Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Free Trade Area (FTA) / Khu Vực Mậu Dịch Tự Do

Khu vực mậu dịch tự do là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong trong đó các nước thành viên thỏa thuận với nhau về việc giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp hạn chế về số lượng, tiến tới hình thành một thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên các nước thành viên vẫn giữ được quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khu vực. Nói cách khác, những thành viên của FTA có thể duy trì những thuế quan riêng và những hàng rào thương mại khác đối với thế giới bên ngoài. Một số khu vực mậu dịch tự do trên thế giới là: NAFTA - North American Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do các nước Bắc Mỹ được thành lập theo hiệp định ký kết ngày 12/8/1992 bao gồm 3 nước Mỹ, Canada và Mehico. Năm 1993, hiệp định NAFTA  được quốc hội 3 nước thông qua gồm 5 chương trình và 20 điều khoản, chủ trương dần tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan giữa 3 nước trong vòng 15 năm, gạt bỏ mọi trở ngại trong các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ và đầu tư, cho phép công dân các nước thành viên được tự do đi lại, mở ngân hàng, thị trường chứng khoán, công ty bảo hiểm... Khác với EU, NAFTA chỉ mở rộng cửa buôn bán giữa các nước thành viên bằng cách từ từ bãi bỏ hàng rào thuế quan chứ không tiến tới xóa bỏ biên giới quốc gia và không xây dựng một thị trường thống nhất về tiền tệ. AFTA (viết tắt của ASEAN Free Trade Area) -  Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN, là một thoả thuận thương mại giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á. Quyết định thành lập AFTA được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4, tổ chức vào tháng 1/1992 tại Singapore. Mục tiêu của AFTA là tự do hóa thương mại trong các nước ASEAN thông qua việc giảm đến mức tối thiểu các biểu thuế trong khu vực và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực và khuyến khích các ngành kinh tế ASEAN có một định hướng rộng hơn và mang tính thị trường khu vực hơn cho các nền kinh tế trong lĩnh vực sản xuất và thị trường.

Free Trade Area / Khu Vực Mậu Dịch Tự Do

Khu vực mậu dịch tự do là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong trong đó các nước thành viên thỏa thuận với nhau về việc giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp hạn chế về số lượng, tiến tới hình thành một thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên các nước thành viên vẫn giữ được quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khu vực. Nói cách khác, những thành viên của FTA có thể duy trì những thuế quan riêng và những hàng rào thương mại khác đối với thế giới bên ngoài. Một số khu vực mậu dịch tự do trên thế giới là: NAFTA - North American Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do các nước Bắc Mỹ được thành lập theo hiệp định ký kết ngày 12/8/1992 bao gồm 3 nước Mỹ, Canada và Mehico. Năm 1993, hiệp định NAFTA  được quốc hội 3 nước thông qua gồm 5 chương trình và 20 điều khoản, chủ trương dần tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan giữa 3 nước trong vòng 15 năm, gạt bỏ mọi trở ngại trong các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ và đầu tư, cho phép công dân các nước thành viên được tự do đi lại, mở ngân hàng, thị trường chứng khoán, công ty bảo hiểm... Khác với EU, NAFTA chỉ mở rộng cửa buôn bán giữa các nước thành viên bằng cách từ từ bãi bỏ hàng rào thuế quan chứ không tiến tới xóa bỏ biên giới quốc gia và không xây dựng một thị trường thống nhất về tiền tệ. AFTA (viết tắt của ASEAN Free Trade Area) -  Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN, là một thoả thuận thương mại giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á. Quyết định thành lập AFTA được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4, tổ chức vào tháng 1/1992 tại Singapore. Mục tiêu của AFTA là tự do hóa thương mại trong các nước ASEAN thông qua việc giảm đến mức tối thiểu các biểu thuế trong khu vực và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực và khuyến khích các ngành kinh tế ASEAN có một định hướng rộng hơn và mang tính thị trường khu vực hơn cho các nền kinh tế trong lĩnh vực sản xuất và thị trường.

