First Mortage / Cầm cố đầu tiên
Cầm cố tạo ra quyền giữ tài sản cầm cố đầu tiên với bất động sản, và có quyền ưu tiên với tài sản cầm cố tiếp theo, được biết đến như cầm cố thế chấp. Sẽ được thanh toán đầu tiên khi bán tài sản. Xem HOME EQUITY LOAN; SECOND MORTGAGE.
First Day Notice / Thông báo ngày đầu tiên
Ngày đầu tiên mà người bán trong thị trường kì hạn thông báo cho cơ quan thanh toán bù trừ về ý định giao công cụ tài chính, để hoàn thành hợp đồng kỳ hạn. Cũng là ngày mà cơ quan thanh toán bù trừ thông báo cho người mua.
Finder's Fee / Phí môi giới, hoa hồng
1. Phí được bên cho vay trả cho người môi giới, đôi khi người vay trả cho người môi giới để nhận được khoản vay, thường thế chấp hoặc đề cập việc kinh doanh với người cho vay. 2. Phí bên cho vay trả cho bên thứ ba và đôi khi cho chính khách hàng của ngân hàng, liên quan công việc kinh doanh mới. 3. Trong bất động sản, tiền hoa hồng trả cho người môi giới để tìm ra bất động sản. 4. Trong chứng khoán, là hoa hồng mà một ngân hàng đầu tư trả cho người giới thiệu giao dịch.
Financing Statement / Báo cáo tài trợ
Tài liệu được lập với thông tin chi tiết về tài sản cá nhân của người cho vay, được dùng như tài sản thế chấp từ bên vay. Báo cáo tài trợ, tài liệu tiêu chuẩn theo Bộ luật thương mại thống nhất, được lập bởi những công chức được ủy quyền. Tài liệu này được đóng dấu thời gian, ghi ngày lập hồ sơ và số hồ sơ, đảm bảo yêu cầu của bên cho vay đối với tài sản thế chấp đã ấn định.
Financial Supermarket / Siêu thị tài chính
Tên phổ biến của một công ty cung cấp giỏ thị trường các dịch vụ tài chính. Siêu thị tài chính trở thành một phần từ vựng của ngành ngân hàng vào thập niên 1980, khi các công ty tài chính phi ngân hàng, không bị hạn chế bởi các quy định của ngân hàng, bắt đầu cung ứng các dịch vụ tài chính cạnh tranh với ngân hàng và các định chế tiết kiệm. Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 cho phép ngân hàng và những công ty dịch vụ tài chính phi ngân hàng tham gia vào các hoạt động kinh doanh khác nhau, tín hiệu khởi đầu kỉ nguyên mới trong dịch vụ thu tài chính. Với đạo luật Gramm-Leach-Bliley, các ngân hàng có quyền bán các quỹ hỗ tương, tiền trợ cấp hàng năm và bảo hiểm nhân thọ, bên cạnh các khoản tiền gởi được bảo hiểm bởi liên bang. Hạn chế lớn nhất đối với mua một cửa tại ngân hàng hoặc công ty môi giới, là khách hàng không sẵn lòng đặt tất các quả trứng, theo nghĩa tài chính vào cùng một giỏ.
Financial Privacy / Quyền riêng tư tài chính
Bảo vệ khách hàng được thể hiện trong Quyền đối với Đạo luật Quyền riêng tư Tài chính năm 1978 và mở rộng bằng những đạo luật tiếp theo. Những định chế kí thác có thể cung cấp cho các cơ quan liên bang tiếp cận thông tin tài khoản tài chính, liên quan đến hoạt động thực thi luật pháp nếu yêu cầu đó: (1) được khách hàng cho phép; hoặc (2) nhận được yêu cầu chính thức bằng văn bản, trát yêu cầu hoặc lệnh khám xét của tòa án. Đạo luật hiện đại hóa tài chính năm 1999 thiết lập tiêu chuẩn quốc gia về quyền riêng tư tài chính, và cho khách hàng quyền không cho phép tiết lộ dữ liệu tài chính (như số tài khoản) đối với những công ty không phải là thành viên. Quyền từ chối này (gọi là opt-out-right) được giao cho khách hàng cùng một bản chính sách riêng tư của định chế tài chính.
