Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Futures Trading Cost / Chi Phí Giao Dịch Futures

Những người giao dịch trên sở giao dịch thường tính phí hoa hồng cho khách hàng khi thực hiện lệnh của khách hàng đó. Không giống như phí hoa hồng khi giao dịch cổ phiếu, tính một lần phí khi bán và một lần phí khi mua, người môi giới giao dịch futures thường chỉ tính một lần phí, gọi là phí giao dịch future (thường gọi là round-turn commision) để mở và đóng một trạng thái giao dịch (position). Phí hoa hồng và các loại phí khác trong giao dịch này thường cao hơn trong giao dịch cổ phiếu, thường là bằng hoặc hơn 18% chi phí giao dịch, thay vì bằng hoặc ít hơn 2% như trong giao dịch cổ phiếu.

Futures Trading / Giao Dịch Giao Sau

Các hợp đồng giao sau thường được mua khi nhà đầu tư kỳ vọng giá của tài sản cơ sở sẽ gia tăng. Điều này được biết đến là họ đang ở vị thế mua. Bởi vì họ mua nghĩa vụ phải mua hàng hóa với mức giá hiện tại, nhà nắm giữ hợp đồng giao sau sẽ được lợi khi giá tăng lên, cho phép họ bán hợp đồng giao sau để kiếm lời hoặc nhận hàng hóa trong tương lai với mức giá thấp hơn.Ngược lại với vị thế mua là vị thế bán. Trong trường hợp này, người nắm giữ hợp đồng giao sau mua nghĩa vụ phải bán hàng hóa cở sở tại mức giá hiện tại. Họ sẽ kiếm được lợi nếu giá giảm trước ngày đáo hạn trong tương lai.Các nhà phòng ngừa rủi ro giao dịch hợp đồng giao sau với mục đích giữ mức rủi ro giá cả trong khả năng kiểm soát. Bởi vì giá của một giao dịch trong tương lai có thể được thiết lập ngay thời điểm hiện tại, do đó có thể tránh đượ các biến động trong thời gian chuyển tiếp. Nếu giá tăng lên, người nắm giữ hợp đồng giao sau sẽ mua với một mức giá chiết khấu. Nếu giá giảm xuống, họ sẽ bỏ lỡ việc mua với một mức giá thấp hơn. Phòng ngừa rủi ro với các hợp đồng giao sau thậm chí có thể được sử dụng để bảo vệ chống lại các điều chỉnh lãi suất không mong muốn.Trong khi các nhà phòng ngừa rủi ro cố gắng để tránh rủi ro, các nhà đầu cơ lại tìm kiếm nó với hy vọng để kiếm được lời từ các biến động giá. Các nhà đầu cơ chỉ thuần túy giao dịch cho mục đích kiếm lợi và không hề có ý muốn nhận hàng hóa thực sự. Cũng giống như quyền chọn, các hợp đồng giao sau có thể cũng được sử dụng để tạo ra các khoảng chênh lệch mà từ đó có thể kiếm được lợi nhuận do các biến động giá.Các tài khoản được sử dụng để thực hiện giao dịch giao sau phải được thanh toán với các khoản ký quỹ và việc thanh toán được thực hiện cơ bản mỗi ngày. Các khoản lỗ hoặc lời trong ngày sẽ được trừ ra hoặc cộng vào trong tài khoản ký quỹ. Khi các tài khoản ký quỹ giảm xuống dưới một mức nào đó thì bên tham gia được yêu cầu phải ký quỹ bổ sung.

