Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Forward Linkage / Liên Hệ Xuôi

Mối hệ giữa một ngành hay một công ty và các ngành hay công ty và các ngành hay các công ty khác sử dụng đầu ra của một ngành hay công ty này như là ĐẦU VÀO của mình.

Forward Exchange Market / Thị Trường Hối Đoái Kỳ Hạn

Thị trường hối đoái kỳ hạn là thị trường trong đó các đồng tiền được mua và bán theo những tỷ giá hối đoái được cố định từ bây giờ và giao vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Một người giao dịch muốn có được một loại tiền hoặc phải thanh toán bằng tiền này vào một thời điểm trong tương lai có thể mua/bán đồng tiền này trước. Bằng cách đó người này đã tự mình chấp nhận mọi sự thay đổi về giá trị trao đổi trong thời kỳ thanh toán. Trong khi đó những người khác có thể hoạt động trên thị trường như những nhà đầu cơ thuần túy. Thị trường này thuận lợi ở chỗ trong hợp đồng kỳ hạn, việc thanh toán chỉ được thực hiện khi nó đến hạn.

Forward / Hợp Đồng Kì Hạn

Hợp đồng kì hạn là một thoả thuận giữa hai bên về việc mua hay bán một tài sản nào đó vào một thời điểm định trước trong tương lai. Do vậy, trong loại hợp đồng này, ngày kí kết và ngày giao hàng là hoàn toàn tách biệt nhau. Khác với hợp đồng quyền chọn, trong đó người giữ hợp đồng có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình, thì ở hợp đồng kì hạn, 2 bên chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ hải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả thuận huỷ hợp đồng. Hợp đồng kì hạn được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, ví dụ như rủi ro mất giá tiền tệ (hợp đồng kì hạn đối với USD hoặc EUR) hay rủi ro biến động giá một loại hàng hoá nào đó (hợp đồng kì hạn với dầu mỏ). Trong hợp đồng kì hạn, một bên đồng ý mua, còn bên kia đồng ý bán, với một mức giá kì hạn được thống nhất trước, nhưng không có việc thanh toán tiền thật sự ngay thời điểm kí kết. Ngược lại với giá kì hạn là giá giao ngay (spot price), giá bán của tài sản được giao vào ngày giao ngay (spot date), thường là trong vòng 2 ngày kể từ ngày kí. Chênh lệch giữa giá kì hạn và giá giao ngay gọi là khoản thặng dư(forward premium) nếu giá kì hạn cao hơn,  hoặc khoản khấu trừ(forward discount) nếu giá kì hạn thấp hơn. Hợp đồng kì hạn được tiêu chuẩn hoá, giao dịch trên các thị trường tập trung gọi là hợp đồng tương lai (futures contract). Hợp đồng tương lai cũng là một loại hợp đồng kì hạn nhưng nó có những đặc trưng rât riêng. Hãy nghiên cứu ví dụ sau để hiểu rõ hơn về đặc điểm của một hợp đồng kì hạn: Giả sử Mr. X muốn mua một ngôi nhà trong vòng 1 năm tới, đồng thời Mr. Y sở hữu một căn nhà và anh ta muốn bán trong cùng thời gian đó. Y thoả thuận bán ngôi nhà của Y cho X sau 1 năm nữa với giá là $104,000, hợp đồng này là một hợp đồng kì hạn. Vì X là người mua nên X mong muốn giá sẽ tăng trong tương lai, ngược lại, Y muốn giá giảm. Cuối năm, giả sử giá thị trường của ngôi nhà lúc đó là $110,000, trong khi Y có nghĩa vụ phải bán nhà cho X với giá $104,000 theo như cam kết trong hợp đồng nên có thể coi như Y đã lỗ $6000, còn X lãi $6000 (vì X có thể mua nhà của Y với giá $104,000 và bán ngay trên thị trường với giá $110,000). Nhìn chung nếu không tính đến các nhân tố khác thì giá kì hạn bao giờ cũng lớn hơn giá giao ngay, vì nó bao gồm cả lãi suất. Tiếp tục ví dụ trên, giả sử giá bán hiện nay của ngôi nhà là $100,000, thì Y có thể bán ngay để đem gửi ngân hàng để hưởng lãi suất 4%/năm. Sau 1 năm Y sẽ có số tiền $104,000 mà không phải chịu chút rủi ro nào. Trong khi đó nếu X muốn mua ngay ngôi nhà anh ta sẽ đến vay ngân hàng số tiền $100,000, và cũng phải trả lãi 4%/năm. Còn ngược lại nếu kí hợp đồng mua kì hạn anh ta sẽ không phải trả lãi nên X cũng sẵn sàng bỏ ra $104,000 để mua ngôi nhà trong vòng 1 năm nữa. Đó là lý do vì sao giá kì hạn được thống nhất ở $104,000 chứ không phải là $100,000.

Forex / Thị Trường Ngoại Hối

Thị trường ngoại hối Forex là chữ viết tắt của Foreign Exchange Market hay FX là nơi giao dịch, mua bán tiền tệ. Thị trường ngoại hối lớn nhất và có tính thanh khoản cao nhất trên thế giới có số lượng giao dịch trung bình vượt quá 1,9 nghìn tỷ đôla một ngày và bao gồm tất cả các loại tiền tệ trên thế giới. Hệ thống giao dịch và giao dịch điện tử trên thị trường ngoại hối bao gồm thị trường tiền tệ giao ngay, hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, và các giao dịch ngoại hối kỳ hạn. Các bên tham gia trên thị trường Forex gồm có ngân hàng Trung ương, ngân hàng Thương mại, ngân hàng Đầu tư, các quỹ Hedge (tham khảo Hedge fund), các tập đoàn quốc tế, và các thương nhân. Thị trường Forex hoạt động 24/24h, 5 ngày một tuần. Tiền tệ được giao dịch trên khắp thế giới thông qua các trung tâm tài chính lớn như London, New York, Tokyo, Zurich, Frankfurt, Hong Kong, Singapore, Paris và Sydney.