Khu Vực Mậu Dịch Tự Do (Free Trade Area) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Khu Vực Mậu Dịch Tự Do (Free Trade Area) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Free Trade / Thương Mại Tự Do

Chính sách không can thiệp của chính phủ trong thương mại giữa các nước ở những nước mà thương mại diễn ra theo PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG quốc tế và lý thuyết LỢI THẾ SO SÁNH.

Free Rider / Người Xài Chùa; Người Ăn Không

Một hiện tượng nảy sinh từ đặc điểm của HÀNG HOÁ CÔNG CỘNG.

Free Reserves / Dự Trữ Tự Do

Các quỹ có ở ngân hàng để cho vay hoặc đầu tư, được xem như chỉ số tín dụng ngân hàng. Dự trữ vượt mức là khoản tiền còn lại sau khi dự trữ bó buộc bị trừ từ số dự trữ Liên bang được gửi ở Ngân hàng Dự trữ liên bang

Các quỹ có ở ngân hàng để cho vay hoặc đầu tư, được xem như chỉ số tín dụng ngân hàng. Dự trữ vượt mức là khoản tiền còn lại sau khi dự trữ bó buộc được trừ từ số dự trữ tiền gởi Ngân hàng dự trữ liên bang. Tổng dự trữ tự do được tính bằng cách lấy dự trữ vượt mức của ngân hàng (hoặc số dư tài khoản dự trữ trên mức dự trữ) trừ đi mọi khoản tiền vay từ Dự trữ Liên bang.

Free Market / Thị Trường Tự Do

Thị trường không có sự can thiệp của chính phủ và tại đó các tác nhân cung và cầu được phép hoạt động tự do.

Thị Trường Tự Do (Free Market) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thị Trường Tự Do (Free Market) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Free Convertible Currency / Tiền Tệ Tự Do Chuyển Đổi

Tiền tệ tự do chuyển đổi là những tiền tệ mà luật tiền tệ của nước hoặc khối kinh tế có tiền tệ đó cho phép bất cứ ai có thu nhập tiền tệ này đều có quyền yêu cầu Ngân hàng nước đó chuyển đổi tự do tiền tệ này ra các tiền tệ nước khác mà không cần phải có giấy phép. Có hai loại tiền tệ tự do chuyển đổi: tự do chuyển đổi toàn bộ và tự do chuyển đổi một phần. Tiền tệ tự do chuyển đổi toàn bộ có thể chuyển đổi ra bất cứ loại tiền quốc gia nào mà không cần phải thỏa mãn một điều kiện nào, ví dụ như USD của Mỹ, EURO của châu Âu, GBP của Anh, JPY của Nhật Bản, AUD của Australia, CHF của Thụy Sĩ, CAD của Canada. Hầu hết đó đều là các đồng tiền mạnh của các nền kinh tế phát triển và ổn định. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thường quy định đồng tiền thanh toán là tiền tự do chuyển đổi để tránh rủi ro đồng tiền xuống giá và linh hoạt đổi ra bất cứ tiền nước nào nếu người xuất khẩu muốn. Với tiền tệ tự do chuyển đổi một phần, việc chuyển đổi của nó phụ thuộc vào một trong 3 yếu tố sau: -Chủ thể chuyển đổi: có hai loại chủ thể chuyển đổi được luật quản lý ngoại hối của các quốc gia phân loại là người cư trú và người phi cư trú. Người cư trú phải có được giấy phép chuyển đổi thì mới đổi được tiền tệ đang nắm giữ, còn người phi cư trú được quyền chuyển đổi tự do -Mức độ chuyển đổi: từ hạng mức nào đó do luật quy định trở lên, muốn chuyển đổi thì phải có giấy phép chuyển đổi ngoại tệ, dưới hạng mức đó thì được tự do chuyển đổi -Nguồn thu nhập tiền tệ: các nguồn thu nhập bằng tiền của những người phi cư trú từ hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ quốc tế, từ hoạt động đầu tư nước ngoài...tại nước có tiền tệ đó sẽ được chuyển đổi tự do, còn các nguồn thu nhập khác phi thương mại, phi đầu tư muốn chuyển đổi phải có giấy phép. Ví dụ những tiền tệ chuyển đổi tự do một phần là PHP- Peso Philippines, TWD- Đô la Đài Loan, THB- Bạt Thái Lan, KRW- Won Hàn Quốc, IDR- Rupiad Indonesia, EGP- Pound Ai Cập...