Financial Planning / Lập kế hoạch tài chính
1. Ngân hàng. Lập ngân sách vốn và lập kế hoạch lợi nhuận được thực hiện bởi một Ủy ban quản lí cấp cao của ngân hàng, với mục đích quản lí sự tăng trưởng tài sản, thu nhập thuần và chi phí để đáp ứng những mục tiêu cụ thể trong những thời kì tương lai. Lập kế hoạch tài chính có phạm vi rộng hơn quản lí tài sản - nợ phải trả chủ yếu liên quan đến định giá tiền gởi và những khoản vay ngân hàng nhạy với lãi suất, và quản lí rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản. Theo nghĩa rộng hơn, lập kế hoạch tài chính ngân hàng đồng nghĩa với hoạch định chiến lược và hoạch định thị trường, cả hai đều liên quan đến thiết lập những mục tiêu cụ thể cho việc tăng trưởng tiền gửi, suất thu lợi kì vọng từ những văn phòng chi nhánh mới, máy rút tiền tự động, và những tiện ích khác, một Ủy ban quản lí cao câp của ngân hàng sẽ hoạch định nhằm đáp ứng sự cạnh tranh từ những công ty dịch vụ tài chính khác, và đặt ra mục tiêu về lợi nhuận, tăng trưởng thị phần, loại khách hàng được phục vụ..tất cả nhằm xác định hướng tương lai của ngân hàng. 2. Đầu tư. Hướng dẫn tài chính được thiết kế nhằm giúp những cá nhân sử dụng tốt nhất những tài sản tài chính, và đạt được những mục tiêu kinh tế cụ thể, như cung cấp vốn thích hợp cho chi phí giáo dục cao đẳng, hoặc nhu cầu sau khi về hưu. Hoạch định tài chính phải viết ra những mục tiêu, thiết lập ngân sách và xem lại kế hoạch định kì. Nhiều ngân hàng và phòng tín thác của ngân hàng cung cấp những dịch vụ hoạch định tài chính để giúp đỡ khách hàng bán lẻ hoặc ngân hàng tư nhân, lựa chọn những dịch vụ tài chính khách hàng hóa phù hợp với nhu cầu cá nhân, tính phí theo giờ hoặc phí khoán để viết một kế hoạch tài chính. Những người hoạch định tài chính chuyên nghiệp là những người đã được chứng nhận bởi trường Cao đẳng hoạch định Tài chính, Denver, Colorado.
Financial Institutions Regulatory Act / Đạo luật điều tiết định chế tài chính
Luật liên bang ban hành năm 1978 có một số thay đổi quan trọng trong quy định và giám sát các định chế tài chính kí gởi. Đạo luật: (1) lập ra Ủy ban kiểm tra định chế tài chính liên bang để phối hợp các hoạt động giám sát của các cơ quan giám sát liên bang; (2) cho phép những cơ quan điều tiết ngân hàng, ban hành những lệnh ngừng và chấm dứt đối với những nhân viên và giám đốc của những định chế tài chính; (3) yêu cầu các ngân hàng thực hiện những khoản vay cho các giám đốc, nhân viên và cổ đông lớn với cùng điều khoản những người vay khác; (4) tạo ra phương tiện thanh toán tập trung của nghiệp đoàn tín dụng, để đáp ứng những nhu cầu thanh khoản ngắn hạn của nghiệp đoàn tín dụng được bảo hiểm; (5) bố trí chuyển tiền điện tử giữa các định chế tài chính và khách hàng theo quy định của liên bang. Xem: ELECTRONIC FUND TRANSFER ACT.