Foreign Trade Mutiplier / Nhân Tử Ngoại Thương

Tỷ số phản ánh sự thay đổi của thu nhập có được từ sự thay đổi của xuất khẩu so với sự thay đổi của thu nhập.

Foreign Trade Multiplier / Nhân Tử Ngoại Thương

Tỷ số phản ánh sự thay đổi của thu nhập có được từ sự thay đổi cuaer xuất khẩu so với sự thay đổi của thu nhập. Chẳng hạn, nếu một nước có giá trị xuất khẩu tăng lên là 100 triệu đôla, thu nhập quốc dân sẽ tăgn lên với một lượng bội số của của cón số này cho đến khi tất cả các dòng ra (hay sự rút tiền ra) trong nền kinh tế, tức là tiết kiệm, nhập khẩu và thuế cộng lại bằng 100 triệu đôla. Trong vòng đầu tiên, các yếu tố trong ngành xuất khẩu sẽ nhận được một sự gia tăng về thu nhập là 100 triệu đôla. Trong số này có một phần bị mất đi dưới dạng là thuế, một phần dùng để nhập khẩu, một phần phần sẽ tiết kiệm và chỉ có phần nào được sử dụng để mua hàng hóa sản xuất trong nước mới tạo ra thêm thu nhập vì đây mới là cầu đối với các nguồn lực trong nước. Trong vòng thứ hai, thu nhập sẽ được phan phối theo cách tương tự và chỉ có phần được tiêu dùng cho hàng háo trong nước mới tạo thêm thu nhập. Nhân tử ngoại thương chẳn qua chỉ là một nhân tử thông thường và coi xuất khẩu là số bị nhân và công thức của nó vẫn là: Trong đó K là nhân tử và MPC là xu hướng tiêu dùng biên hàng hóa được sản xuất trong nước. Cũng có thể coi K là nghịch đảo của tất cả các xu hướng rút tiền biên, nghĩa là:  Trong đó MPS là xu hướng tiết kiệm biên, MPPT là xu hướng trả thuế biên, nghĩa là một bộ phận trong phần tăng thêm của thu nhập dùng để trả thuế và MPM là xu hướng nhập khẩu biên.  Nhân tử ngoại thương có vai trò trong cơ chế cân bằng của cán cân thanh toán. Một sự gia tăng về xuất khẩu có tác dụng cải thiện cán cân thanh toán sẽ tạo ra những lực dây chuyền có xu hướng đảo ngược sự cải thiện này, vì trong số thu nhập tăng lên do nhân tử mang lại sẽ có phần gia tăng của nhập khẩu, trong khí đó, các nước nhập khẩu nhiều hơn sẽ bị giảm sút về thu nhập và điều này rốt cuộc sẽ dẫn đến giảm sút về nhập khẩu, và do vật có xu hướng khôi phục lại sự cân bằng thông qua tác động cảu cả hai phía. Nhân tử ngoại thương cũng góp phần giải thích sự lan truyền quốc tế của quá trình bùng nổ và suy thoái. Một sự giảm sút về thu nhập trong một nước nhập khẩu chủ yếu sẽ dẫn đến sự giảm sút nhập khẩu của nước này và đay chính là một phần xuất khẩu của nước khác. Nước này bị giảm sút về thu nhập, sau đó nhập khẩu và có tể tác động đến nước ban đầu hay một nước thứ ba nào đó. Quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi sự giảm sút của nhận tố tạo ra thu nhập ở nước đầu tiên có suy thoái cân bằng với sự giảm sút trên toàn thế giới.