Free Cash Flow Per Share / Dòng Tiền Mặt Tự Do Trên Một Cổ Phiếu

Dòng tiền mặt tự do trên một cổ phiếu = Dòng tiền mặt tự do : số cổ phiếu đang lưu hành Phép đo này cho phép dự đoán khả năng trả nợ, trả cổ tức, mua lại cổ phần và tạo điều kiện tốt cho sự mở rộng của doanh nghiệp. Dòng tiền mặt tự do trên một cổ phiếu có thể được sử dụng để đưa ra các dự đoán ban đầu về giá cổ phiếu trong tương lai. Ví dụ, khi giá cổ phiếu của một doanh nghiệp là thấp và dòng tiền mặt tự do lại đang tăng lên; dòng tiền trên một cổ phiếu cao có nghĩa rằng thu nhập trên một cổ phiếu cũng có tiềm năng tăng lên và như vậy giá cổ phiếu sẽ tăng lên.

Free Cash Flow / Dòng Tiền Tự Do

Dòng tiền tự do là thước đo hoạt động của doanh nghiệp được tính toán bằng hiệu số giữa dòng tiền hoạt động và chi tiêu vốn. Nói cách khác, dòng tiền tự do đại diện cho lượng tiền mặt là doanh nghiệp có thể tạo ra sau khi để lại một phần để duy trì hoặc mở rộng các tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Sở dĩ khái niệm dòng tiền tự do quan trọng là bởi vì nó cho phép doanh nghiệp có thể theo đuổi các cơ hội đầu tư nhằm tối đa hóa giá trị cho các cổ đông. Nếu không có tiền mặt thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển sản phẩm mới, thực hiện các vụ mua lại, chi trả cổ tức và trả nợ. Dòng tiền tự do được tính toán như sau: Thu nhập ròng + khấu hao – thay đổi trong vốn lưu động – chi tiêu vốn = dòng tiền tự do Dòng tiền tự do cũng có thể được tính toán một cách đơn giản bằng dòng tiền hoạt động trừ đi chi tiêu vốn. Một số nhà đầu tư lại quá xem trọng con số về thu nhập mà lại dường như quên đi con số về dòng tiền mặt thực sự mà doanh nghiệp có thể tạo ra. Thu nhập có thể bị "bóp méo" bởi các chuẩn mực về thực hành kế toán nhưng dòng tiền thì khó bị bóp méo hơn. Chính vì thế nhiều nhà đầu tư tin tưởng rằng dòng tiền tự do có thể cho thấy một viễn cảnh rõ ràng hơn về khả năng tạo ra tiền mặt và dĩ nhiên là từ đó tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Cũng cần phải nhớ rằng nếu doanh nghiệp có dòng tiền tự do âm không hòan tòan có nghĩa là doanh nghiệp ấy không tốt. Lý do có thể vì doanh nghiệp đã chi tiêu cho đầu tư quá nhiều. Nếu các khoản đầu tư là tiềm năng, thì bạn có thể thấy ngay sau những năm dòng tiền tự do bị âm (-) là những năm có dòng tiền dương (+) vô cùng mạnh mẽ.

