Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Fee / Phí dịch vụ đã thực hiện

1. Ngân hàng. phí bên cho vay khi cung ứng tín dụng, ví dụ, phí cam kết hoặc phí hằng năm của thẻ tín dụng. Cũng là phí cho các dịch vụ phi tín dụng như chiết khấu hoặc hoa hồng cho phòng tín thác. 2. Di sản. Một di sản được thừa kế như đất đai, thường được xem như lệ phí di sản đơn giản hoặc di sản rõ ràng. Phí đơn giản tuyệt đối khi di sản mà người nắm giữ có quyền sở hữu rõ ràng, trái lại, di sản chỉ định thừa kế chỉ có thể thừa kế bởi một nhóm những người thừa kế xác định.

Federal Wire ( Fed Wire) / Chuyển tiền vô tuyến Liên bang

Mạng truyền thông điện tử tốc độ cao kết nối Ủy ban Thống đốc dự trữ Liên bang và 24 chi nhánh, Bộ Tài chính Mỹ và các cơ quan liên bang khác. Mạng chuyển tiền vô tuyến liên bang, thường được biết đến như Fed Wire, được ngân hàng dự trữ và bộ Tài chính sử dụng cho những thanh toán nhạy cảm với thời gian có giá trị cao, như chuyển tiền giữa những ngân hàng dự trữ, mua, bán các quỹ Liên bang chuyển giữa những ngân hàng trung gian, và bán các chứng khoán chính phủ Mỹ. Ngân hàng thành viên của Dự trữ liên bang và những định chế tài chính kí thác khác, cũng có quyền sử dụng mạng chuyển tiền vô tuyến liên bang để vào tài khoản của họ, và chuyển tiền thay mặt khách hàng, khi tính chẩt kịp thời và chắc chắn của thanh toán là quan trọng. Bộ tài chính Mỹ và các cơ quan liên bang sử dụng rộng rãi trong việc thu tiền từ tài khoản vay và thuế của Kho bạc, trong những ngân hàng thương mại và trong việc chi tiêu các quỹ. Chuyển tiền qua mạng vô tuyến Fed là việc chuyển tiền tức thì, và hiệu quả trong vài phút khi thanh toán được bắt đầu. Chúng được bảo đảm như khoản thanh toán cuối cùng, khi định chế tài chính nhận tiền được thông báo về việc ghi có vào tài khoản dự trữ.

Federal Savings Bank (FSB) / Ngân hàng tiết kiệm Liên bang

Ngân hàng tiết kiệm, được văn phòng Giám sát tiết kiệm cấp phép và giám sát. Những ngân hàng tiết kiệm liên bang, được chỉ định bằng thư của FSB hoặc FA trong tên định chế, được trao quyền bởi tu chính án năm 1978 từ Đạo luật vay sở hữu nhà năm 1933 cho phép. Những ngân hàng tiết kiệm liên bang có thể dành đến 10% tài sản cho các khoản vay thương mại, kinh doanh hoặc nông nghiệp, và có thể được cấp phép như những định chế do cổ đông sở hữu hoặc định chế hỗ tương.

Federal Savings And Loan Insurance Corporation (FSLIC) / Công ty bảo hiểm tiết kiệm và cho vay Liên bang

Cơ quan liên bang được Quốc hội thành lập năm 1943, để đảm bảo những khoản tiền gửi, trong những hiệp hội cho vay và tiết kiệm, và những ngân hàng tiết kiệm. Trong thập niên 1980, những khoản thua lỗ nặng nề bởi những định chế tiết kiệm đã làm hao mòn dự trữ của FSLIC, gây ra tình trạng phá sản. Đạo luật cải cách khôi phục và cưỡng chế định chế tài chính năm 1989, chuyển giao các tài sản và nợ phải trả của FSLIC cho quỹ bảo hiểm tiền gởi mới, quỹ bảo hiểm của hiệp hội tiêt kiệm, một quỹ bảo hiểm tiền gửi được vận hành bởi Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang.