Foreign Reserve/ Foreign Exchange Reserve / Dự Trữ Ngoại Hối

Trong Cẩm nang Cán cân Thanh toán Quốc tế, IMF định nghĩa Dự trữ ngoại hối là toàn bộ tài sản bằng ngoại hối sẵn sàng sử dụng để can thiệp, thể hiện trên bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Hầu hết các quốc gia duy trì và quản lý dự trữ ngoại hối nhằm phục vụ các mục tiêu cơ bản sau: - Thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá. - Duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối để hạn chế tác động tiêu cực trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính. - Là tài sản dự trữ để duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, khả năng hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ, thể hiện khả năng đảm bảo tài chính của quốc gia góp phần thu hút đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài. - Dự trữ cho các trường hợp khẩn cấp và thảm họa mang tính quốc gia. Trong các mục tiêu trên, ưu tiên hàng đầu của dự trữ ngoại hối dành cho việc thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá, hạn chế tác động khủng hoảng tiền tệ (nếu có). Tại những nước áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, dự trữ ngoại hối được sử dụng để hạn chế sự biến động của tỷ giá. Do vậy, công tác quản lý dự trữ ngoại hối thường được giao cho NHTW là cơ quan hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia thực hiện. Qua thống kê tình hình quản lý dự trữ ngoại hối của 82 quốc gia và vùng lãnh thổ (SBV: 2007), cho thấy có tới 78 nước, chiếm 95% các nước giao NHTW trực tiếp quản lý dự trữ ngoại hối, chỉ một vài quốc gia là có sự tham gia quản lý dự trữ ngoại hối của Bộ Tài chính hay Quỹ đầu tư như Canada, Anh, Nhật. Tuy nhiên, ở các nước này, NHTW vẫn là cơ quan trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ quản lý dữ trữ ngoại hối. Theo báo cáo IMF (2007) về cơ quan quản lý và sở hữu dự trữ ngoại hối, có bốn hình thức quản lý: (1) NHTW sở hữu và quản lý; (2) Chính phủ sở hữu và quản lý; (3) Chính phủ sở hữu nhưng NHTW quản lý tài sản có; (4) Chính phủ và NHTW đồng sở hữu dự trữ, nhưng NHTW quản lý tài sản có. Trong đó, đa phần ở các nước, NHTW hoặc các cơ quan tiền tệ là người sở hữu dự trữ ngoại hối và quản lý dự trữ dưới dạng một phần tài sản trong bảng cân đối. Chỉ có hai nước (Nhật Bản và Mỹ), dự trữ ngoại hối do chính phủ sở hữu và quản lý. Với hình thức dự trữ ngoại hối do chính phủ sở hữu nhưng NHTW quản lý, có 3 nước (Canada, Hongkong và Anh), dự trữ do chính phủ sở hữu và do đại lý quản lý. ở Canada, dự trữ do chính phủ sở hữu nhưng NHTW Canada và Bộ Tài chính đồng quản lý; ở Anh, Bộ Tài chính sở hữu dự trữ, NHTW Anh quản lý theo các hạn mức của Bộ Tài chính; và ở Hồng Kông, Cơ quan tiền tệ Hồng Kông quản lý dự trữ nhưng do chính phủ sở hữu. Với hình thức dự trữ ngoại hối do chính phủ/NHTW đồng sở hữu và NHTW quản lý như Hàn Quốc, Estonia, Barbados, Bahrain. • Tại Hàn Quốc, NHTW cùng với Bộ Tài chính và Kinh tế nắm giữ dự trữ ngoại hối, NHTW quản lý tất cả dự trữ trước khi Công ty Đầu tư Hàn Quốc thành lập năm 2005. • Tại Estonia, NHTW điều hành quản lý dự trữ ngoại hối do NHTW sở hữu, trong khi đó, NHTW cung cấp dịch vụ quản lý đối với phần dự trữ do Bộ Tài chính sở hữu. • Tại Barbados, Bahrain: NHTW và chính phủ cùng sở hữu và quản lý dự trữ ngoại hối. Theo cả 4 hình thức này, NHTW là cơ quan quản lý trực tiếp việc sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp ngoại hối trên thị trường ngoại hối trong nước và đầu tư dự trữ ngoại hối trên thị trường quốc tế trừ trường hợp của Mỹ và Nhật. Tại Nhật, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về chính sách tỷ giá và quản lý dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, can thiệp ngoại hối do NHTW Nhật thực hiện thay mặt cho Bộ Tài chính. Tại Mỹ, Bộ Tài chính quản lý Quỹ bình ổn hối đoái nhưng hoạt động can thiệp ngoại hối được thực hiện thông qua Ngân hàng Dự trữ liên bang New York. Quy mô dự trữ ngoại hối Dự trữ ngoại hối có vai trò quan trọng trong việc can thiệp thị trường ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá. Việc duy trì một mức dự trữ ngoại hối vừa đủ là cần thiết nhằm bảo vệ giá trị đồng nội tệ, hạn chế sự biến động quá mức của tỷ giá hối đoái, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế, chống đỡ khủng hoảng kinh tế và tài chính. Điều này là phù hợp đối với mọi nền kinh tế, nhưng sẽ đặc biệt quan trọng hơn đối với các nền kinh tế đang phát triển bắt đầu thực hiện mở cửa, tự do hoá các giao dịch vốn quốc tế. Tuy nhiên, nếu dự trữ ngoại hối quá lớn sẽ làm phát sinh chi phí cho việc nắm giữ dự trữ ngoại hối do lợi nhuận thu được từ đầu tư dự trữ ngoại hối thường thấp hơn chi phí đi vay vốn nước ngoài. Do vậy, các quốc gia hiện nay đều quan tâm đến việc xác định mức dự trữ ngoại hối vừa đủ, phù hợp với quy mô của nền kinh tế, tình hình tự do hoá cán cân vãng lai và cán cân vốn nhằm đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế, bảo vệ giá trị đồng tiền, cân bằng giữa lợi ích điều hành chính sách tiền tệ và chi phí của việc nắm giữ dự trữ ngoại hối. Thông thường, mức dự trữ ngoại hối vừa đủ được xác định theo nguyên tắc: mức dự trữ ngoại hối của một nước cần tương đương từ 3 đến 6 tháng nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của nước đó. Với các nước tự do hoá tài khoản vốn hay có chế độ tỷ giá linh hoạt có sự kiểm soát của Nhà nước như Việt Nam, nếu chỉ sử dụng nguyên tắc so sánh mức dự trữ ngoại hối với 3 đến 6 tháng nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ không thích hợp vì các nước này phải đối mặt với rủi ro đảo chiều một cách đột ngột của các luồng vốn ngắn hạn như luồng vốn đầu tư gián tiếp (Nguyễn Thị Nhung, Tạp chí Ngân hàng: 12/2007). Thông thường, các nước này cần có một lượng dự trữ ngoại hối lớn hơn để sẵn sàng can thiệp khi xảy ra hiện tượng rút vốn và chuyển tiền ồ ạt ra nước ngoài. Với các nước có mức độ đô la hoá cao, chỉ số lượng tiền rộng (M2) và số ngoại tệ gửi tại hệ thống ngân hàng so với dự trữ ngoại hối cũng được xem xét đến nhằm đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu ngoại hối của NHTW khi có hiện tượng rút ngoại tệ ồ ạt của người cư trú và khả năng can thiệp để bình ổn tỷ giá. Với các nước có mức dự trữ ngoại hối vượt mức dự trữ ngoại hối vừa đủ và đã tương đối tự do hoá tỷ giá, để nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối theo hướng đa dạng hoá loại hình đầu tư và ưu tiên mục tiêu sinh lời, có thể trích một phần dự trữ ngoại hối giao cho công ty hoặc quỹ đầu tư để đầu tư sinh lợi một cách thuần tuý (không sử dụng để can thiệp) như Hàn Quốc, Trung Quốc. Tuy nhiên, với các nước