Financial Institutions Reform, Recovery And Enforcement Act (FIRREA) / Đạo luật cải cách, khôi phục và thực thi định chế tài chính
Luật liên bang năm 1989 cung cấp vốn chính phủ cho các hiệp hội cho vay và tiết kiệm không có khả năng chi trả, và thực hiện những thay đổi trong kiểm tra, và giám sát tiết kiệm và vay vốn. Đạo luật yêu cầu những định chế cho vay và chấp nhận những tiêu chuẩn vốn mới, chuyển giao quyền diều hành của Ủy ban Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang cho một cơ quan mới, văn phòng giám sát tiết kiệm, một cục thuộc Bộ tài chính Mỹ; và đặt 12 Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang khu vực dưới sự kiểm soát của Ủy ban giám sát, Ủy ban tài chính nhà ở Liên bang. Đạo luật cũng bãi bỏ Công ty Bảo hiểm Cho vay và Tiết kiệm Liên bang (FSLIC) không còn tồn tại nữa. Đạo luật này gồm những điều khoản chính như sau: (1) Thiết lập hai quỹ bảo hiểm tiền gửi liên bang mới, quỹ bảo hiểm ngân hàng, bảo hiểm tiền gửi trong ngân hàng thương mại và quỹ bảo hiểm hiệp hội tiết kiệm, lên đến $100,000 cho một tài khoản. Cả hai quỹ này đều được quản lý bởi Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang. (2) Cho phép cơ quan liên bang mới, công ty tài trợ quyết toán (REFCORP), cung cấp tài chính thanh toán nợ của các hiệp hội tiết kiệm phá sản. Refcorp phát hành $30 tỷ trái phiếu lãi suất zero bằng quỹ từ lợi nhuận được giữ lại của Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang. Một khoản bổ sung $20 tỷ trong tiết kiệm giải quyết dứt nợ được tăng trực tiếp bởi Bộ tài chính Mỹ, thông qua bán trái phiếu kho bạc. (3) Thiết lập cơ quan liên bang mới, công ty tín thác quyết toán (RTC), để phát mã tài sản của những hiệp hội tiết kiệm thua lỗ. Những hoạt động của RTC như người thanh lý cho các quỹ thua lỗ S&L, sẽ được cung cấp tài trợ bởi chứng khoán được phát hành của Công ty Tài trợ Quyết toán hoặc các khoản vay trực tiếp cuả Kho bạc và số tiền vay từ Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang. (4) Mở rộng ban giám đốc của công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang từ ba lên năm thành viên, bao gồm ban giám đốc văn phòng Giám sát tiết kiệm, và hai người được Tổng thống bổ nhiệm và được Thượng viện phê chuẩn. (5) Yêu cầu các định chế cho vay và tiết kiện đáp ứng tiêu chuẩn vốn tối thiểu: vốn hữu hình là 1.5% của tổng tài sản, "vốn cơ bản" là vốn hữu hình cộng tài sản vô hình tương đương với 3% tổng tài sản phát sinh trong việc sáp nhập; và vốn dựa trên rủi ro tương đương 6.4% tài sản rủi ro (8% sau ngày 1 tháng 1 năm 1993). Tài sản vô hình được loại khỏi vốn cơ bản năm 1994. (6) Cấp phép một logo bảo hiểm mới cho các định chế tiết kiệm và cho vay, bao gồm những từ " được bảo đảm bằng tín chấp đầy đủ của chính phủ Mỹ". (7) Yêu cầu các định chế cho vay và tiết kiệm đáp ứng một kiểm định mới là "tổ chức cho vay tiết kiệm uy tín" của 70% danh mục đầu tư tài sản trong thế chấp nhà ở hoặc chứng khoán liên quan đến thế chấp. (8) Tăng phí bảo hiểm tiền gởi được trả bởi các ngân hàng thương mại, và phí được trả bởi những định chế cho vay và tiết kiệm, để tái vốn hóa các quỹ bảo hiểm tiền gởi liên bang. (9) Cho phép các Ngân hàng thương