài chính chuyên nghiệp. Bản chất của việc mô phỏng tài chính là sử dụng các kỹ thuật tính toán số về tài chính (numerical computation) để xây dựng một bức tranh trong tương lai về tình trạng tài chính, vận hành tài chính và hiệu quả tài chính của: (i) Doanh nghiệp; (ii) Dự án; (iii) Khoản hay danh mục đầu tư; (iv) Công việc đang triển khai; và, (v) Tài chính cá nhân-gia đình. Việc mô phỏng tài chính được hình thành theo các bước sau đây: 1. Quan sát và ghi nhận các qui luật tài chính và vận hành thực tế từ các số liệu đang có2. Lựa chọn các yếu tố có khả năng tác động nhiều tới tình trạng và hiệu quả tài chính trong tương lai3. Lựa chọn các điểm xuất phát của tương lai căn cứ trên hiện trạng: Gọi là sinh ra một tập hợp các giả định4. Xây dựng một mô hình tài chính để có thể tiến hành mô phỏng5. Sử dụng các kỹ thuật tính toán số, dự báo, đánh giá tính hợp lệ và căn cứ và các kết của bước 2, 3, 4 để tiến hành mô phỏng6. Đánh giá tính hợp lệ của kết quả mô phỏng được7. Tiến hành các điều chỉnh hợp lý và tính toán tiếp theo về tình trạng, hiệu quả và vận hành tài chính Thông thường trong thế giới kinh doanh, người ta hay sử dụng mô hình tài chính (tức là việc thực hiện bước 4) dựa trên cấu trúc các báo cáo tài chính mô phỏng (tiếng Anh gọi là pro-forma financial statements). Đây là cách thức vừa dễ thực hiện, vừa dễ truyền thông các kết quả với nhau, và rất "hợp thời trang." Mô phỏng tài chính chính là hình thành nên căn cứ rất quan trọng trong các quyết định đầu tư, M&A, tái cấu trúc, đánh giá lại giá trị, cho vay dự án, cho vay không thế chấp, v.v.. Một mô phỏng tốt cho phép tiến hành bổ sung thuận lợi các công việc sau đây với năng suất cao: a. Tiến hành tính toán các tập hợp chỉ số hiệu quả-vận hành (gồm các nhóm chỉ số: Thanh khoản, Lợi suất, An toàn vốn, Rủi ro, Đảm bảo thanh toán, v.v..)b. Dễ dàng thay đổi tập hợp giả định để nghiên cứu tác động thay đổi của môi trường, của thực trạng doanh nghiệp, và tính hợp lý của chính các giả địnhc. Đưa ra các "kịch bản" về hiệu suất và hiệu quả sử dụng nguồn tài chính và ước lượng xác suất thành công thất bạid. Hình dung cái được nhiều nhất và cái thiệt hại to nhất Mô phỏng tài chính càng ngày càng trở nên phức tạp, nên có xu hướng tận dụng công nghệ thông tin với các bộ xử lý và phần mềm mạnh. Việc mô phỏng ở mức đơn giản nhất thường được tiến hành trên phần mềm bảng tính như Excell. Ở các mức cao hơn, nhiều công ty tiến hành sản xuất các phần mềm riêng, cho phép kết nối và định dạng các loại dữ liệu tài chính rất phức tạp và sử dụng các phần mềm chuyên dụng như Mathematica, Matlab. Ở mức rất cao cấp, người ta còn viết các phần mềm lớn như một hệ thống và tự nó có thể sinh ra loại dữ liệu riêng hay kết nối với các cơ sở dữ liệu khác như Quantrix.