Franked Investment Income / Thu Nhập Đầu Tư Được Miễn Thuế

Nhìn chung là để chỉ thu nhập đã chịu thuế công ty và vì vậy không là đối tượng để tính thuế công ty nữa, thu nhập này là thuộc về công ty nhận nó.

Franchise - Franchising / Nhượng Quyền Thương Mại

Franchising được định nghĩa là sự liên kết hợp đồng giữa phía chuyển giao (nhà sản xuất hoặc tổ chức dịch vụ) với người nhận chuyển giao (người kinh doanh độc lập). Người chuyển giao cho mượn thương hiệu và hệ thống kinh doanh bao gồm tất cả các cách thức quản lý. Còn người nhận chuyển giao chi trả tiền bản quyền thuê thương hiệu và tiền phí để được kinh doanh với tên và hệ thống của nhà chuyển giao.Hoạt động nhượng quyền kinh doanh (franchising) được coi là khởi nguồn tại Mỹ, vào giữa thế ký 19, lần đầu tiên trên thế giới, nhà sản xuất máy khâu Singer ký cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Hiện nay, hoạt động nhượng quyền đã có mặt tại 160 nước trên thế giới với tổng doanh thu lên tới 18,3 tỷ USD năm 2000. Hoạt động nhượng quyền kinh doanh đang phát triển rất nhanh tại Việt Nam. Khởi đầu từ những năm 1990, với sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các hoạt động đó đã có doanh số 1,5 triệu USD vào năm 1996, trên 4 triệu USD vào năm 1998, và từ đó đến nay liên tục phát triển với tốc độ tăng trưởng dự báo 15-20%/năm.Các hệ thống nhượng quyền kinh doanh toàn cầu như: Kentucky, Burger Khan, Five Star Chicken, Jollibee, Carvel, Baskin Robbins, Texas Chicken, Kentucky Fried Chicken, Hard Rock Cafộ, Chili's, đã đầu tư vào Việt Nam sau khi thành công tại các thị trường lân cận như: Nhật Bản, Indonexia, Đài loan, Trung quốc, Thái lan, Philippin. Các hệ thống khác như Dunkin Donuts and McDonald's hiện đã kết thúc giai đoạn nghiên cứu thị trường. Cùng với sự đầu tư vào Việt Nam của các hệ thống toàn cầu, các hệ thống nhượng quyền kinh doanh của Việt nam cũng đã được hình thành và phát triển như: Cà phê Trung nguyên, Qualitea, Phở 24, công ty bánh kẹo Kinh Đô... Đặc biệt, Cà phê Trung Nguyên đã xây dựng được một hệ thống kinh doanh trên toàn bộ Việt Nam và đang mở rộng ra nước ngoài.Để phát triển một thương hiệu nhượng quyền hay kinh doanh nhượng quyền có thể nói là khá phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố hơn so với các mô hình kinh doanh khác. Điều quan trọng của phương thức kinh doanh này nằm ở 5 nhân tố được xem là chìa khóa của sự thành công: Bản sắc thương hiệu: là giá trị cốt lõi và đặc trưng của thương hiệu, là dấu ấn tồn tại trong tâm trí khách hàng một cách sâu đậm nhất và tạo nên khác biệt so với các thương hiệu khác. Có thể nói, giá trị lớn nhất của hợp đồng thương hiệu nhượng quyền nằm ở việc chuyển tải bản sắc này đến người được nhượng quyền như là một lợi thế cạnh tranh ưu việt giúp họ xây dựng công việc kinh doanh một cách nhanh chóng nhất. Nhưng những thương hiệu nhượng quyền rất khó bảo vệ giá trị này vì nó phụ thuộc vào người được nhượng quyền có giữ được tính toàn vẹn của hình ảnh thương hiệu ở mức nhất định hay không. Hệ thống nhượng quyền càng lớn, họ càng dễ mất quyền kiểm soát nếu bản sắc thương hiệu không được củng cố và bảo vệ.  