Futures Option / Quyền Chọn Giao Sau

Một quyền chọn giao sau là một quyền chọn trên một hợp đồng giao sau. Quyền chọn giao sau thường có ở cả hai loại giao sau hàng hóa như hợp đồng lúa mì và hợp đồng cà phê, và giao sau tài chính như hợp đồng giao sau đồng Yên và hợp đồng giao sau chỉ số S&P 500. Sự khác nhau cơ bản giữa quyền chọn giao sau và một quyền chọn trên tài sản cơ sở của một hợp đồng giao sau chính là ở sự thuận tiện trong giao hàng. Một hợp đồng giao sau 1000 thùng dầu thì dễ dàng giao nhận hơn là giao nhận bản thân dầu (oil itself). Trong khi thực hiện quyền chọn giao sau, hợp đồng giao sau được giao thường sẽ đóng vị thế ngay lập tức. Bởi vậy, quyền chọn giao sau được thanh toán toàn bộ bằng tiền mặt.Thanh toán tiền mặt của quyền chọn giao sau thường hấp dẫn các nhà đầu tư với số vốn không đủ để mua tài sản cơ sở. Chính sự liên hệ chặt chẽ giữa thị trường giao sau và thị trường quyền chọn giao sau đã tạo điều kiện cho các hoạt động đầu cơ, phòng ngừa rủi rovà kinh doanh chênh lệch, làm cho các thị trường trở nên hiệu quả hơn. Fisher Black đã phát triển một mô hình định giá quyền chọn giao sau vào năm 1976.

Futures Market / Thị Trường Hợp Đồng Futures

Thị trường hợp đồng futures là thị trường hàng hoá nơi hợp đồng futures được bán mua. Mỗi thị trường mua bán khác nhau những loại hợp đồng cá biệt. Các thị trường chính là Amex Commodity Exchange, The Commodity Exchange Inc (Comex), the New York Coffee, Sugar and Cocoa Exchange, The New York Cotton Exchange, The New York Mercantile Exchange và New York Futures Exchange tất cả ở New York, The Chicago Board of Trade, The International Monetary Market, the Chicago Mercantile Exchange, The Chicago Rice and Cotton Exchange và Mid America Commodity Exchange of Trade, tại thành phố Kansas, Mo ; và Minneapolis Grain Exchange tại Minneapolis.

Futures Exchange/Commodites Exchange / Thị Trường Giao Dịch Hợp Đồng Tương Lai

1. Futures Exchanges: Là sàn giao dịch cho các giao dịch Tương lai cả về hàng hoá là công cụ Tài chính lẫn hàng hoá thông thường. Là thị trường hàng hoá nơi mà các hợp đồng tương lai về các công cụ tài chính hoặc hàng hoá thông thường (Bột mỳ, đậu tương, cà phê,...) được mua và bán. Các thông tin về chỉ số cổ phiếu, trái phiếu và hợp đồng quyền chọn cũng được giao dịch và niêm yết trên thị trường này. Các thị trường Giao dịch hợp đồng Tương lai trên thế giới bao gồm: Chicago Board of Trade; Chicago Mercantile Exchange/International Monetary Market(Thị trường tiền tệ Quốc tế); Commodity Exchange Inc., New York (Công ty giao dịch Chứng khoán New York); Mid-America Commodity Exchange Inc., Chicago (Công ty giao dịch Chứng khoán Trung Mỹ, Chicago); New York Futures Exchange (Thị trường giao dịch Trương lai New York); Sydney Futures Exchange, Sydney, Australia (Thị trường giao dịch Tương lai Sydney); the International Futures Exchange (Bermuda) Ltd.; Financial Futures Market, Montreal Stock Exchange, Montreal, Quebec (Thị trường giao dịch Chứng khoán Montreal); Toronto Stock Exchange Futures Market (Thị trường giao dịch Chứng khoán tương lai Toronto); Winnipeg Commodity Exchange; London International Futures Exchange (Thị trường giao dịch Tương lai Quốc tế London); London Metal Exchange; Hong Kong Commodity Exchange; the Gold Exchange of Singapore; and the Tokyo International Financial Futures Exchange (Thị trường giao dịch Tương lai Quốc tế Tokyo). 2. Futures market: Chỉ là nơi giao dịch hợp đồng Tương lai về hàng hóa thông thường. Là thị trường giao dịch hàng hoá nơi mà các hợp đồng tương lai với mục đích cung cấp ngũ cốc, thực phẩm, và các kim loại quý hiếm được mua và bán.  Hoạt động Đầu cơ trên thị trường tương lai nhằm bảo vệ nhằm bảo vệ các bên tham gia giao dịch trong điều kiện bất lợi hoặc biến động về giá. Thị trường Tương lai của Mỹ bao gồm Trái phiếu Kho bạc, các khoản thuê mua được bảo đảm của Chính phủ, vì vậy tạo điều kiện cho đầu cơ về tỷ lệ lãi suất trong tương lai. 3. Corporation: Là tên của một loại hình công ty. Futures exchange còn là một tập đoàn hoặc tổ chức chuyên cung cấp thị trường cho các giao dịch Phái sinh như Hợp đồng Tương lai và Hợp đồng Quyền chọn. Còn được biết đến với cái tên Commodities Exchange. Các hợp đồng được giao dịch hàng ngày đối với các sản phẩm như cổ phần, trái phiếu, lãi suất ngắn hạn, ngũ cốc, tiền tệ.