Financial Market / Thị Trường Tài Chính

Thị trường tài chính là nơi luân chuyển vốn từ khu vực dư thừa vốn sang khu vực thiếu vốn, có nghĩa đây là nơi diễn ra hoạt động mua bán các tài sản tài chính, và thị trường này có hoạt động sôi động hay không phụ thuộc rất nhiều vào các trung gian tài chính như Ngân hàng, Quỹ đầu tư, Công ty bảo hiểm... Căn cứ vào bản chất, chức năng cũng như phương thức hoạt động, thị trường tài chính có thể phân chia thành ba loại chủ yếu, bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái và thị trường vốn (Đây là cách phân loại phổ biến theo kiểu Anh, Mỹ) Thị trường tiền tệ là thị trường trao đổi vốn ngắn hạn như các khoản vay liên ngân hàng hoặc mua bán cácchứng khoán ngắn hạn như tín phiếu kho bạc chứng chỉ tiền gửi. Thời gianđáo hạn của các chứng khoán trên thị trường tiền tệ thường dưới một năm. Thị trường mua bán tín phiếu kho bạc thường được tổ chức thành thị trường tập trung, và Ngân hàng Trung ương lấy tín phiếu kho bạc làm công cụ thị trường mở điều hành chính sách tiền tệ. Hầu hết các nước đang phát triển đã áp dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở để bổ sung cho công cụ chính sách tiền tệ trực tiếp. Thị trường chứng chỉ tiền gửi là thị trường phi tập trung, mua bán chứng chỉ tiền gửi giữa các ngân hàng thương mại. Thị trường hối đoái là nơi giao dịch mua bán các đồng tiền chuyển đổi. Các đồng tiền mạnh, có tính chuyển đổi cao được giao dịch nhiều nhất là Đôla Mỹ, Yên Nhật Bản, Mác Đức. Thị trường hối đoái là thị trường phi tập trung. Ba thị trường hối đoái lớn nhất thế giới là London, Tokyo, New York.Thị trường hối đoái có quy mô giao dịch trong một ngày trên một nghìn tỷ đôla, ví dụ năm 1998 doanh số trung bình hàng ngày của thị trường ngoại hối là 1600 tỷ USD. Vì vậy, thị trường này tác động rất lớn đến tình hình kinh tế của các nước đang phát triển. Việc đầu cơ trên thị trường hối đoái, ví dụ đầu cơ đồng Baht đã dẫn đến cuộc khủng hoảng thị trường tài chính Thái Lan, có thể gây nên hậu quả kinh tế rất nghiêm trọng bởi lẽ các nước công nghiệp tư bản chỉ chú trọng trước hết đến những vấn đề tiền tệ, kinh tế trong nước họ, nên không phối hợp đúng mức để kiểm soát thị trường. Thị trường vốn là thị trường huy động vốn dài hạn, chủ yếu thông qua phát hành chứng khoán. Vì vậy, thị trường vốn thường đồng nghĩa với thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán được coi là thị trường huy động vốn trực tiếp, không qua trung gian; khác với hoạt động ngân hàng là hoạt động cung cấp vốn gián tiếp, từ người tiết kiệm sang các nhà doanh nghiệp, thông qua tổ chức trung gian là ngân hàng. Ngân hàng cung cấp vốn chủ yếu là ngắn hạn cho các doanh nghiệp, còn vốn dài hạn thông thường phải huy động qua thị trường chứng khoán. Đối với các công ty có triển vọng phát triển nhanh, vì có sản phẩm mới, có công nghệ cao và có sức cạnh tranh thì thị trường chứng khoán là nơi cung cấp vốn dài hạn hiệu quả nhất, các doanh nghiệp này muốn phát huy tối đa tiềm lực phải dựa vào thị trường chứng khoán.