Vị trí: Có 3 yếu tố cực kì quan trọng trong việc nhượng quyền thương hiệu ở các lĩnh vực thời trang, ăn uống và giải trí. Yếu tố thứ nhất là địa điểm, thứ hai là địa điểm và thứ ba cũng là địa điểm. McDonalds là chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh sử dụng hệ thống nhượng quyền thành công nhất trên thế giới, nhưng nhìều người không biết rằng nguyên tắc kinh doanh của họ là bên cạnh việc tập trung vào thức ăn nhanh còn tập trung vào bất động sản. Những vị trí đặt cửa hàng McDonalds phải là những vị trí hai mặt tiền nằm ngay trung tâm của khu phố, và có mật độ dòng người qua lại cao nhất . Phở 24 cũng rất kén chọn trong việc đặt vị trí và chỉ nằm ở những con đường có đông khách nước ngòai. Đối với các cửa hàng kinh doanh nhượng quyền như vậy thì địa điểm là đòi hỏi khó khăn nhất trong việc lựa chọn người được nhượng quyền. Nếu bạn có địa điểm tốt nghĩa là bạn đã có 50% cơ hội thành công.Nỗ lực tiếp thị: Những thương hiệu nhượng quyền phần lớn có ngân sách tiếp thị giành riêng cho mình. Nhiều mô hình nhượng quyền đòi hỏi những qui luật tiếp thị khá đặc biêt và có sự kết hợp giữa người nhượng quyền và người được nhượng quyền. Tùy thuộc vào loại hình kinh doanh được chọn, bạn có thể lựa chọn phương thức tiếp thị và quảng cáo phù hợp nhất. Starbucks thành công với việc biến mỗi nhân viên của mình bất kể vị trí nào phải là một chuyên gia tiếp thị cừ khôi để mọi nơi mọi lúc có thể tư vấn, có thể tiếp thị trực tiếp cho thương hiệu của Starbucks.  Chiến lược dài hạn: Thông thường việc nhượng quyền sẽ giúp bạn rút ngắn được thời gian chuẩn bị những cơ sở ban đầu, nhưng không có nghĩa là bạn không phải xây dựng một chiến lược dài hạn. Một đại lý nhượng quyền cũng cần khoảng 2 đến 3 năm trước khi thấy được lợi nhuận, và nếu bạn không có kế hoạch đầy đủ thì bạn sẽ bị nuốt chửng trước khi có cơ hội thành công. Quản lý con người: Một lời khuyên chân thành là nếu bạn thiếu kĩ năng làm việc và tương tác với con người, bạn không nên lựa chọn phương thức nhượng quyền. Nhưng nếu bạn thật sự xem đây là con đường đưa bạn đến thành công, bạn phải nỗ lực hết mình và làm việc với tất cả đam mê. Và chỉ có đam mê bạn mới có thể truyền cảm hứng cho công việc và cho người khác. Hơn nữa, là một người chủ nhượng quyền hay người sử dụng thương hiệu nhượng quyền, bạn cần phải tương tác với tất cả mọi người ở xung quanh  liên quan đến hoạt động kinh doanh của bạn. Khả năng quản lý con người rất cần thiết trong công cuộc kinh doanh, và càng quan trọng hơn trong lĩnh vực nhượng quyền đòi hỏi sự hợp tác và tin cậy lẫn nhau của các thành viên tham gia. Vấn đề quản lý con người sẽ đem lại nội lực cho thương hiệu của bạn trước khi bạn bắt đầu phát triển nó thành một hệ thống. Việc kí kết hợp đồng nhượng quyền chỉ mới là bước đầu, không phải là kết thúc của mối quan hệ.5 nhân tố trên sẽ là nền tảng giúp bạn và thương hiệu của bạn phát triển một cách vững chắc, là nền móng giúp bạn mở rộng hệ thống kinh doanh của mình theo mô hình nhượng quyền cũng như lựa chọn thương hiệu phù hợp nếu bạn muốn tự mình kinh doanh. Việc phát triển những nhân tố này thành những qui tắc và những cam kết hoạt động sẽ giúp bạn quản lý một cách toàn diện hệ thống nhượng quyền của mình. Và theo David McKinnon, CEO của Molly Maid, đã nhận xét: “Chúng ta không chỉ thực hiện hệ thống của Molly Maid, mà chúng ta còn tạo ra những nhân tố giúp cho việc phát triển hệ thống đó. Nó không phải được lập ra để trừng phạt, mà nó được lập ra để bảo vệ thương hiệu và hỗ trợ người sử dụng chúng tuân theo và phát triển hệ thống”.