Futures Exchange / Các Sở Giao Dịch Futures

Hợp đồng futures được giao dịch trên các sở giao dịch tạo ra các thị trường giao dịch tất cả mọi sản phẩm từ dạ dày lợn đến chỉ số cổ phiếu. Các hợp đồng futures giao dịch từ các hàng hoá vật tư sản xuất tới các sản phẩm tài chính thường được giao dịch trên chín sở giao dịch futures tại Mỹ và một số sở giao dịch futures khác ở Châu Âu, Châu Á, và trong hàng trăm các giao dịch tư nhân hoặc giao dịch qua quầy do các ngân hàng, công ty môi giới và các tổ chức tài chính khác bố trí cho khách hàng cụ thể nào đó của họ. Rõ ràng là các hợp đồng giao dịch trên sở giao dịch chỉ được giao dịch trên thị trường nào phát hành hợp đồng đó và hấp dẫn cả những nhà đầu tư đơn lẻ lẫn các nhà đầu tư có tổ chức. Mặt khác, các hợp đồng tư nhân hầu như thường là những dàn xếp thương mại.

Futures Contract / Hợp Đồng Tương Lai, hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng thương lượng để nhận hoặc giao với mức giá thỏa thuận, số lượng hàng hóa hoăc công cụ tài chính tiêu chuẩn hóa trong vòng 1 tháng nào đó, theo kỳ hạn và điều kiện được thiết lập bởi thị trường giao dịch kỳ hạn, quy định bởi liên bang khi diễn ra giao dịch. Những hợp đồng tương lai thường được sử dụng như công cụ tự bảo vệ chống lại rủi ro lãi suất hoặc rủi ro giá. Những người cho vay thế chấp nhận tin rằng lãi suất thế chấp đang giảm, có thể bán hợp đồng kỳ hạn 90 ngày các chứng khoán trung gian của hiệp hội thế chấp quốc gia của chính phủ(Ginnie Mae); nếu họ nghĩ rằng lãi suất đang tăng thì họ có thể mua những hợp đồng kỳ hạn. Vào thời gian giao hợp đồng, giá của hợp đồng tương lai và giá tiền mặt tài sản thế chấp sẽ ngang bằng nhau. Thường trong kinh doanh giao dịch kỳ hạn, người bán hợp đồng ( được biết như vị thế đoản sẽ thông báo ý định giao hợp đông tương lai cho bên mua (vị thế trường) khi tháng giao hợp đồng đến gần. Tất nhiên người mua và người bán của những hợp đông tương lai có quyền chọn trao đổi hợp đồng hết hạn lấy môt hợp đồng mới, mà hầu hết những người tham gia trong thị trường tương lai thực sự làm phẩy thay vì giao nhận theo hợp đồng Xem Future exchanges, option.

Futures Commission Merchant (FCM) / Thương Nhân Nhận Hoa Hồng Hợp Đồng Kỳ Hạn

Công ty hay cá nhân tham gia chào mời hay chấp nhận các lệnh mua hay bán hợp đồng kỳ hạn. Thương nhân nhận tiền hoa hồng kỳ hạn chấp nhận tiền mặt hoặc chứng khoán để kinh doanh hưởng lợi nhuận biên, chịu những quy định của trao đổi kỳ hạn, và phải được Ủy ban giao dịch hàng hóa kỳ hạn cấp phép.