mại và những định chế cho vay và tiết kiệm, mua lại các hiệp hội tiết kiệm có tình hình tài chính tốt ở các tiểu bang khác. (10) Cho phép những cơ quan điều tiết ngân hàng nắm giữ tài sản của những ngân hàng lành mạnh khi một ngân hàng thành viên phá sản. (11) Cấm, với một số ngoại lệ, những tổ chức tiết kiệm và cho vay chuyển từ Quỹ Bảo hiểm Hiệp hội tiết kiệm sang Quỹ bảo hiểm Ngân hàng, cho kì hạn năm năm kết thúc vào năm 1994. (12) Yêu cầu những hiệp hội tiết kiệm tôn trọng những tiêu chuẩn vốn dựa trên rủi ro tương tự như những ngân hàng quốc gia. (13) Yêu cầu những hiệp hội tiết kiệm tôn trọng cùng hạn mức cho vay trong các khoản vay, dành cho bên vay riêng lẻ như những ngân hàng quốc gia: giới hạn khoản vay pháp lí tương đương 15% vốn trong các khoản vay không được bảo lãnh, và 25% vốn trong các khoản vay bảo lãnh. (14) Yêu cầu các hiệp hội tiết kiệm bán đi những những trái phiếu đầu cơ trước ngày 1 tháng 7 năm 1994, và tuân thủ những quy tắc đầu tư như những ngân hàng thương mại. Những trái phiếu đầu cơ và những khoản đầu tư trực tiếp của những tổ chức cho vay và tiết kiệm, phải được nắm giữ cho những công ty chi nhánh vốn hóa riêng biệt. (15) Cho phép ngân hàng cho vay nhà ở Liên bang khu vực chấp nhận những ngân hàng thương mại như những định chế thành viên, và thực hiện tạm ứng tín dụng đối với những ngân hàng thương mại ít nhất 10% tài sản trong thế chấp nhà ở. (16) Cấm sử dụng tiền gởi đã qua môi giới bởi các hiệp hội tiết kiệm không đáp ứng quy định vốn tối thiểu. (17) Yêu cầu những ngân hàng cho vay nhà ở khu vực thiết lập chương trình Nhà ở khả thi, và bảo lãnh một phần trăm lợi nhuận giữ lại, làm thế chấp cho những người vay thu nhập thấp. (18) Cấm miễn giảm thuế đối với những tổ chức mua lại các hiệp hội tiết kiệm phá sản. (19) Chỉ thị bộ tài chính Mỹ và cục Kế toán tiến hành nghiên cứu bảo hiểm tiền gởi dựa trên rủi ro, kế toán định giá thị trường và những vấn đề khác. (20) Cho phép những ngân hàng thương mại mua bán các dịch vụ ngân hàng trực tiếp cho những công ty thành viên phi ngân hàng, và những công ty thành viên do ngân hàng sở hữu. (21) Tái cơ cấu Công ty thế chấp khoản vay Nhà ở Liên bang như một công ty sở hữu cổ phần với hội đồng quản trị gồm 18 thành viên. Những người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi của Freddie Mac được trao quyền đổi cổ phiếu ưu đãi lấy cổ phiếu thường có quyền bỏ phiếu. (22) Điều chỉnh Đạo luật công khai thế chấp nhà ở, để yêu cầu những bên cho vay thế chấp thu nhập và báo cáo dữ liệu, cho tổ chức điều tiết trên những thế chấp bằng hình thức ghi chép dữ liệu. (23) Điều chỉnh đạo luật Tái đầu tư Cộng đồng, để yêu cầu những tổ chức điều tiết ngân hàng liên bang công khai sự tuân thủ của bên cho vay hàng năm theo thang A-B-C-D. (24) Chỉ thị việc thẩm định giá bất động sản cần tuân thủ chứng nhận và những tiêu chuẩn cấp phép tiểu bang. (25) Mở rộng quyền cưỡng chế của cơ quan điều tiết ngân hàng, cho phép những cơ quan ngân hàng đánh giá tiền phạt dân cư lên tới $1 triệu một ngày và phạt hình sự lên đến $5 triệu một ngày, và bổ sung gian lận ngân hàng đối với những tội ác được đề cấp trong Đạo luật Tổ chức Tham nhũng và Gian lận (RICO).