Financial Leverage Ratios / Các Chỉ Số Đòn Bẩy Tài Chính

Đòn bẩy tài chính đề cập tới việc doanh nghiệp sử dụng nguồn tài trợ từ các khoản vay thay cho vốn cổ phần. Các phép đo đòn bẩy tài chính là công cụ để xác định xác suất doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các hợp đồng nợ. Doanh nghiệp càng nợ nhiều thì càng có nguy cơ cao mất khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Nói cách khác, nợ quá nhiều sẽ dẫn tới xác suất phá sản và kiệt quệ tài chính cao. Về phía tích cực, nợ là một dạng tài trợ tài chính quan trọng và tạo lợi thế lá chắn thuế cho doanh nghiệp do lãi suất tiền vay được tính như một khoản chi phí hợp lệ và miễn thuế. Khi doanh nghiệp vay nợ, chủ nợ và chủ sở hữu cổ phần của doanh nghiệp có thể gặp phải những xung đột về quyền lợi. Chủ nợ có thể muốn doanh nghiệp thực hiện các khoản đầu tư ít rủi ro hơn so với mong muốn của những người đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp. Chỉ số nợ. Chỉ số nợ được tính bằng việc chia tổng nợ cho tổng tài sản. Cũng có thể sử dụng một vài cách khác để diễn tả việc sử dụng nợ của doanh nghiệp như chỉ số nợ-vốn cổ phần và số nhân vốn cổ phần (tính bằng tổng tài sản chia cho tổng vốn cổ phần).  Các chỉ số nợ cung cấp thông tin bảo vệ chủ nợ tình huống mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp và thể hiện năng lực tiếp nhận các nguồn tài chính từ bên ngoài đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nợ được thể hiện bảng cân đối kế toán chỉ đơn thuần là một khoản chưa trả. Do vậy, không có bất kỳ sự điều chỉnh nào về mức lãi suất áp dụng (có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với thời điểm phát sinh khoản nợ) hoặc điều chỉnh do biến động rủi ro được thể hiện. Trên thực tế, giá trị kế toán của các khoản nợ có thể khác rất nhiều so với giá trị thị trường. Một số hình thức nợ không được thể hiện trên bảng cân đối kế toán như nghĩa vụ trả tiền hưu trí hay thuê tài sản. Bao phủ lãi vay. Chỉ số bao phủ lãi vay được tính bằng cách chia thu nhập (trước thuế và lãi vay) cho lãi vay phải trả. Chỉ số này chú trọng khả năng doanh nghiệp tạo ra đủ thu nhập để trang trải lãi vay.  Lãi vay là khoản chi phí doanh nghiệp buộc phải vượt qua nếu không muốn phá sản. Chỉ số bao phủ lãi vay liên quan trực tiếp tới khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tính toán sẽ chính xác hơn khi cộng thêm khấu hao vào thu nhập và tính tới các khoản chi phí tài chính khác như trả gốc vay và thanh toán phí thuê tài sản. Một gánh nặng nợ lớn chỉ trở thành vấn đề nếu dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để thực hiện các nghĩa vụ trả nợ. Điều này liên quan tới dòng tiền trong tương lai vốn rất không ổn định. Doanh nghiệp với dòng tiền trong tương lai có khả năng dự báo ổn định được đánh giá có năng lực vay nợ tốt hơn doanh nghiệp có dòng tiền cao nhưng bất ổn. Do vậy, xem xét biến động của dòng tiền là điều cần thiết và quan trọng. Một biện pháp phổ biến là tính toán độ lệch chuẩn của dòng tiền so với dòng tiền bình quân.

Financial Leverage / Đòn Bẩy Kinh Doanh

1.Chi phí cố định trong sản xuất là gì ? Chi phí cố định là những chi phí không thay đổi hoặc thay đổi rất ít so với sự thay đổi của qui mô sản lượng. 2.Những loại chi phí cố định thường gặp : - Chi phí thuê nhà xuởng . - Chi phí khấu hao tài sản cố định. - Chi phí trả tiên lương cho công nhân trực tiếp sản xuất . - Chi phí quản cáo ..... 3. Đòn bẩy kinh doanh là gì ? Đòn bẩy kinh doanh là việc ta sử dụng các tài sản có chi phí cố định tác động vào lợi nhuận trước thuế và lãi vay hay tỷ suất sinh lời.