Fractional Reserve Banking / Ngân Hàng Dự Trữ Theo Tỷ Lệ

Đây là hoạt động mà các ngân hàng thương mại thực hiện để duy trì dự trữ các tài sản có khả năng hoán đổi ở một mức độ nào đó, thường là mức thấp trong tổng danh mục tài sản của họ. Mục đích của dự trữ này là nhằm đáp ứng những dao động không thấy trước được của việc giảm sút tiền gửi do việc rút hay chuyển tiền (bằng séc) cho các ngân hàng khác. Khi tính dưới dạng tỷ lệ tổng số tiền gửi như thường lệ thì phân số này gọi là tỷ lệ dự trữ. Mức chung của tỷ số này có thể được xác định thông qua việc xem xét dựa trên cơ sở kinh nghiệm và thường được thay đổi tùy theo dự đoán và sự hấp dẫn của các tái sản khác. Nhưng trong hầu hết các hệ thống hiện đại, các tỷ số dự trữ này phải đạt ở mức tối thiểu hợp pháp do ngân hàng trung ương quy định nhằm phục vụ chính sách tiền tệ và tín dụng. Trong lý thuyết về sự hình thành tín dụng của ngân hàng, hoạt động ngân hàng bằng cách dự trữ theo tỷ lệ là điều kiện cần thiết của việc tạo ra tín dụng và tiền gửi ngân hàng của hệ thống ngân hàng và tỷ số này là yếu tố quyết định quy mô tín dụng và số nhân tiền.

Fourier Analysis / Phân Tích Fourier

Một phương pháp có thể chuyển số liệu CHUỖI THỜI GIAN thành khoảng tần số.

Foundation Grant / Trợ Cấp Cơ Bản

Một dạng trợ cấp giữa các chính quyền được sử dụng rộng rãi ở Mỹ nhằm mục đích san bằng chi phí đối với từng cộng đồng địa phương (về phương diện thuế suất đặt ra cho từng địa phương) trong việc cung cấp một mức dịch vụ công cộng tối thiểu.

Forwards And Futures Markets / Thị Trường Kỳ Hạn Và Giao Sau Tiền Tệ

Không giống như thị trường giao ngay, thị trường kỳ hạn và giao sau không giao dịch tiền tệ thật sự, thay vào đó, họ giao dịch các hợp đồng mà đại diện cho các quyền sở hữu đối với một loại tiền tệ xác định ở một mức giá xác định trên mỗi đơn vị tiền tệ và một ngày thanh toán xác định trong tương lai.Trong thị trường kỳ hạn, các hợp đồng được mua và bán trên OTC giữa 2 chủ thể, chính họ sẽ quyết định kỳ hạn của các hợp đồng.Trong thị trường giao sau, các hợp đồng giao sau được mua bán dựa trên sự chuẩn hóa kích cỡ và ngày thanh toán trên thị trường hàng hóa chung, ví dụ như Sàn giao dịch hàng hóa Chicago CME. Ở Mỹ, hiệp hội giao sau Quốc gia đưa ra các quy định cho thị trường giao sau. Hợp đồng giao sau có các chi tiết cụ thể rõ ràng, bao gốm cả tổng số đơn vị hàng hóa được giao dịch, ngày giao hàng và ngày thanh toán, và các mức tăng giá tối thiểu cũng không được làm theo yêu cầu riêng của các chủ thể tham gia hợp đồng. Sàn giao dịch có chức năng giống như một đối tác cho các nhà giao dịch, cung cấp.Cả hai loại hợp đồng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thường được thanh toán bằng tiền mặt cho các giao dịch trong khi đáo hạn mặc dù các hợp đồng cũng có thể được mua bán trước khi chúng đến hạn. Các thị trường kỳ hạn và giao sau có thể cung cấp sự bảo vệ chống lại rủi ro khi giao dịch tiền tệ. Thường thì các công ty đa quốc gia đế sử dụng các thị trường này để phòng ngừa rủi ro đối với các biến động tỷ giá trong tương lai, nhưng các nhà đầu cơ cũng tham gia thị trường.