Financial Institution Reform, Recovery and Enforcement Act (FIRREA) / Đạo luật cải cách, khôi phục và thực thi định chế tài chính
Luật liên bang năm 1989 cung cấp vốn chính phủ cho các hiệp hội cho vay và tiết kiệm không có khả năng chi trả, và thực hiện những thay đổi trong kiểm tra, và giám sát tiết kiệm và vay vốn. Đạo luật yêu cầu những định chế cho vay và chấp nhận những tiêu chuẩn vốn mới, chuyển giao quyền diều hành của Ủy ban Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang cho một cơ quan mới, văn phòng giám sát tiết kiệm, một cục thuộc Bộ tài chính Mỹ; và đặt 12 Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang khu vực dưới sự kiểm soát của Ủy ban giám sát, Ủy ban tài chính nhà ở Liên bang. Đạo luật cũng bãi bỏ Công ty Bảo hiểm Cho vay và Tiết kiệm Liên bang (FSLIC) không còn tồn tại nữa. Đạo luật này gồm những điều khoản chính như sau: (1) Thiết lập hai quỹ bảo hiểm tiền gửi liên bang mới, quỹ bảo hiểm ngân hàng, bảo hiểm tiền gửi trong ngân hàng thương mại và quỹ bảo hiểm hiệp hội tiết kiệm, lên đến $100,000 cho một tài khoản. Cả hai quỹ này đều được quản lý bởi Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang. (2) Cho phép cơ quan liên bang mới, công ty tài trợ quyết toán (REFCORP), cung cấp tài chính thanh toán nợ của các hiệp hội tiết kiệm phá sản. Refcorp phát hành $30 tỷ trái phiếu lãi suất zero bằng quỹ từ lợi nhuận được giữ lại của Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang. Một khoản bổ sung $20 tỷ trong tiết kiệm giải quyết dứt nợ được tăng trực tiếp bởi Bộ tài chính Mỹ, thông qua bán trái phiếu kho bạc. (3) Thiết lập cơ quan liên bang mới, công ty tín thác quyết toán (RTC), để phát mã tài sản của những hiệp hội tiết kiệm thua lỗ. Những hoạt động của RTC như người thanh lý cho các quỹ thua lỗ S&L, sẽ được cung cấp tài trợ bởi chứng khoán được phát hành của Công ty Tài trợ Quyết toán hoặc các khoản vay trực tiếp cuả Kho bạc và số tiền vay từ Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang. (4) Mở rộng ban giám đốc của công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang từ ba lên năm thành viên, bao gồm ban giám đốc văn phòng Giám sát tiết kiệm, và hai người được Tổng thống bổ nhiệm và được Thượng viện phê chuẩn. (5) Yêu cầu các định chế cho vay và tiết kiện đáp ứng tiêu chuẩn vốn tối thiểu: vốn hữu hình là 1.5% của tổng tài sản, "vốn cơ bản" là vốn hữu hình cộng tài sản vô hình tương đương với 3% tổng tài sản phát sinh trong việc sáp nhập; và vốn dựa trên rủi ro tương đương 6.4% tài sản rủi ro (8% sau ngày 1 tháng 1 năm 1993). Tài sản vô hình được loại khỏi vốn cơ bản năm 1994. (6) Cấp phép một logo bảo hiểm mới cho các định chế tiết kiệm và cho vay, bao gồm những từ " được bảo đảm bằng tín chấp đầy đủ của chính phủ Mỹ". (7) Yêu cầu các định chế cho vay và tiết kiệm đáp ứng một kiểm định mới là "tổ chức cho vay tiết kiệm uy tín" của 