Futures And Options: Risks Diversified / Giảm Thiểu Rủi Ro

Đối với một số người, các chứng khoán phái sinh futures và options có thể là công cụ phân tán bớt (giảm) rủi ro. Những người nông dân cam kết bán lúa ở một mức giá tốt sẽ được bảo vệ nếu giá giảm. Nhà đầu tư sở hữu options quyền chọn bán (put option) trên những cổ phiếu họ sở hữu thì có thể bù đắp một phần thua lỗ của mình nếu thị trường bị sụp đổ. Phần lớn các nhà đầu tư đều giao dịch futures và options để giảm bớt rủi ro vì khả năng bị lỗ nhiều có thể sẽ được bù đắp bằng cơ hội đạt được khoản lợi lớn. Nhưng các nhà đầu tư đơn lẻ thường là những người chơi nhỏ trong thị trường futures và options do rủi ro cao và lợi nhuận lại không đoán trước được.

Futures And Options / Công Cụ Phái Sinh

Các phái sinh chứng khoánFutures và Options thường phức tạp và có tính chất dao động mạnh, nhưng đồng thời cũng là các phương án đầu tư có ích.  Futures là nghĩa vụ mua hoặc bán một hàng hoá cụ thể nào đó, ví dụ như: ngũ cốc, vàng hay trái phiếu Kho bạc trong một ngày nào đó theo một giá đã được xác lập trước. Options là quyền bán hoặc mua một hạng mục hàng hoá cụ thể nào đó như: cổ phiếu, kim loại quý hoặc trái phiếu Kho bạc theo một giá đã xác lập trước trong một khoản thời gian nào đó.  Một lí do khiến các chứng khoán phái sinh futures và options trở nên phức tạp là vì chúng là các khoản đầu tư phái sinh.Thay vì đại diện cho cổ phần của người sở hữu như cổ phiếu, hay cam kết trả nợ như trái phiếu - mỗi hợp đồng futures hoặc option thường được cách ly khỏi một sản phẩm gốc (underlying) nào đó một vài cấp. Ví dụ, một hợp đồng futures gia súc là sự đánh cuộc về hướng giá gia súc sẽ biến động. Những biến động giá gia súc xảy ra tự thân nó đã có lợi cho những người chăn nuôi gia súc và người chế biến thịt, nhưng không hoàn toàn có lợi cho tất cả các nhà đầu tư đã mua hợp đồng futures. Mỗi lần giá biến động, việc chọn thực hiện hợp đồng futures gia súc sẽ chỉ có lợi cho nhà đầu tư nào muốn đánh cược trên giá gia súc, chứ không mang lại lợi ích trực tiếp tới những người mua hoặc bán gia súc.

Future Interest / Quyền Lợi Kỳ Hạn

Quyền lợi tương lai trong đất đai và tài sản cá nhân cho người nắm giữ quyền chiếm giữ, mặc dù không phải là quyền sở hữu. Ví dụ, quyền lợi được hưởng tài sản giữ như tài sản ủy thác vào một ngày cụ thể của nhân viên trong kế hoạch lương hưu của công ty, phải trả khi về hưu; chuyển quyền sở hữu tài sản bất ngờ chỉ khi những sự kiện cụ thể xảy ra, ví dụ, trường hợp sự qua đời của người trao tặng hoặc người tạo tài sản ủy thác.  Xem REMAINDERMAN.

Future Advance / Ứng Trước Trong Tương Lai

Điều khoản thế chấp cho phép người cho vay ứng trước tiền sau khi kết thúc khoản vay đầu tiên và chi tiền, mà không thực hiện thỏa thuận thế chấp mới hoặc thực hiện tài sản thế chấp bổ sung. Phổ biến nhất trong tài trợ xây dựng, ví dụ, thế chấp xây dựng được đảm bảo bởi tòa nhà được tài trợ. Tạm ứng xây dựng được thực hiên trong các giai đoạn hoàn thành cụ thể, phụ thuộc vào kế hoạch thiết lập trước. Xem OPEN-END MORTGAGE.