Federal Savings And Loan (S&L) Association / Hiệp hội tiết kiệm và cho vay Liên bang

Hiệp hội cho vay và tiết kiệm liên bang được cấp phép và giám sát bởi văn phòng giám sát tiết kiệm. Hiệp hội Cho vay và Tiết kiệm liên bang (S&L) có nguồn quỹ phần lớn từ tiền gửi ngân hàng của khách hàng, và đầu tư chủ yếu trong thế chấp nhà ở dài hạn. Quốc hội cho phép những định chế tiết kiệm liên bang phục vụ nhu cầu người mua nhà theo Đạo luật cho vay Sở hữu nhà năm 1933. Kể từ những năm đầu của thập niên 1980, việc giảm bớt những quy định trong ngành ngân hàng, đã cho các định chế tiết kiệm liên bang quyền cung ứng các tài khoản séc và tài khoản lệnh rút tiền chuyển nhượng (NOW) Đạo luật Garn-St Germain năm 1982 cho phép những định chế tiết kiệm liên bang thực hiện các khoản cho vay tiêu dùng, cung ứng những tài khoản môi giới chiết khấu, và đầu tư lên tới 5% tài sản cho những khoản vay thương mại. Thậm chí với quyền được mở rộng này, thì S&L liên bang được yêu cầu duy trì ít nhất 70% tài sản trong thế chấp nhà ở hoặc chứng khoán thế chấp. Xem FEDERAL SAVINGS BANK; QUALIFIED THRIFT LENDER; THRIFT INSTITUITION.

Federal Reserve Float / Tiền đang chuyển Dự trữ Liên bang

Tín dụng tạm thời cho tài khoản dự trữ của ngân hàng bởi sự chậm trễ thời gian trong thu tiền chi phiếu. Tiền đang chuyển là tiền sec trên sổ sách của cả ngân hàng thanh toán và ngân hàng kí gởi, thực tế thì những khoản dự trữ giả tạo, được tạo ra khi ngân hàng Dự trữ Liên bang có ghi chi phiếu chờ thanh toán vào tài khoản dự trữ của ngân hàng tại Fed, trước khi nó đã thu tiền thanh toán chi phiếu từ ngân hàng toán thanh. Chi phiếu rút tiền ở các ngân hàng trong các thành phố với Ngân hàng Dự trữ Liên bang hoặc văn phòng chi nhánh, được xem như chi phiếu tín dụng nhất thời và không tạo ra tiền đang chuyển Fed. Những trì hoãn về xử lí và vận chuyển là những những nguyên nhân chính của tiền đang chuyển Fed. Nguồn tiền đang chuyển lớn nhất trong hệ thống ngân hàng Mỹ.

Federal Reserve Credit / Tín dụng Dự trữ Liên bang

Tín dụng đóng góp cho hệ thống ngân hàng bởi Ngân hàng Dự trữ Liên bang. Tín dụng này được rút ra từ nhiều nguồn khác nhau (1) chiết khấu ngân hàng Dự trữ và tạm ứng tại phòng cho vay triết khấu, được bảo đảm bởi thương phiếu có ngân hàng chứng nhận (chiết khấu) hoặc tạm ứng tín dụng được ngân hàng bảo lãnh như tài sản thế chấp (tạm ứng); (2) chứng khoán của cơ quan liên quan và Kho bạc sở hữu bởi những ngân hàng dự trữ thông qua hoạt động thị trường mở của ngân hàng Dự trữ liên bang; và (3) các nguồn tín dụng bổ xung, bao gồm tín dụng mở rộng dài hạn hơn đối với những định chế tài chính có vấn đề về khả năng thanh khoản, và tiền đang chuyển dự trữ liên bang trên các phiếu chi được trình cho ngân hàng Dự trữ để thu tiền. Các ngân hàng dự trữu tạo nhiều ảnh hưởng thêm khoản vay bởi các định chế tài chính, thông qua những hoạt động của Ủy ban thị trường mở Liên bang so với các khoản vay của Dự trữ Liên bang.  Xem: MONETARY BASE