này, phần lớn dự trữ ngoại hối vẫn do NHTW trực tiếp đầu tư, quản lý để đảm bảo khả năng can thiệp khi cần thiết. Cụ thể với NHTW Hàn Quốc, công tác quản lý dự trữ ngoại hối được coi là một trong những hoạt động quan trọng nhất của NHTW. NHTW cần duy trì dự trữ ngoại hối ở mức ít nhất đảm bảo đủ để can thiệp duy trì sự ổn định không gây ra những biến động lớn trên thị trường ngoại hối cũng như toàn bộ thị trường tài chính và nền kinh tế, có thể chống đỡ các cú sốc từ bên ngoài và duy trì sức mạnh kinh tế của quốc gia. Với Trung Quốc, quy mô dự trữ ngoại hối đã vượt xa các chỉ tiêu theo thông lệ quốc tế và hiện đang đứng đầu thế giới về quy mô dự trữ ngoại hối. Nguồn bổ sung dự trữ ngoại hối là từ thặng dư cán cân vãng lai nên có tính ổn định hơn đối với các nước bổ sung dự trữ ngoại hối từ thặng dư của cán cân vốn. Mọi biến động trong cơ cấu dự trữ cũng như quy mô dự trữ ngoại hối đều được NHTW các nước quan tâm. Gần đây, để nâng cao hiệu quả đầu tư dự trữ, Trung Quốc dự định phát hành trái phiếu để tách khoảng 200 - 300 tỷ USD cho Công ty Đầu tư Nhà nước (CIC) để đầu tư thuần tuý. Với Việt Nam, theo các qui định hiện hành, cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế. Cụ thể: - Theo qui định tại khoản 2, Điều 38 Luật NHNN: "NHNN quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước (dự trữ ngoại hối NN) của nước CHXHCN Việt Nam theo quy định của Chính phủ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước." - Theo khoản 1, Điều 34 Pháp lệnh Ngoại hối: "NHNN Việt Nam quản lý dự trữ ngoại hối NN theo quy định của Chính phủ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế và bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước." - Theo Điều 1, Nghị định số 86/1999/NĐ-CP: "NHNN là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối NN nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối nhà nước." - Theo điểm 1.6, mục 1, chương II, Thông tư số 35/2006/TT-BTC về chế độ tài chính của NHNN: "NHNN quản lý chặt chẽ quỹ dự trữ ngoại hối NN theo quy định của pháp luật, sử dụng cho mục tiêu thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế. Định kỳ hàng quý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính tình hình sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước." Để đánh giá qui mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện đang ở mức độ nào và liệu Việt Nam đã đến lúc cần xem xét tách một phần dự trữ để đầu tư sinh lời thuần tuý như một số nước trong khu vực hay chưa, chúng ta cần xem xét đến mức độ mở cửa của nền kinh tế và tính toán một số chỉ tiêu về dự trữ ngoại hối. Theo Pháp lệnh Ngoại hối được ban hành ngày 13/12/2005, cán cân vãng lai của Việt Nam đã hoàn toàn được tự do hoá. Ngoài ra, theo quy định tại Pháp lệnh Ngoại hối và Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006, các giao dịch vốn từng bước được tự do hoá. Cụ thể: - Với vay vốn nước ngoài, chỉ các khoản vay trung, dài hạn của tổ chức mới phải đăng ký tại NHNN và mở rộng vay vốn nước ngoài đối với cá nhân là người cư trú. NHNN quản lý thông qua tổng hạn mức vay vốn nước ngoài của các tổ chức kinh tế và cá nhân và hoạt động đăng ký khoản vay nước ngoài tại NHNN. - Với hoạt động cho vay ra nước ngoài, Pháp lệnh cho phép người cư trú là Tổ chức kinh tế thực hiện khi được phép của Thủ tướng Chính phủ; Tổ chức kinh tế thực hiện theo quy định của NHNN, các khoản cho vay của Chính phủ hay các tổ chức được Nhà nước, Chính phủ uỷ quyền thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. - Với đầu tư gián tiếp, cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán theo một tỷ lệ nhất định và được nới lỏng theo thời gian. NHNN chỉ giám sát thông qua tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam. - Với đầu tư trực tiếp, các hạn chế về việc chuyển đổi ngoại tệ đã được xoá bỏ, NHNN chỉ giám sát thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ trong đó quy định các nội dung thu, chi của tài khoản này. - Với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, người cư trú được phép sử dụng ngoại tệ sẵn có của mình hay đi mua hoặc đi vay để đầu tư sau khi được phép của cơ quan có thẩm quyền về việc đầu tư ra nước ngoài. Do các giao dịch vốn đã tương đối được tự do hoá nên NHTW cần phải mua ngoại tệ cho dự trữ ngoại hối khi các luồng vốn đổ vào Việt Nam để duy trì sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu và phải bán ra khi đến hạn trả nợ hay có hiện tượng đảo chiều của các luồng vốn ngắn hạn của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó, với mức độ đô la hoá tương đối cao của Việt Nam, dự trữ ngoại hối cũng phải gia tăng để đảm bảo can thiệp khi có hiện tượng rút ngoại tệ ồ ạt tại các ngân hàng thương mại. Hiện tượng đô la hoá (theo số tương đối) hiện nay có xu hướng giảm do hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán gia tăng mạnh mẽ. Cụ thể, chỉ số tiền gửi ngoại tệ/M2 của Việt Nam hiện đang ở mức 22,3% vào cuối năm 2005, 20,9% cuối năm 2006 và ở mức khoảng 19,5% vào cuối tháng 6 năm 2007. Tuy nhiên, do M2 tăng nhanh nên tiền gửi ngoại tệ theo số tuyệt đối vẫn tăng trong thời gian qua. Việc hội nhập kinh tế toàn cầu đi đôi với chính sách tự do hoá vãng lai, từng bước nới lỏng giao dịch vốn, một mặt, đem lại những thuận lợi như thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước, nâng cao mức tăng trưởng kinh tế, cải thiện mức sống của người dân, mặt khác, cũng chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn. Hiện nay, cán cân thương mại thường xuyên thâm hụt, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là đầu tư gián tiếp chưa thực sự bền vững nên thị trường ngoại hối cũng tạo nên sự bất ổn định về cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Thực tế cho thấy, nhiều nước tự do hoá tài khoản vốn quá nhanh đã phải đối mặt với khủng hoảng tài chính nặng nề khi có hiện tượng chuyển vốn đột ngột ra nước ngoài với khối lượng lớn của các nhà đầu tư nước ngoài. Với các nước tự do hoá tài khoản vốn, thường thì NHTW phải can thiệp mua ngoại tệ tăng dự trữ đi đôi với việc thực hiện các nghiệp vụ của thị trường mở để hút bớt lượng tiền đã bơm vào lưu thông để vừa duy trì khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu và kiềm chế nguy cơ lạm phát khi luồng vốn đổ vào với khối lượng lớn. Bên cạnh đó, NHTW cũng phải sẵn sàng bán ngoại tệ ra để can thiệp khi có sự rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư để ổn định thị trường ngoại hối. Để làm được điều này, NHTW các nước phải dự trữ một lượng ngoại tệ không nhỏ ngoài mức đủ để đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu theo thông lệ quốc tế.