70% danh mục đầu tư tài sản trong thế chấp nhà ở hoặc chứng khoán liên quan đến thế chấp. (8) Tăng phí bảo hiểm tiền gởi được trả bởi các ngân hàng thương mại, và phí được trả bởi những định chế cho vay và tiết kiệm, để tái vốn hóa các quỹ bảo hiểm tiền gởi liên bang. (9) Cho phép các Ngân hàng thương mại và những định chế cho vay và tiết kiệm, mua lại các hiệp hội tiết kiệm có tình hình tài chính tốt ở các tiểu bang khác. (10) Cho phép những cơ quan điều tiết ngân hàng nắm giữ tài sản của những ngân hàng lành mạnh khi một ngân hàng thành viên phá sản. (11) Cấm, với một số ngoại lệ, những tổ chức tiết kiệm và cho vay chuyển từ Quỹ Bảo hiểm Hiệp hội tiết kiệm sang Quỹ bảo hiểm Ngân hàng, cho kì hạn năm năm kết thúc vào năm 1994. (12) Yêu cầu những hiệp hội tiết kiệm tôn trọng những tiêu chuẩn vốn dựa trên rủi ro tương tự như những ngân hàng quốc gia. (13) Yêu cầu những hiệp hội tiết kiệm tôn trọng cùng hạn mức cho vay trong các khoản vay, dành cho bên vay riêng lẻ như những ngân hàng quốc gia: giới hạn khoản vay pháp lí tương đương 15% vốn trong các khoản vay không được bảo lãnh, và 25% vốn trong các khoản vay bảo lãnh. (14) Yêu cầu các hiệp hội tiết kiệm bán đi những những trái phiếu đầu cơ trước ngày 1 tháng 7 năm 1994, và tuân thủ những quy tắc đầu tư như những ngân hàng thương mại. Những trái phiếu đầu cơ và những khoản đầu tư trực tiếp của những tổ chức cho vay và tiết kiệm, phải được nắm giữ cho những công ty chi nhánh vốn hóa riêng biệt. (15) Cho phép ngân hàng cho vay nhà ở Liên bang khu vực chấp nhận những ngân hàng thương mại như những định chế thành viên, và thực hiện tạm ứng tín dụng đối với những ngân hàng thương mại ít nhất 10% tài sản trong thế chấp nhà ở. (16) Cấm sử dụng tiền gởi đã qua môi giới bởi các hiệp hội tiết kiệm không đáp ứng quy định vốn tối thiểu. (17) Yêu cầu những ngân hàng cho vay nhà ở khu vực thiết lập chương trình Nhà ở khả thi, và bảo lãnh một phần trăm lợi nhuận giữ lại, làm thế chấp cho những người vay thu nhập thấp. (18) Cấm miễn giảm thuế đối với những tổ chức mua lại các hiệp hội tiết kiệm phá sản. (19) Chỉ thị bộ tài chính Mỹ và cục Kế toán tiến hành nghiên cứu bảo hiểm tiền gởi dựa trên rủi ro, kế toán định giá thị trường và những vấn đề khác. (20) Cho phép những ngân hàng thương mại mua bán các dịch vụ ngân hàng trực tiếp cho những công ty thành viên phi ngân hàng, và những công ty thành viên do ngân hàng sở hữu. (21) Tái cơ cấu Công ty thế chấp khoản vay Nhà ở Liên bang như một công ty sở hữu cổ phần với hội đồng quản trị gồm 18 thành viên. Những người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi của Freddie Mac được trao quyền đổi cổ phiếu ưu đãi lấy cổ phiếu thường có quyền bỏ phiếu. (22) Điều chỉnh Đạo luật công khai thế chấp nhà ở, để yêu cầu những bên cho vay thế chấp thu nhập và báo cáo dữ liệu, cho tổ chức điều tiết trên những thế chấp bằng hình