Federal Reserve Board (FRB) / Ủy ban Dự trữ Liên bang

Ủy ban gồm bảy thành viên điều hành hệ thống dự trữ Liên bang. Các thành viên được Tổng thống bổ nhiệm và được thượng viện phê chuẩn, và có nhiệm kì là 14 năm. Ủy ban giám sát hệ thống ngân hàng bằng cách ban hành những kiểm soát các hoạt động của công ty cổ phần ngân hàng; nắm giữ đa số quyền biểu quyết tại các đại hội của ủy ban thị trường mở Liên bang nơi thực thi kiểm soát nguồn cung tín dụng trong hệ thống ngân hàng; và thiết lập những yêu cầu dự trữ cho các ngân hàng Quốc gia và các ngân hàng cấp phép bởi tiểu bang, sở hữu cổ phiếu trong Ngân hàng Dự trữ Liên bang. Đạo luật hiện đại hóa tài chính năm 1999 (Đạo luật Gramm-Leach-Billey) mở rộng quyền của Ủy ban dự trữu liên bang để giám sát các công ty cổ phần tài chính, một loại hình mới của công ty ngân hàng mẹ. Nó cũng thiết lập quy trình giám sát mà dự trữ liên bang sẽ tham vấn với Bộ Tài chính Mỹ, để xác định các hoạt động có quan hệ chặt chẽ về bản chất với nghiệp vụ ngân hàng và tài chính, những hoạt động có thể chấp nhận cho những cổ phần tài chính mẹ. Xem: FEDERAL RESERVE BANK; FUNCTIONAL REGULATION.

Federal Reserve Bank / Ngân hàng dự trữ Liên bang

Một trong 12 ngân hàng khu vực trong hệ thống dự trữ Liên Bang. Những ngân hàng này có trụ sở tại Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Mineapolis, Kansas City, Dallas và san Fransisco. Vai trò của mỗi ngân hàng và chi nhánh của nó là để cung cấp các dịch vụ ngân hàng trung ương, như thu chi phiếu, sử dụng mạng lưới chuyển tiền Dự trữ Liên bang (chuyển tiền liên bang hoặc chuyển tiền Fed) và những khoản tạm ứng tín dụng tại phòng cho vay có triết khấu của dự trữ Liên bang. Ngoài ra, các ngân hàng Dự trữ liên bang còn thiết lập chính sách tiền tệ cùng ủy ban Thống đốc của Cục Dự trữ liên bang và giám sát các ngân hàng tiết kiệm và thương mại, để dảm bảo rằng các định chế tài chính tuân theo những quy định của Dự trữ liên bang. Các ngân hàng dự trữ hoạt động như những nơi kí gởi tiền cho các ngân hàng thành viên trong khu vực, để lưu giữ cổ phiếu trong ngân hàng Fed khu vực. Những ngân hàng thương mại này là những ngân hàng thành viên trong hệ thống Dự trữ Liên bang. Xem: FEDERAL RESERVE BOARD, REGIONAL CHECK PROCESSING CENTER