Foreign Investment / Đầu Tư Nước Ngoài

Thường chỉ là đầu tư của một nước khác do các công ty hay cá nhân tiến hành và khác với viện trợ chính phủ.

Foreign Exchange Trading - Forxex - FX / Kinh Doanh Ngoại Hối

Kinh doanh ngoại hối là việc mua đi bán lại các đồng tiền của các quốc gia khác nhau, mục tiêu là kiếm được lợi nhuận từ các khỏan chênh lệch giữa chúng.Nó gần giống với kinh doanh chứng khoán tuy nhiên Kinh doanh ngoại hối có những đặc điểm đặc trưng sau:1. Cho phép sử dụng đòn bẩy trong kinh doanh, và bạn có thể mua khống, bán khống.2. Có độ thanh khoản rất cao, chỉ trong 1/10s, giao dịch của bạn đã được thực hiện!3. Người kinh doanh có thể kiếm lợi trong cả hai trường hợp điều kiện thị trường đang lên hoặc xuống.4. Bạn có thể kinh doanh 24/24 giờ vì đây là thị trường toàn cầu.

Foreign Exchange Reserves / Quỹ Dự Trữ Bình Ổn Hối Đoái

Quỹ dự trữ hối đoái là tập hợp những quỹ tiền bằng các đồng ngoại tệ khác nhau được ngân hàng trung ương và các tổ chức tiền tệ nắm giữ. Ngoại tệ ở đây có thể là đồng đô la, euro, yên và chúng là tài sản của ngân hàng trung ương. Chính phủ hoặc các thể chế tài chính  dùng chúng để mua lại các khoản nợ, như mua nội tệ và các khoản tiền gửi dự trữ của ngân hàng thương mại tại ngân hàng trung ương. Trước đây, dự trữ ngoại hối chỉ ở dưới dạng vàng, ví dụ như quỹ dự trữ vàng quốc gia. Nhưng dưới chế độ hệ thống tỷ giá Bretton Woods, Mỹ đã cố định giá trị của đồng đô la so với vàng và cho phép chuyển đổi từ đô la ra vàng. Do được đảm bảo bằng vàng, người ta bắt đầu dùng đôla để dự trữ.Nhưng sau đó Mỹ bỏ tiêu chuẩn vàng của đô la , tuy nhiên đồng đô la vẫn được người ta thừa nhận và nó vẫn là một đồng tiền quan trọng dùng trong dự trữ quốc gia. Ngày nay, không chỉ có đôla mà các đồng tiền có thể tự do chuyển đổi đều được các ngân hàng trung ương sử dụng  trong dự trữ ngoại hối của mình. Mục đích Ở hệ thống tỷ giá thả nổi, dự trữ hối đoái cho phép ngân hàng trung ương mua lại đồng nội tệ ,thay đổi tài sản để trả nợ. Như vậy dự trữ hối đoái là phương tiện để ngân hàng trung ương ổn định đồng nội tệ chống lại những thay đổi quá mức, bảo vệ hệ thống tiền tệ quốc gia chống lại các cú shock tiền tệ. Dự trữ càng lớn được xem là càng mạnh.Nó giúp chính phủ dễ dàng mua lại nội tệ bất cứ lúc nào cần. Dự trữ ít hoặc dữ trữ bị giảm đi là dấu hiệu cho thấy quốc gia đó sắp xảy ra một cuộc khủng hoảng tiền tệ. Đôi khi Ngân hàng trung ương cho rằng nắm giữ một lượng dự trữ ngoại tệ lớn là một thước đo an toàn. Điều này chỉ đúng khi ngân hàng trung ương dùng ngoại tệ làm chỗ dựa cho vị thế đồng nội tệ. Nhưng thường thì một lượng dự trữ ngoại tệ qúa lớn không phải là một tấm chắn tốt để chống lạm phát nhưng lại khá tốt trong trường hợp chính phủ sử dụng một chính sách đối nghịch: Mua vào một lượng lớn ngoại tệ  để giữ cho đồng tiền của mình yếu hơn so với các đồng tiền tương quan. Một quốc gia có một lượng dự trữ lớn sẽ có khả năng điều khiển thị trường tiền tệ. Như vậy,một mặt chính phủ có thể gây ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Mặt khác , việc nắm giữ lượng ngoại tệ lớn cũng phải đánh đổi một chi phí cơ hội lớn.  Các tổn thất ngân sách (quasi-fiscal costs) của việc nắm giữ qúa nhiều dự trữ ngoại tệ xuất hiện khi tiền lời mà họ nhận được từ các khỏan dự trữ thấp hơn chi phí trung bình họ phải trả cho các chứng khoán nợ đã phát hành. Thêm nữa chính phủ quốc gia nhiều nước thường phải gánh chịu những tổn thất to lớn trong việc quản lý danh mục ngoại tệ dự trữ. Khi khủng hoảng tiền tệ xảy ra và tất cả dự  trữ ngoại hối được tung ra hết. Cuối cùng nó lại trở thành chi phí ngân sách. Thậm chí nếu không xảy ra khủng hoảng tiền tệ, thì quốc gia vẫn tốn chi phí ngân sách, giống như nó đã từng xảy ra ở Trung Quốc trong 2 năm 2005 và 2006, khi Trung Quốc nắm giữ một lượng rất lớn  tài sản bằng đồng USD nhưng đồng nhân dân tệ lại không ngừng tăng giá . Mức dự trữ ngoại hối của các quốc gia Tính đến cuối năm 2004, 66% các quốc gia trên thế giới công bố dự trữ ngoại hối bằng đồng đô la Mỹ và 25% bằng đồng Euro Những tổ chức tiền tệ có dự trữ hối đoái lớn nhất năm 2007 Ngân hàng trung ương/Tổ chức tiền tệ Tỷ đôla (tính đến cuối tháng) Trung Quốc $   1066    (Tháng 12)1 Nhật Bản $     905    (Tháng 2) Nga $     317    (9 tháng 3)2 Đài Loan $     268    (Tháng 2) Hàn Quốc $     243    (Tháng 2) Ấn Độ $     194    (9 tháng 3)3 Singapore $     139    (Tháng 2) Hồng Kông, Trung Quốc $     136    (Tháng 2) Đức $     113    (Tháng 1) Braxin $     106    (13 tháng 3)4 Chú thích 1: Số liệu của Trung Quốc tính theo từng quý Chú thích 2: số liệu của Nga tính theo hàng tuần và hàng tháng Chú thích 3: số liệu của Ấn độ tính theo tuần Chú thích 4: số liệu của Brazil tính theo từng ngày Tất cả dự trữ của những nước này chiếm hơn 50% tổng dự trữ ngoại tệ của thế giới.