Financial Intermediary / Trung Gian Tài Chính

Định chế tài chính như ngân hàng thương mại và hiệp hội cho vay và tiết kiệm, nhận tiền gửi từ công chúng và thực hiện cho vay đối với những người đang cần tín dụng. Với hoạt động như một trung gian  giữa những đơn vị thặng dư tiền mặt trong nền kinh tế ( những người tiết kiệm) và những đơn vị thâm hụt chi tiêu (những người vay), trung gian tài chính giúp cho những người vay có thể tiếp cận nguồn vốn lớn trong những khoản tiền gởi được bảo hiểm liên bang-đảm trách hơn một nửa tàu sản tài chính nắm giữu bởi toàn bộ công ty dịch vụ tài chính-trong các ngân hàng và những định chế tài chính ký thác khác. Sự chuyển vốn từ những đơn vị thặng dư thông qua những định chế tài chính đến những đơn vị thiếu hụt đang tìm kiếm tín dụng ngân hàng, là một hình thức gián tiếp của tài chính được biết đến như trung gian - khách hàng là những nhà cung cấp vốn ròng. Một ngân hàng cho những người gởi tiền quyền khiếu nại đối với chính ngân hàng, nghĩa là người gửi tiền có quyền truy đòi chống lại ngân hàng (và nếu ngân hàng thất bại, thì quỹ bảo hiểm tiền gửi bảo vệ những khoản tiền gửi được bảo hiểm), nhưng không yêu cầu chống lại người vay ngân hàng.

Financial Instrument / Công Cụ Tài Chính

Một văn kiện thật hoặc ảo đại diện cho một thỏa thuận hợp pháp liên quan đến một số dạng giá trị tiền tệ. Trong thị trường tài chính ngày nay, các công cụ tài chính có thể được phân loại chủ yếu thành công cụ dựa trên vốn sở hữu- tức là người sở hữu tài sản, hoặc dựa trên khoản vay nợ- khoản tiền nhà đầu tư cho chủ sở hữu tài sản vay. Dạng công cụ tài chính thứ 3 là các công cụ thị trường ngoại hối. Mỗi loại công cụ lại chia thành nhiều dạng công cụ con như vốn sở hữu có cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông.Các công cụ tài chính có thể được hiểu đơn giản là các khoản vốn đầu tư có thể được trao đổi dễ dàng, mỗi khoản có các đặc điểm và cấu trúc riêng biệt. Sự đa dạng các công cụ tài chính trên thị trường ngày nay cho phép các vốn đầu tư lưu chuyển hiệu quả giữa các nhà đầu tư trên toàn thế giới.Công cụ tài chính có thể được phân loại thành công cụ tiền mặt và công cụ phái sinh: Công cụ tiền mặt: những công cụ tài chính mà giá trị được quyết định trực tiếp bởi thị trường. Chúng có thể phân chia thành chứng khoán- công cụ có thể chuyển đổi bất cứ lúc nào, và các công cụ tiền mặt khác như các khoản vay và tiền gửi- phải có sự đồng ý của cả người vay và người cho vay mới có thể chuyên đổi. Công cụ phái sinh: những công cụ tài chính mà giá trị phát sinh từ một số công cụ tài chính khác. Chúng có thể phân chia thành phái sinh sàn giao dịch và phái sinh OTC. Ngoài ra, chúng có thể phân loại theo "lớp tài sản" tùy thuộc chúng dựa trên vốn sở hữu (phản ánh quyền sở hữu của đơn vị phát hành) hay dựa trên vay nợ (phản ánh khoản vay của nhà đầu tư với đơn vị phát hành). Nếu dựa trên vay nợ, chúng có thể là ngắn hạn hoặc dài hạn.Các công cụ và giao dịch trên thị trường ngoại hối được xếp riêng. Chúng có thể là dựa trên vay nợ hoặc vốn sở hữu.Căn cứ theo phân loại trên, công cụ tài chính có thể được tóm tắt theo bảng sau: Lớp tài sảnLoại công cụ Chứng khoánTiền mặt khácPhái sinh sàn giao dịchPhái sinh OTC Vay nợ (Dài hạn)>1 năm Trái phiếu Khoản vay Hợp đồng tương lai trái phiếu Quyền chọn hợp đồng tương lai trái phiếu  Swap lãi suấtCaps and floors lãi suấtQuyền chọnlãi suấtCông cụ nước ngoài Vay nợ (Ngắn hạn)<=1 năm Hối phiếunhư T-BillsThương phiếu Tiền gửi ngân hàngChứng chỉ tiền gửi Hợp đồng tương lailãi suấtngắn hạn Thỏa thuận lãi suất kì hạn Vốn sở hữu Cổ phiếu N/A Quyền chọn cổ phiếuVốn sở hữu tương lai Quyền chọn cổ phiếuCông cụ nước ngoài Ngoại hối N/A Ngoại hốitại chỗ Hợp đồng tương lai tiền tệ Quyền chọn ngoại hốiHợp đồng kì hạn công khai (outright forward)Swap ngoại hốiSwap tiền tệ