Federal Open Market Committee (FOMC) / Ủy ban thị trường mở Liên bang

Ủy ban chính sách trong Hệ thống Dự trữ Liên bang, thiết lập những mục tiêu chính sách tiền tệ ngắn hạn cho Fed. Ủy ban gồm bảy người đứng đầu của Ủy ban Dự trữ Liên bang, cộng với năm người trong số hai mươi chủ tịch Ngân hàng trong Dự trữ liên bang New York là thành viên thường trực của FOMC. Bốn vị trí khác được tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở luân phiên giữa các chủ tịch của 11 Ngân hàng dự trữ liên bang khác. Ủy ban này thực hiện những mục tiêu tiền tệ bằng cách chỉ thị Phòng Chứng Khoán Thị trường mở tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại New York, để mua hoặc bán các chứng khoán chính phủ từ tài khoản đặc biệt gọi là tài khoản thị trường mở, tại Fed New York. Khi FOMC mua chứng khoán nó bổ xung dự trữ cho hệ thống ngân hàng, mở rộng nguồn cung tín dụng và cho phép các ngân hàng  cho vay nhiều hơn; khi bán chứng khoán nó rút vốn và thắt chặ tín dụng. Ủy ban thị trường mở Liên bang thường mua và bán chứng khoán, thường là hối phiếu kho bạc Mỹ, cho tác động dài hạn. Đối với những điều chỉnh dự trữ ngân hàng ngắn hạn, nó sẽ bán chứng khoán cho các trung tâm giao dịch chứng khoán với thỏa thuận mua lại (thỏa thuận mua bán tương xứng), hoặc mua chứng khoán từ hãng giao dịch, tiếp theo là việc bán lại cho hãng giao dịch (thỏa thuận mua lại). Những hoạt động của thị trường mở là một trong ba chính sách tiền tệ của Dự trữ Liên bang; những công cụ khác là lãi suất chiết khâu, và yêu cầu dự trữu trên giao dịch và tài khoản tiền gửi có kì hạn. Xem: DISCOUNT WINDOW; OPEN MARKET OPERATIONS; REPURCHASE AGREEMENT; RESERVE REQUIREMENTS.

Federal Housing Finance Board (FHFB) / Ủy ban tài chính nhà ở Liên bang

Cơ quan liên bang độc lập được thiết lập bởi bộ luật cứu nguy tài chính cho các khoản vay và tiết kiệm năm 1989, để giám sát 11 ngân hàng cho vay Nhà ở Liên bang. Ủy ban có 5 thành viên bao gồm Bộ Nhà ở và Phát triển Đô thị, và bốn giám đốc được Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn, phục vụ trong nhiệm kì bảy năm. Ít nhất một giám đốc đại diện cho quyền lợi của các nhóm cộng đồng.

Federal Housing Administration (FHA) / Cục quản trị nhà ở Liên bang

Cơ quan liên bang bảo hiểm cầm cố nhà ở, được tạo ra bởi các Đạo luật Nhà ở Quốc gia vào năm 1934, FHA bây giờ là một phần của Bộ phát triển nhà ở và đô thị. Cả FHA và bộ Công tác cựu chiến binh có những chương trình thế chấp riêng lẻ, để hỗ trợ những người mua nhà không được hỗ trợ tài chính từ những bên cho vay thế chấp truyền thống (ngân hàng, định chế tiết kiệm và cho vay, và những định chế tài chính khác). Những người cho vay tư nhân là những nguồn cho các khoản vay FHA, nhưng những khoản vay FHA thường có mức lãi suất trần dưới mức lãi suất thị trường phổ biến. Cũng có những giới hạn đối với số tiền mà FHA sẽ bảo hiểm cho một người vay riêng lẻ.