Foreign Exchange / Ngoại Hối

Đồng tiền - tiền tệ nước ngoài - được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế giữa các quốc gia . Giao dịch ngoại hối là phương tiện qua đó thiết lập giá trị cho hàng hóa tiêu dùng và chế tạo được nhập khẩu hoặc xuất khẩu giữa các quốc gia. Bên cho vay và bên vay giải quyết các nghĩa vụ nợ thương mại quốc tế như: hối phiếu ngân hàng, hối phiếu thương mại, giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng, và thư tín dụng , bằng cách trao đổi những đồng tiền khác nhau với tỷ giá đã thỏa thuận. Kết quả của toàn bộ giao dịch thương mại quốc tế này giúp các đinh chế tài chính tích lũy những đồng tiền dự trữ khác nhau, từ việc thanh toán khoản vay với những nhà vay nước ngoài, và cũng từ thương mại xuất nhập khẩu cung cấp vốn thay mặt của khách hàng.

Foreign Direct Investment / FDI / Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức nhà đầu tư (cá nhân hoặc tổ chức) để đạt được quyền kiểm soát doanh nghiệp ở nước ngoài. Hoạt động FDI tạo ra công ty mẹ và công ty con từ đó hình thành ra tập đoàn xuyên quốc gia. Để được gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài, vụ đầu tư phải đủ lớn để nắm quyền kiểm soát công ty ở nước ngoài. Liên hợp quốc xác định rằng để làm được việc đó, công ty mẹ phải sở hữu 10% hoặc hơn số cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của công ty được đầu tư. Nếu ít hơn số đó thì gọi là đầu tư gián tiếp. Nếu phân chia theo mục đích đầu tư thì FDI được chia làm 4 loại chính: Đầu tư mới - Greenfield Investment : nhằm xây dựng nhà máy mới hoặc mở rộng nhà máy/dây chuyền hiện có. Mua lại và sáp nhập - Merger & Acquisition : Công ty đầu tư mua luôn tài sản của doanh nghiệp nước ngoài. Đầu tư theo chiều ngang - Horizontal FDI: Đầu tư trong cùng ngành công nghiệp Đầu tư theo chiều dọc - Vertical FDI: Đầu tư vào công ty chuyên cung cấp đầu vào sản xuất, hoặc chuyên bán đầu ra cho sản phẩm Phân loại theo mục tiêu FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực - Resource-seeking: Đầu tư nhằm đạt được dây chuyền sản xuất và các nguồn lực khác như lao động rẻ hoặc tài nguyên thiên nhiên, mà những nguồn lực này không có ở được đi đầu tư. Đây là FDI thường đầu tư vào các nước đang phát triển như tài nguyên dầu mỏ ở Trung Đông hay vàng, kim cương ở Châu Phi, lao động rẻ ở Đông Nam Á. FDI tìm kiếm thị trường Market-seeking: Đầu tư nhằm thâm nhập thị trường mới hoặc duy trì thị trường hiện có. Tìm kiếm hiệu quả - Effficiency-seeking: Đầu tư nhằm tăng cường hiệu quả bằng việc tận dụng lợi thế của tính kinh tế theo quy mô hay phạm vi, hoặc cả hai. Tìm kiếm tài sản chiến lược - Strategic-Asset-Seeking: Đầu tư nhằm ngăn chặn việc bị mất nguồn lực vào tay đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, các công ty sản xuất và khai thác dầu mỏ có thể không cần trữ lượng dầu đó ở thời điểm hiện tại, nhưng vẫn phải tìm cách bảo vệ nó để không rơi vào tay đối thủ cạnh tranh.