Financial Institution / Định Chế Tài Chính

Cơ quan chính phủ hoặc tổ chức do tư nhân sở hữu huy động vốn từ công chúng, và từ những định chế khác, và đầu tư vốn này vào những tài sản tài chính, như các khoản vay, chứng khoán, tiền gửi ngân hàng, và tài sản tạo thu nhập. Theo định nghĩa rộng thì những định chế tài chính hoạt động như những trung gian giữa những người tiết kiệm và những người vay, được huy động bằng cách huy động và đầu tư tiền vốn. Những đinh chế tài chính kí thác-một nhóm bao gồm những ngân hàng thương mại, các hiệp hội cho vay và tiết kiệm, các ngân hàng tiết kiệm hỗ tương, và những nghiệp đoàn tín dụng -tiến hành công việc kinh doanh bằng cách nhận tiền gửi của công chúng, được chính phủ liên bang bảo  trợ chống thua lỗ, và chuyển tiền của những người kí gửi vào hoạt động cho vay.

Financial Commodities / Hàng Hóa Tài Chính

Mặc dù chúng ta thường không coi đồng đô la hay Yên hay trái phiếu Mỹ là hàng hoá, trên thực tế, chúng thực sự là các hàng hoá. Tiền chính là vật liệu thô của mỗi giao dịch, cả đối với giao dịch trong nước và quốc tế. Lãi suất tiền tệ sẽ là bao nhiêu trong mùa hè tới, hayđồng đô la sẽ bằng bao nhiêu đồng euro, là những vấn đề thu hút sự quan tâm của những người mà công việc kinh doanh của họ phụ thuộc vào nguồn cung tiền hoặc vào giá các vật liệu nhập khẩu. Họ sử dụng nghiệp vụ futures để phòng chống lại những thay đổi đột ngột trong lãi suất hoặc giá trị tiền tệ. Tuy nhiên, chính những người giao dịch có tổ chức, hiệp hội, chứ không phải người giaodịch đơn lẻ, thường thực hiện các giao dịch futures tài chính khối lượng lớn, cả trên thị trường futures và trong các giao dịch qua quầy, cá nhân. Trong một hợp đồng có các điều khoản gì Yếu tố nào tác động đến giá hợp đồng đó Trong khi cả cung và cầu đều tác động ngang bằng nhau đến những người mua hàng ở siêu thị hay lái xe ở trạm xăng, thị trường futures không giao dịch lẻ 5 cân (Anh) đường hay 10 thùng gas. Hiệu suất của thị trường đòi hỏi các hàng hoá trên thị trường phải được bán với khối lượng lớn. Giá tăng khi Thời tiết xấu phá huỷ vụ lúa mì tại Mỹ Rối loạn ở Trung Đông gây tình trạng thiếu hụt dầu Côn trùng phá hoại vụ mía Ngân hàng QG Anh định giá lại đồng Bảng Anh Hợp đồng cung cấp hàng hoá như thế nào và đáng giá bao nhiêu Một hợp đồng lúa mỳ cung cấp 5.000 giạ lúa Nếu giá là 3,2$ một giạ lúa mì, hợp đồng trị giá 16.000$ Một hợp đồng xăng cung cấp 42.000 thùng xăng Nếu giá xăng là 54,93$ một thùng, hợp đồng trị giá 23.071$ Một hợp đồng đường cung cấp 112.000 cân (đ/vị Anh) Nếu giá đường là 21,33 cent một cân, hợp động trị giá 23.890$ Hợp đồng bán Bảng Anh cung cấp 62.500 bảng Anh Nếu một bảng Anh bán với giá 1,5050$, hợp đồng trị giá 94.062,5$ Giá giảm khi Nga bội thu lúa mì Nhà sản xuất dầu tăng sản lượng Phong trào giữ sức khoẻ làm giảm tiêu thụ đường Giảm lãi suất vay ở Anh, hạ thấp tính hấp dẫn của đồng Bảng Một ví dụ khác: trong một bảng giá tiền mặt, giá cám lúa mỳ vào Thứ Tư tăng lên so với Thứ Ba và cả hai mức giá đều cao hơn mức giá của năm ngoái. Vì thế những người thích ăn ngũ cốc có thể dự đoán là họ sẽ phải trả nhiều tiền hơn cho cám lúa mỳ trong năm tới. Tuy nhiên, các số liệu trong bảng này cũng chỉ ra rằng thị trường tiền mặt của mỗi sản phẩm hoạt động độc lập đối với các thị trường sản phẩm khác.