Forward rate agreement (FRA) / Hợp đồng lãi suất tương lai

Hợp đồng hai bên đồng ý lãi suất sẽ trả được vào một ngày thanh toán trong tương lai. Ví dụ, kì hạn hợp đồng được nêu là sáu tháng so với chín tháng, lãi suất cho kỳ hạn ba tháng được bắt đầu trong kì hạn sáu tháng. Số tiền vốn được thỏa thuận, nhưng không bao giờ được trao đổi, và hợp đồng được tra bằng tiền mặt; rủi ro được giới hạn vào sự chênh lệch giữa lãi suất thỏa thuận, và lãi suất thực tế thanh toán.

Forward Rate / Tỷ Giá Hối Đoái Định Trước; Tỷ Giá Hối Đoái Kỳ Hạn

Tỷ giá hối đoái theo đó một đồng tiền có thể được mua hay bán để được giao trong tương lai trên thị trường kỳ hạn.

Forward Price / Giá Giao Sau

Ngược lại với Giá giao ngay, Giá giao sau có công thức tính F = St* exp[(T-t)*r]- dựa trên mức giá hiện tại, lãi suất,... nhằm không để xảy ra tình trạng cơ lợi. Trong đó, từng ký hiệu được lý giải như sau: F: giá thực hiện trong tương lai tại thời điểm T St: giá giao ngay T: thời gian đáo hạn t: thời điểm hiện tại r: lãi suất Kết luận: Giá giao sau là giá của tài sản được ghi trong các hợp đồng tương lai. Đây sẽ là mức giá được thực hiện khi đáo hạn hợp đồng.

Forward P/E / PE Dự Tính

Forward P/E được tính bằng công thức: PE dự tính = Giá thị trường của cổ phiếu : EPS kì vọng Mức thu nhập được sử dụng là mức đự tính và không đáng tin cậy bằng các số liệu về mức thu nhập hiện tại. Tuy nhiên PE dự tính vẫn có lợi trong việc phân tích. Mức thu nhập dự tính được sử dụng trong công thức có thể được sử dụng trong 12 tháng tiếp theo hoặc cho cả năm tài chính. PE dự tính của một công ty thường được sử dụng để so sánh thu nhập hiện tại với thu nhập trong tương lai. Nếu thu nhập được kì vọng sẽ tăng trong tương lai, PE dự tính sẽ thấp hơn PE hiện tại. Chỉ số này cũng giúp so sánh một công ty với một công ty khác trong tương lai.

Forward Market / Thị trường kì hạn

Thị trường mà hãng giao dịch đồng ý giao tiền, hàng hóa hoặc công cụ tài chính với mức giá cố định vào một ngày cụ thể trong tương lai. Hầu hết những hợp đồng tương lai đều thực hiện một giao vào một ngày cụ thể trong tương lai, ví dụ, một tuần từ ngày giao dịch, một tháng.. Những hợp đồng với kì hạn dài có bản chất đầu cơ và rủi ro đáng kể.   Xem ROLLOVER; SPOT NEXT; TOMRROW NEXT.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55