Federal Home Loan Bank System / Hệ thống ngân hàng cho vay mua nhà Liên bang

Hệ thống cung ứng dự trữ tín dụng cho các hiệp hội cho vay và tín dụng, và các định chế tài chính cho vay có thế chấp khác của Hoa Kỳ; chức năng của nó giống như điều Hệ thống Dự trữ Liên bang thực hiện cho các ngân hàng thương mại. Hệ thống ngân hàng cho vay mua nhà liên bang bao gồm mười hai ngân hàng cho vay mua nhà liên bang khu vực, thực hiện các khoản tạm ứng với lãi suât thấp cho các hiệp hội cho vay và tiết kiệm, các ngân hàng hợp tác xã và các ngân hàng thương mại. Nó tạo tiền bằng các bán trái phiếu và kì phiếu trên thị trường tài chính. Hệ thống ngân hàng cho vay mua nhà liên bang được thành lập năm 1932, theo sau làn sóng đổ vỡ các ngân hàng, nhằm giúp khôi phục niềm tin trong hệ thống tài chính quốc gia, và cải thiện nguồn cung vốn cho các khoản vay mua nhà. Vào năm 1989, Quốc hội thông qua bộ luật (Đạo luật cải cách Khôi phục và Thực thi cách các Định chế Tài chính), để đối phó với làn sóng tiết kiệm và khoản vay đổ vỡ trong thập niên 1980 do đầu tư bất động sản kém. Ủy ban ngân hàng cho vay Nhà ơ Liên bang được đưa vào vị trí cơ quan điều phối tài chính bởi một cơ quan mới, là Ủy ban tài trợ nhà ở Liên bang, hiện giám sát hệ thống Ngân hàng Cho vay nhà ở. Vào năm 1989 nhiệm vụ chính sách công của Hệ thống Ngân hàng cho vay Cho vay nhà ở Liên bang được mở rộng, bao gồm cho vay phát triển cộng đồng và cho vay mua nhà. kể từ năm 1997, các ngân hàng cho vay mua nhà các khu vực đã mua những khoản vay thế chấp phù hợp dưới một thỏa thuận phân chia rủi ro hợp tác (gọi là Tài chính đối tác thế chấp hoặc Mua thế chấp, phụ thuộc vào ngân hàng khu vực liên quan) với các định chế tài chính khởi đầu. Đạo luật Hiện đại hóa Dịch vụ Tài chính năm 1999 (đạo luật Gramm-Leach-Billey) mở rộng các loại tài sản thế chấp cho các khoản tạm ứng tín dụng, bao gồm các khoản vay kinh doanh nhỏ và các khoản vay kinh doanh nông nghiệp, trang trại, và cho phép những ngân hàng thương mại trở thành những định chế thành viên, nếu chúng đối ứng một phần trăm nhất định của khoản vay như thế chấp nhà ở. Xem QUALIFIED THRIFT LENDER.

Federal Financing Bank (FFB) / Ngân hàng tài trợ Liên bang

Cơ quan thuộc Kho bạc Mỹ được quốc hội thành lập năm 1973 để tập chung hóa vốn cho vay bởi các cơ quan liên bang. FFB cho vay với những lãi suất ưu đãi cho các cơ quan không thể tiếp cận thị trường tín dụng; nợ của FFB là khoản nợ trực tiếp của kho bạc Mỹ.

Federal Deposit Insurance Improvement Act / Đạo luật cải thiện bảo hiểm tiền gửi Liên bang

Bộ luật được thông quan năm 1991 để đối phó với khủng hoảng ngành tiết kiệm. Đạo luật này bó buộc những quy định nghiêm ngặt tăng dần đối với ngân hàng và những định chế tiết kiệm yếu về tài chính, và đưa ra cho cơ quan điều tiết thẩm quyền thực hiện hành động kịp thời, khi xử lý với những ngân hàng gặp khó khăn.

Federal Financial Institutions Examination Council / Ủy ban xem xét các định chế tài chính Liên bang

Nhóm liên cơ điều phối ngân hàng liên bangđược thành lập năm 1979, để duy trì những tiêu chuẩn thống nhất về kiểm tra giám sát các định chế kí gởi được bảo hiểm trên toàn liên bang, các công ty ngân hàng mẹ và những công ty cổ phần cho vay và tiết kiệm. Các thành viên của ủy ban này là những kiểm toán trưởng Tiền tệ, chủ tịch công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang, một thành viên của ban Thống đốc hệ thống dự trữ Liên bang: Chủ tịch cục quản lý nghiệp đoàn Tín dụng Quốc gia, và chủ tịch Văn phòng giám sát Tiết kiệm. Ủy ban cũng lập ra báo cáo hiệu quả ngân hàng thống nhất.