Financial Charges / Chi Phí Tài Chính

Là những khoản phí mà người đi vay phải trả khi họ vay tiền từ ngân hàng hay một tổ chức tín dụng. Chi phí tài chính không chỉ bao gồm lãi suất khoản vay, mà còn bao gồm các khoản phí khác như phí giao dịch, phí hoa hồng, phí thanh toán chậm, phí hàng năm như phí thẻ tín dụng hàng năm, và phí tín dụng bảo hiểm hàng năm trong trường hợp người cho vay yêu cầu có bảo hiểm trước khi quyết định cho vay.

Financial Capital / Vốn Tài Chính

Tài sản có khả năng chuyển hoán khác với tài sản vật chất của một công ty.

Financial Asset / Tài Sản Tài Chính

Tài sản tài chính là khái niệm nhằm chỉ các chứng thực quyền lợi của người nắm giữ được sở hữu các nguồn thu nhập trong tương lai nào đó. Tài sản tài chính được xem như một trong hai lớp tài sản quan trọng nhất cấu thành nên khái niệm tài sản nói chung trong kinh doanh; để phân biệt với tài sản thực; loại hàng hóa vốn phục vụ trực tiếp cho sản xuất.

Finance Lease / Cho Thuê Tài Chính

Thuê với kì hạn cố định thường không thể hủy, thường được các doanh nghiệp sử dụng trong tài trợ thiết bị đầu tư. Dịch vụ của bên cho thuê được giới hạn trong việc tài trợ vốn cho tài sản, trong khi đó người thuê trả tất cả các chi phí khác, bao gồm chi phí bảo trì và thuế, và có quyền chọn mua tài sản khi kết thục hợp đồng thuê theo giá danh nghĩa. Nó cũng được gọi là thuê thanh toán đầy đủ bởi vì hợp đồng thuê được chi trả (khấu hao) toàn bộ trong kì hạn thuê. Đối chiếu với Thuê hoạt động.

Finance Houses Market / Thị Trường Các Nhà Cung Cấp Tài Chính; Thị Trường Công Ty Tài Chính

Một nhóm Thị trường tiền tệ có liên quan với nhau và xuất hiện ở London vào những năm 1960.

Finance House / Nhà Cung Cấp Tài Chính; Công Ty Tài Chính

Một tổ chức trung gian tài chính, không phải Ngân hàng, có thể huy động các nguồn tiền từ vốn của riêng mình, thông qua việc tiếp nhận tiền gửi (thường là trong khoảng thời gian cố định), hay thậm chí bằng cách vay từ các thể chế khác, rồi cho vay với nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là để cấp tiền cho các hợp đồng thuê mua và cũng có thể là cho thuê.

Finance Deepening / Tăng Cường Tài Chính; Phát Triển Hệ Thống Tài Chính

Tăng cường tài chính; phát triển hệ thống tài chính.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55