Furthest Month / Tháng Xa Nhất

Trong giao dịch kỳ hạn là tháng xa nhất từ ngày giao hợp đồng. Đó là khoảng cách xa nhất của các tháng giao theo hợp đồng các công cụ tài chính hoặc hàng hóa, được chấp nhận giao dịch theo hối đoái kỳ hạn. Ví dụ, hối phiếu kho bạc được giao dịch trong khoảng thời gian ba tháng. Hợp đồng yêu cầu giao trong 18 tháng là tháng xa nhất, trong khi hợp đồng ba tháng là hợp đồng gần hoặc tháng gần nhất.

Fungible / Có Thể Chuyến Đổi

Công cụ tài chính tương đương về giá trị với các công cụ khác, và dễ dàng chuyển đổi hoặc thay thế. Hối phiếu bằng đồng đô la được vay sẽ có cùng giá trị với đồng đô la thanh toán lại. Chứng khoán và cổ phiếu được phát hành cùng loại có tính chất này, cũng như các quyền chọn giao dịch hối đoái và thế chấp, trong hỗn hợp các khoản vay hỗ trợ cho chứng khoán được bảo lãnh từ thế chấp.

Fungibility / Tương Đương Như Nhau

Thuật ngữ này được dùng khi có cùng giá trị hay chất lượng. Một chứng khoán tự do chuyển đổi với một loại chứng khoán khác và có thể dùng thay cho chứng khoán đã được mua bán thì chứng khoán có được xem là chứng khoán tương đương.

Funds Transfer / Luân Chuyển Vốn, Quỹ, Chuyển Khoản

1. Luân chuyển vốn giữa các tài khoản hoặc đến tài khoản của một bên thứ ba trong cùng một định chế tài chính, còn được gọi là chuyển sổ sách. 2. Những chuyển khoản bên ngoài giữa một định chế tài chính phát xuất và một định chế tài chính chính nhuận. Chuyển khoản bao gồm các loại chuyển tiền bằng điện tử liên ngân hàng, bao gồm chuyển tiền vô tuyến FED của Dự trữ Liên bang (Federal Wire); hệ thống cơ quan thanh toán bù trừ tự động liên ngân hàng (ACH) và hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng (CHIPS) tại thành phố New York, chuyển dẫn phần lớn những thanh toán thương mại quốc tế liên quan các định chế tài chính Mỹ và những ngân hàng ở nước ngoài chuyển tiền vô tuyến Fed và mạng lưới CHIPS thực hiện hơn 90% vụ chuyển tiền hàng năm. Tất cả những hình thức khác nhau bao gồm chi phiếu, tiền mặt và thẻ tín dụng chiếm dưới 10% tổng giá trị đồng đô la, nhưng khoảng 99% các giao dịch trong nền kinh tế Mỹ.

1. Lưu chuyển vốn giữa các tài khoản hoặc đến tài khoản của bên thứ 3 trong cùng một định chế tài chính, còn được gọi là chuyển sổ sách . 2. Những chuyển khoản bên ngoài giữa một định chế tài chính phát xuất và một định chế tài chính nhận. Chuyển khoản bao gồm tất cả loại chuyển tiền bằng điện tử liên ngân hàng bao gồm chuyển tiền vô tuyến FED của dự trữ liên bang( Federal Wire); hệ thống cơ quan thanh toán bù trừ tự động liên ngân hàng( ACH), và hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hang( Chips) tại thành phố NewYork, chuyển dẫn phần lớn thanh khoản thương mại quốc tế liên quan các định chế tài chính Mỹ và các ngân hàng ở nước ngoài chuyển tiền vô tuyến FED và mạng lưới Chips thực hiện hơn 90% vụ chuyển tiền hằng năm. Tất cả những hình thức thanh toán khác bao gồm chi phiếu, tiền mặt và thẻ tín dụng, chiếm dưới 10% tổng giá trị đồng đô la, nhưng khoảng 99% các giao dịch trong nền kinh tế Mỹ.