thức ghi chép dữ liệu. (23) Điều chỉnh đạo luật Tái đầu tư Cộng đồng, để yêu cầu những tổ chức điều tiết ngân hàng liên bang công khai sự tuân thủ của bên cho vay hàng năm theo thang A-B-C-D. (24) Chỉ thị việc thẩm định giá bất động sản cần tuân thủ chứng nhận và những tiêu chuẩn cấp phép tiểu bang. (25) Mở rộng quyền cưỡng chế của cơ quan điều tiết ngân hàng, cho phép những cơ quan ngân hàng đánh giá tiền phạt dân cư lên tới $1 triệu một ngày và phạt hình sự lên đến $5 triệu một ngày, và bổ sung gian lận ngân hàng đối với những tội ác được đề cấp trong Đạo luật Tổ chức Tham nhũng và Gian lận (RICO)
Financial Innovation / Cải tiến tài chính
Những tiến bộ của hệ thống thanh toán thay đổi hoặc bổ xung vai trò của ngân hàng và những định chế tài chính nói chung, như những bên trung gian giữa nhà cung cấp và người sử dụng nguồn vốn. Cải tiến công nghệ như chuyển tiền điện tử, thay thế những chi phiếu bằng ghi nợ và ghi có điện tử. Những cải tiến chuyển rủi ro như thế chấp có lãi suất điều chỉnh, chuyển rủi ro tín dụng từ một bên cho bên khác. những cải tiến về tín dụng như hạn mức tín dụng tài sản nhà ở, cung cấp cho những người vay cách thức mới để sử dụng tài sản tài chính, tăng nguồn cung tín dụng hiện có. Những cải tiến khác như cổ phiếu ưu đãi tín thác, cung cấp cho ngân hàng cách thức ít tốn kém hơn để tăng vốn thay vì phát hành mới cổ phiếu thường.
Financial Holding Company (FHC) / Công ty cổ phần tài chính
Tổ chức tài chính tham gia trong phạm vi rộng các hoạt động liên quan đến ngân hàng, được lập ra bởi Đạo luật Gramm-Leach-Billey năm 1999. Những hoạt động này bao gồm: bảo hiểm, giao dịch và bảo lãnh phát hành chứng khoán, dịch vụ tư vấn đầu tư và tài chính, nghiệp vụ ngân hàng thương mại, phát hành và bán tài sản chứng khoán hóa, và thường tham gia bất kì hoạt động phi ngân hàng được cho phép bởi Đạo luật Công ty Ngân hàng mẹ. Công ty cổ phần tài chính được quyền tham gia các hoạt động có bản chất "tài chính" và "liên quan" đến những hoạt động tài chính. Ủy ban dự trữ liên bang chịu trách nhiệm giám sát tình hình tài chính và những hoạt động của công ty cổ phần tài chính. Tương tự như vậy, bất kì công ty thương mại không phải là ngân hàng, mà "chủ yếu" tham gia vào hoạt động tài chính, có 85% hoặc hơn thu nhập gộp từ các hoạt động tài chính, có thể lựa chọn để trở thành công ty cổ phần tài chính. Những công ty này được yêu cầu bán mọi doanh nghiệp (thương mại) phi tài chính trong vòng 10 năm.
Financial Guarantee / Bảo đảm tài chính
Trái phiếu bồi thường không thể hủy bỏ bảo đảm thanh toán kịp thời vốn gốc và tiền lãi chứng khoán của ngày đáo hạn. Nếu bên phát hành không thể chi trả thì bên bảo lãnh sẽ trả một số tiền cố định cho người nắm giữ chứng khoán. Bảo đảm tài chính tương tự thư tín dụng hỗ trợ, nhưng được một công ty bảo hiểm phát hành. Xem: CREDIT ENHANCEMENT; MUNICIPAL BOND INSURANCE.