Foreign Currency Effects / Tác Động Của Ngoại Tệ

Tác động của Ngoại tệ muốn nói đến một khoản lời hoặc lỗ trong đầu tư nước ngoài do sự thay đổi trong giá trị tài sản liên quan tính bằng đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ mà doanh nghiệp thường dùng cho hoạt động kinh doanh. Khi đồng nội tệ tăng giá  đồng nghĩa với kết quả lợi nhuận từ các khoản đầu tư nước ngoài khi cần chuyển đổi sang đồng nội tệ sẽ thấp xuống. Và ngược lại. Đầu tư nước ngoài có thể gặp khó khăn do tác động của tỷ giá và khả năng chuyển đổi của tiền tệ giữa các quốc gia. Một khoản đầu tư giá trị cao trong một quốc gia khác có thể trở thành vô nghĩa nếu đồng tiền của quốc gia đó quá yếu.Trong một số trường hợp, khoản nợ tính bằng đồng ngoại tệ được sử dụng để mua tài sản trong nước đã đưa doanh nghiệp dẫn tới phá sản bởi đồng nội tệ giảm giá quá nhanh hoặc đồng ngoại tệ được dùng trong khoản nợ lên giá quá nhiều.

Foreign Aid / Viện Trợ Nước Ngoài

Một luồng vốn đổ vào hoặc một sự trợ giúp nào đó cho một nước không do các tác nhân thị trường tự nhiên cung cấp.

Một luồng vốn đổ vào hoặc một sự trợ giúp nào đó cho một nước không do các tác nhân thị trường tự nhiên cung cấp. Có bốn dạng viện trợ chính:Thứ nhất, các khoản cho vay dài hạn phải được thanh toán lại bằng loại ngoại tệ, thường có thể trả trong vòng 10 hoặc 20 năm. Lợi thế đói với người nhận là tiền thanh toán hàng năm ít hơn nhiều so với tiền thanh toán của các khoản cho vay ngắn và trung hạn. Thứ hai là những khoản “vay mềm” có thể được thanh toán lại bằng tiền trong nước. Một số được trả bằng ngoại tệ nhưng trong một thời gian dài chẳng hạn như 99 năm với lãi suất rất thấp, trong khi đó số nợ được thanh toán bằng tiền trong nước sẽ được cho vay lại để nước nhận tiếp tục các công trình phát triển. Đôi khi, trợ cấp trực tiếp được thực hiện. Dạng thứ ba là việc bán các sản phẩm dư thừa cho một nước để đổi lấy việc thanh toán bằng tiền trong nước của nước này như chương trình PL 480 của Mỹ. Điều này có thể rất có ý nghĩa cho một nước chậm phát triển có rất ít ngoại tệ vì nó sẽ giúp những nước này mua được hàng hóa từ nước ngoài. Các nước này thường phải nhập khẩu lương thực, thực phẩm và các hàng tiêu dùng khác vì khu vực nông nghiệp của họ không thể sản xuất ra đủ để nuôi sống công nhân thành thị trong các ngành xây dựng hoặc các công trình đầu tư khác. Dạng thứ tư của viện trợ, không hoàn toàn là một luồng vốn mà là sự trợ giúp về kỹ thuật dành cho các nước chậm phát triển. Lịch sử của Viện trợ nước ngoài Viện trợ nước ngoài khởi đầu bằng hoạt động tái thiết châu Âu sau Thế chiến thứ hai với kế hoạch Marshal và các khoản vay của Ngân hàng Thế giới. Viện trợ phát huy hiệu quả và châu Âu phục hồi nhanh chóng. Xuất phát từ thành công này, các nước giàu đẩy mạnh viện trợ cho các nước nghèo. Hỗ trợ phát triển hay viện trợ nước ngoài trở thành một bộ phận thống nhất của hệ thống tài chính truyền thống: - Chính phủ các nước đang phát triển can thiệp vào hệ thống tài chính để huy động và phân bổ vốn cho các dự án phát triển ưu tiên; - Tuy vậy, thiếu vốn vẫn là trở lực cho các nước đang phát triển; để đạt được một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cần phải duy trì một tỷ lệ đầu tư cao hơn nhiều so với tỷ lệ tiết kiệm trong nước;- Viện trợ nước ngoài cung cấp nguồn lực để bù đắp cho khoản thiếu hụt giữa nhu cầu đầu tư và lượng tiết kiệm nội địa. Những bài học rút ra trong báo cáo “Đánh giá viện trợ” của Ngân hàng Thế giới - Viện trợ tài chính phát huy tác dụng trong một môi trường chính sách tốt - Viện trở hiệu quả bổ sung hay “hút” đầu tư tư nhân - Nghèo khó có thể được giảm rất nhiều nhờ cải thiện các chính sách và thể chế kinh tế, (Những nỗ lực để “mua” hay ép buộc chính sách tốt sẽ thất bại. Cải cách phải do chính quốc gia đó làm chủ) - Giá trị các dự án phát triển là ở chỗ củng cố các thể chế và chính sách để có thể cung cấp các dịch vụ một cách hiệu quả. - Phương pháp tham gia từ dưới lên trong việc thiết kế và chuyển gia dự án tốt hơn phương pháp lập kế hoạch và thực hiện từ trên xuống. - Viện trợ có thể giúp thúc đẩy cải cách trong những môi trường chính sách kém, nhưng chỉ khi các ý tưởng được đề xuất và giữ lại không giải ngân các khoản viện trợ cho đến khi nào có những chính sách tốt hơn được đưa ra.