Funded Debt / Nợ Vô Thời Hạn; Nợ Được Tài Trợ

Thông thường nợ của chính phủ không định ngày trả lại theo hợp đồng. Lúc đầu, cụm thuật ngữ này chỉ hoạt động của thay thế nợ được tài trợ cho nợ với một ngày trả nhất định. Giờ đây, nó được sử dụng rộng rãi hơn để chỉ sự thay thế của các khoản nợ dài hạn cho các khoản nợ ngắn hạn.

Fundamental Analysis / Phân Tích Cơ Bản

Phân tích cơ bản là việc phân tích tình hình tài chính cũng như tình hình kinh doanh của công ty định đầu tư như dựa vào bảng cân đối tài khoản và bản báo cáo lợi tức của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển của công ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán. Giá trị là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản. Một số nhà phân tích thường sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền mặt để xác định giá trị của công ty, trong khi đó một số người lại sử dụng tỷ số giá trên thu nhập(P/E)... Như vậy nếu việc phân tích kĩ thuật bám sát vào qui luật cung cầu về chứng khoán trên thị trường thì phân tích cơ bản lại đi sâu vào nội bộ của công ty phát hành ra chứng khoán đó. Việc phân tích cơ bản sẽ đánh giá một chứng khoán dưới giá trị hay trên giá trị hiện hành, và điều này sẽ khẳng định giá trị thực của một công ty có mối quan hệ mật thiết như thế nào với các đặc tính tài chính như: khả năng phát triển; những rủi ro mà công ty có thể gặp phải; dòng tiền mặt... Bất kỳ một sự chệch hướng nào so với giá trị thực cũng là dấu hiệu cho thấy cổ phiếu đó đang ở dưới hoặc vượt quá giá trị thực. Chính vì vậy nhà phân tích thường coi đó là kim chỉ nam cho quyết định đầu tư trong tương lai. Ví dụ một chiến lược đầu tư dài hạn bao giờ cũng phải bao quát đủ các yếu tố của phân tích cơ bản như:  Mối quan hệ giữa giá trị cổ phiếu hiện hành và các yếu tố tài chính là có thể đo lường được. Mối quan hệ này ổn định trong một khoảng thời gian đủ dài. Các sai lệch của mối quan hệ có được điều chỉnh lại vào thời điểm thích hợp. Ngoài ra rất nhiều nhà đầu tư còn dùng phương pháp phân tích cơ bản để chọn mua những chứng khoán có triển vọng tốt nhưng đang bị thị trường đánh giá thấp, tức là một cách thức đầu tư giá trị. Nếu có quyết định chơi chứng khoán thì hãy là một nhà đầu tư thông minh và cẩn trọng. Hãy quyết định dựa trên cơ sở thông tin rút ra không chỉ từ phân tích kỹ thuật (về cung và cầu), mà chủ yếu phải từ phân tích cơ bản (về năng lực và hoạt động của các công ty). Phân tích cơ bản nhằm tính toán về thị trường, doanh số, các chỉ số tài chính, tình hình pháp lý và hệ thống quản trị của doanh nghiệp nhằm tìm ra các doanh nghiệp xứng đáng đầu tư. Phân tích kỹ thuật nhằm tìm ra thời điểm đúng lúc để tiến hành giao dịch. Để đổ tiền vào một nơi sinh ra lợi nhuận, nhà đầu tư cần phải biết cả về phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật bởi lẽ có tính toán được giá trị của cổ phiếu chính xác đến đâu mà không biết chọn đúng thời điểm đầu tư thì phân tích cũng trở thành vô nghĩa. Hiện nay có nhiều nhà đầu tư không cần biết đến các công cụ trên nhưng vẫn tiến hành đầu tư theo kiểu may rủi là rất nguy hiểm. Trong trường hợp xấu, chính họ là những người làm sụp đổ thị trường. Để thị trường có thể phát triển lành mạnh các nhà đầu tư cần phải có kiến thức, kinh nghiệm về thị trường chứng khoán bằng cách tập đầu tư các khoản tiền nhỏ trước vào các cổ phiếu có tính thanh khoản cao trước và theo dõi thị trường thật kỹ trước khi đầu tư các khoản tiền lớn. Khi phân tích cơ bản trở thành kiến thức thông dụng của mọi nhà đầu tư thì thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả hơn: có sự tham gia liên tục của các tổ chức đầu tư khiến giá cổ phiếu niêm yết hợp lý hơn; thông tin từ các công ty niêm yết đã bắt đầu tạo ra phản ứng tức thời đến giá cổ phiếu; nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các thông tin hàng ngày trên thị trường. Và khi phân tích cơ bản đã là cơ sở chính cho diễn biến giá cả thì “sân chơi” chứng khoán sẽ trở thành nơi đầu tư của những nhà đầu tư tài chính thực thụ.