Financial Future / Hợp đồng tài chính kì hạn
Hợp đồng kì hạn trên một côn cụ tài chính. Giá trị của hợp đồng tăng hoặc giảm phụ thuộc vào sự thay đổi của lãi suất. Hợp đồng tăng giá trị khi lãi suất giảm và giảm giá trị khi lãi suất tăng. Những bên giao dịch sử dụng hợp đồng tài chính kì hạn để đầu cơ theo hướng lãi suất trong tương lai, trong khi những định chế tài chính (như ngân hàng thế chấp và những định chế tiết kiệm) sử dụng những hợp đồng kì hạn để tự bảo vệ chống giảm giá, và bảo vệ giá trị tài sản trong danh mục đầu tư của họ. Giao dịch hợp đồng tài chính tương lai được giám sát bởi Ủy ban giao dịch Hợp đồng Hàng hóa kì hạn, tổ chức tự điều hành liên bang. Những hợp đồng tài chính tương lai giao dịch dựa trên trao đổi hàng hóa bao gồm, những hợp đồng về trái phiếu kho bạc và trái phiếu kì hạn, những chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, chứng khoán trung gian của Hiệp hội Thế chấp Quốc gia của Chính phủ (Ginnie Mae), ngoại tệ vè chỉ số thị trường chứng khoán. Xem CURRENCY FUTURES; INTEREST RATE FUTURES
Financial Accounting Standards Board (FASB) / Ủy ban tiêu chuẩn Kế toán Tài chính
Ủy ban tự điều hành gồm bảy thành viên, có trụ sở tại Norwalk, Connecticut, đề ra những quy tắc kế toán cho kế toán viên công chứng. Đươc tổ chức vào năm 1973, những quy định về Tiêu chuẩn kế toán Tài chính của nó là cơ sở cho những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAPs).
Finance Charge / Chi phí tài chính
Tổng chi phí tín dụng của người vay, bao gồm tiền lãi, phí cam kết và tiền lãi trả trước, trong một khoản vay tiêu dùng. Trong Đạo luật Trung thực trong Cho vay, phí tài chính phả được công khai như tổng chi phí của tín dụng. Đối chiếu với lãi suất phần trăm hàng năm, phát biểu chi phí tín dụng như lãi suất hàng năm. Chi phí tài chính không bao gồm phí thanh toán trễ hạn, chi phí hàng năm như chi phí hàng năm cỉa thẻ tín dụng, và bảo hiểm tín dụng, ngoại trừ những trường hợp mà người cho vay yêu cầu trước khi cho vay.
Finance Bill / Hối phiếu tài chính
Hối phiếu khi được ngân hàng chấp nhận, trở thành một nguồn tín dụng ngắn hạn cho vốn lưu động thay vì tài chính xuất nhập khẩu. Hối phiếu tài chính thường có ngày đáo hạn lâu hơn 60 ngày, đôi khi được phát hành trong những thời kì tiền tệ thắt chặt. Chúng chịu những yêu cầu về dự trữ, không giống như phiếu chấp nhận của ngân hàng thông thường, và không thể tái chiết khấu tại phòng cho vay có chiết khấu của Dự trữ Liên bang. Cũng được gọi là hối phiếu ngân hàng hoặc phiếu chấp nhận vốn lưu động.
Finality of Payment / Kết thúc thanh toán
Bảo đảm thanh toán với bên nhận chuyển tiền bằng điện tử. Khoản thanh toán liên ngân hàng qua Mạng lưới chuyển tiền Dự trữ liên bang (Chuyển tiền Liên bang) là kết thúc và không thể hủy ngang khi đã truyền đi, và được ghi có vào tài khoản dự trữ của ngân hàng nhận tại thời điểm giao dịch. Xem: NET SETTLEMENT, SAME DAY FUNDS.
Fiduciary / Bên được ủy thác
Là người hoặc tổ chức hợp pháp quản lí những khoản đầu tư vì lợi ích của người khác. Bên được ủy thác có nghĩa vụ pháp lí để bảo vệ những tài sản tín thác, vì lợi ích tốt nhất của những người mà nó đại diện. Luật Tiểu bang, Đạo luật Ủy thác Thống nhất, kiểm soát việc mà những người được ủy thác có thể hoặc không thể thực hiện với những tài sản được ủy thác.
Flat Money / Tiền giấy
Tiền bằng giấy được bảo đảm bằng sắc lệnh của chính phủ phát hành, rằng có thể chấp nhận như đồng tiền giá tri pháp định. Giá tri của nó xuất phát từ lòng tin của công chúng, thay vì khả năng chuyển đổi thành vàng hoặc đồng tiền mạnh khác.