Foreign Agents Registration Act (FARA) / Luật Đăng Ký Đại Diện Nước Ngoài

Luật đăng ký đại diện nước ngoài được ban hành để chống lại ảnh hưởng quá mức của nước ngoài đối với chính sách của Mỹ. FARA quy định phải công bố công khai các mói quan hệ nhất định giữa các cá nhân và các cơ quan ở Mỹ và các nước liên quan bằng cách gửi báo cáo lên Bộ Tư pháp. Ngoài một số miễn trừ, có bốn loại hoạt động cần phải đăng ký với Bộ Tư pháp khi một cá nhân hoặc công ty đóng tại Mỹ (dù có quốc tịch Mỹ hay không) thực hiện một công việc nhằm phục vụ lợi ích bên ngoài. Thứ nhất là một số hoạt động chính trị nhất định, bao gồm tất cả các nỗ lực gây ảnh hưởng lên chính sách và dư luận Mỹ dưới danh nghĩa, hay thậm chí theo yêu cầu, của cá nhân hoặc cơ quan nước ngoài. Thứ hai, đóng vai trò là người đại diện cho các mối quan hệ của công chúng hay là cố vấn chính trị phục vụ lợi ích của người nước ngoài. Thứ ba, quyên góp hoặc chi tiền hoặc có đóng góp vì lợi ích của người nước ngoài. Cuối cùng là đại diện cho quyền lợi người nước ngoài trong quan hệ của Chính phủ Mỹ. The Language of Trade - 2001

Foreclosure / Phát mãi tài sản

Hành động pháp lý khởi xướng của bên cho vay để giành quyền sở hữu tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay không chi trả. Một vài bang cho phép người cho vay quyền đối với tài sản, bằng việc đơn giản tuyên bố người vay khống chi trả, một quá trình được biết đến là phát mãi nghiêm ngặt. Mặc dù vậy, hầu hết các bang đều yêu cầu bên cho vay hoàn thành hồ sơ vụ kiện tịch thu tài sản phát mãi, và nhận quyết định của toàn án trước khi thu giữ và bán đấu giá tài sản của bên vay. Tiền thu được tài sản phát mãi được sử dụng trước hết trả nợ thế chấp và chi phí phát mãi, phần còn lại nếu có, sẽ trả lại cho người vay. Người vay vi phạm có quyền mua lại tài sản này, trong hầu hết các bang, gọi là quyền mua lại, bằng cách trả bên cho vay số dư nợ, cộng thêm các chi phí khác.

Forecasting Futures Contract's Price / Xác Định Giá Của Hợp Đồng Tương Lai

Thị trường chứng khoán phái sinh theo dõi các mức giá tiền mặt (giá thanh toán ngay) rất chặt chẽ. Giá của hợp đồng tương lai trong tháng tiếp theo hoặc trong 5 tháng tới thường được xác định dựa trên giá ngày hôm nay, triển vọng thu hoạch theo mùa vụ, các thay đổi thời tiết dự đoán trước, bối cảnh chính trị và hàng chục các yếu tố khác mà thị trường có thể tạo ra. Sự biến động trong giá tiền mặt cung cấp những đấu mối để người tiêu dùng dự đoán mức giá họ sẽ phải trả trên thị trường cho những sản phẩm được tạo ra từ vật liệu thô.

Forecast Error / Sai Số Dự Đoán

Chênh lệch giữa giá trị dự đoán của một biến thu được bằng các phương pháp dự đoán kết qủa từ thực tế.

Fordism / Học Thuyết Fordism

Học thuyết Fordism được đặt theo tên của Henry Ford - người sáng lập ra tập đoàn Ford - nhằm chỉ nhiều học thuyết xã hội liên qua. Thuật ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau ở từng nước. Ở Mỹ, Fordism là một triết lí kinh tế phát biểu rằng sự thịnh vượng và lợi nhuận cao của doanh nghiệp có thể đạt được bằng cách trả lương cao và cho phép người làm việc có thể mua những gì mình sản xuất ra, ví dụ như ôtô. Ở Châu Âu, Fordism theo sau học thuyết Quản lí khoa học của Taylor, một phương pháp kỉ luật lao động và tổ chức nơi làm việc dựa trên những nghiên cứu giả định về hiệu quả của con người và hệ thống khích lệ tinh thần. Học thuyết này rất được ủng hộ ở Đức và Italia. Sau năm 1918, Châu Âu chuyển sang yêu thích học thuyết của Ford, đó là tổ chức lại toàn bộ quá trình sản xuất bằng cách thay thế dây chuyền sản xuất, tiêu chuẩn hóa, và thị trường lớn. Ở Xô Viết, theo nhà sử học Thomas Hughes, vào những năm 1920, và 1930 nước này đã rất háo hức áp dụng học thuyết Fordism và Taylorism, thuê các chuyên gia của Mỹ và các kĩ sư của Mỹ để xây dựng các bộ phận cho cơ sở hạ tầng công nghiệp hóa của mình. Kế hoạch 5 năm  và nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung có thể được lần theo dấu vết trực tiếp tới sự ảnh hưởng của học thuyết Fordism tới lối suy nghĩ của Xô-viết. Fordism còn được sử dụng trong Chủ nghĩa Macxit ở Phương Tây gọi là "hình thức sản xuất" hoặc "mô hình sản xuất," những mô hình này trải rộng từ Mỹ sang Tây Âu sau 1945. Học thuyết này phát biểu rằng việc sản xuất hàng loạt và ổn định chính sách kinh tế là những thứ tạo nguồn cung và ổn định xã hội bằng việc trả lương cao, và nó còn bao gồm nhiều chính sách kinh tế khác. Nghĩa khác: Fordism còn được miêu tả bằng cụm "chăm sóc công nhân" bằng việc tạo ra phúc lợi hoặc nghiêm cấm hoặc hạn chế công nhân (như hút thuốc chẳng hạn). Ngoài ra Fordism còn được hiểu là "năng suất lao động cao cho phép tăng lương, sản xuất hàng loạt cho phép lượng tiêu thụ lớn." Thế giới sản xuất ngày nay được ảnh hưởng bởi học thuyết hậu Ford (post-fordism).

Forced Saving / Tiết Kiệm Bắt Buộc

Một dạng tiết kiệm phát sinh do người tiêu dùng không có khả năng tiêu tiền của mình vào những hàng tiêu dùng mà mình muốn, đơn thuần là vì những hàng hoá này không có.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55