Nghiên cứu xu hướng lãi suất, tình trạng thất nghiệp, tổng sản phẩm quốc nội và những yếu tố khác, để dự đoán dạng thức tăng trưởng cho nền kinh tế tổng thể. Trong phân tích chứng khoán thì phân tích cơ bản là nghiên cứu cổ phiếu và trái phiếu, thông qua xem xét những tỷ lệ lịch sử và xu hướng, so sánh với các công ty khác. Ngược với Technical analysis.

Phân Tích Cơ Bản (Fundamental Analysis) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phân Tích Cơ Bản (Fundamental Analysis) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Fund Performance Derby / Các Đồ Thị Lợi Nhuận

Hàng ngày, một đồ thị gọi là Fund Performance Derby sẽ cung cấp những bức tranh tức thời kết quả kinh doanh trong 12 tháng của từng loại quỹ cụ thể so với các tiêu chuẩn tương ứng, nếu có và với kết quả của một hoặc nhiều hạng mục quỹ khác có liên quan. Ví dụ, các quỹ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng được thể hiện trong mối quan hệ với các quỹ chỉ số S&P 500 - là các quỹ có kết quả kinh doanh rất giống nhau - và với các quỹ đầu tư công ty vốn nhỏ - cũng là các quỹ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nhưng mua cổ phiếuở các công ty nhỏ hơn các quỹ chỉ được mô tả đơn giản là quỹ tăng trưởng nói chung. Những thông tin rõ ràng này góp phần đưa kết quả kinh doanh của các hạng mục quỹ vào đúng hướng, giúp bạn cảm nhận được hoạt động chung của các hạng mục đó. Các thông tin này có thể giúp bạn đánh giá các quỹ đơn lẻ trong hạng mục nào đó sẽ rơi vào tình trạng nào: mạnh hơn, yếu hơn hoặc hầu như bằng mức trung bình chung.

Fund Of Hedge Funds / Quỹ Đầu Tư Vào Các Quỹ Tự Bảo Hiểm Rủi Ro

Quỹ đầu tư vào các quỹ tự bảo hiểm rủi ro- Hedge Fund (Fund of Hedge Funds - FHF) là dạng quỹ đầu tư/công ty đầu tư thực hiện đầu tư vào nhiều quỹ tự bảo hiểm rủi ro (hedge fund) để phân bổ rủi ro, các quỹ này không trực tiếp đầu tư vào các chứng khoán. FHF sẽ lựa chọn các hedge fund và cấu trúc danh mục đầu tư của mình theo các lựa chọn này. Các FHF thường tính phí khá cao cho dịch vụ quản lý, thường cao hơn cả mức của các hedge fund, mức phí quản lý chung thường là 1,5% và phí trên hiệu quả vận hành có thể từ 15-30%. Mặc dù lợi suất thu về có thể cao nhưng nhà đầu tư phải chịu mức phí lớn vì thế không phải lúc nào mức sinh lời cũng cao hơn mức của các quỹ tương hỗ hay quỹ ETF.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55