Federal Deposit Insurance Corporation Improvement Act (FDICIA) / Đạo luật cải tiến công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang

Luật liên bang được hành vào năm 1991 để đối phó với cuộc khủng hoảng tiết kiệm FDICIA tái cấp vốn cho quỹ bảo hiểm ngân hàng của Công ty Bảo hiểm Tiền gởi Liên bang (FDIC), mở rộng thẩm quyền của các cơ quan điều phối ngân hàng, để nắm giữ những ngân hàng không đủ vốn, và mở rộng bảo vệ tiêu dùng cho khách hàng của ngân hàng. Trong đó có những điều khoản chính như sau: (1)    Tăng quyền của FDIC vay từ Bộ tài chính từ $5 triệu lên $30 triệu. (2)    Điều chỉnh mức bảo hiểm tiền gởi, liên kết phí bảo hiểm mà các ngân hàng trả cho bảo hiểm FDIC với sức mạnh tài chính của chúng. (3)    Yêu cầu những cơ quan điều phối ngân hàng can thiệp vào việc tái cơ cấu ngân hàng và những định chế tiết kiệm không đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu. (4)    Yêu cầu FDIC sử dụng phương pháp ít tốn chi phí nhất đối với quỹ bảo hiểm, khi sáp nhập những ngân hàng phá sản vào những ngân hàng lành mạnh. (5)    Yêu cầu xem xét thực tiễn hàng năm các ngân hàng và các định chế tiết kiệm. (6)    Yêu cầu những ngân hàng và những định chế tiết kiệm công khai giá trị thị trường hợp lý các tài sản của họ. (7)    Yêu cầu các báo cáo tài chính được kiểm toán trong các báo cáo hằng năm của ngân hàng và các định chế tiết kiệm, với tài sản $150 triệu hơạc lớn hơn. (8)    Giới thiệu công ty mới để tính khả năng vốn thích hợp. (9)    Áp dụng những giới hạn mới trên lương thưởng và những khoản cho vay đối với nhân viên cáo cấp và giám đốc ngân hàng. (10) Mở rộng các quy định hoạt động ngân hàng Mỹ và kiểm tra thực tiễn những chi nhánh ngân hàng nước ngoài. (11) Công khai theo yêu cầu nhiều thông tin hơn (trung thực trong tiết kiệm) về lãi suất trả cho nhữn người gởi tiền.

Federal Credit Union (FCU) / Nghiệp đoàn Tín dụng Liên bang

Hợp tác xã tiêu dùng phi lợi nhuận được cấp phép liên bang. Liên minh tín dụng liên bang nắm giữ phần lớn tài sản của nghiệp đoàn tín dụng tại Mỹ, tạo ra nhiều tín dụng tiêu dùng khác nhau, từ các khoản vay mua xe đến những khoản thế chấp dân cư với mức lãi suất cạnh tranh.

Federal Agencies / Các cơ quan Liên bang

Chứng khoán chịu tiền lãi của các bộ và cơ quan Hoa Kỳ. Trong số này có 12 Ngân hàng cho vay Nhà ở Liên bang, Ngân hàng Xuất nhập khẩu, Hiệp hội thế chấp Quốc gia của Chính phủ và Cơ quan nhà ở Liên bang. Các cơ quan liên bang cho vay trực tiếp đến những người cho vay đủ điều kiện, hoặc bảo lãnh các khoản vay của những nhà cho vay tư nhân. Một vài chứng khoán của cơ quan được bảo đảm bằng tín dụng tín chấp hoàn toàn của chính phủ Mỹ, ví dụ chứng khoán trung gian của Ginnie Mae và những chứng chỉ dự phần, trong khi giấy nợ của Fannie Mae chỉ được bên phát hành đảm bảo.

Federal Advisory Council / Ủy ban tư vấn Liên bang

Nhóm thành viên đến từ mỗi Quận dự trữ Liên bang, thường là ngân hàng, thường được lựa chọn hàng năm bởi hội đồng quản trị trong 12 quận liên bang. Các thành viên họp với Ủy ban Dự trữ Liên bang ít nhất bốn lần 1 năm, để đưa ra kiến nghị về những vấn đề tài chính và kinh doanh liên quan đến ngân hàng, nhưng họ không có quyền thực sự.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55