Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Economic Base Multiplier / Nhân Tử Cơ Sở Kinh Tế

Một dạng của nhân tử khu vực ước tính ảnh hưởng của những thay đổi trong một cơ sở kinh tế vùng đối với toàn bộ nền kinh tế của vùng.

Economic Base / Cơ Sở Kinh Tế

Những hoạt đông kinh tế mà sự tăng trưởng và phát triển của chúng được coi là có vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của một vùng hay của một thị trấn.

Cơ Sở Kinh Tế (Economic Base) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Economic Agent / Đại Diện Kinh Tế

Đại diện kinh tế, theo kinh tế học thì đó là một chủ thể ra quyết định trong một mô hình. Thông thường, người đó ra quyết định bằng cách giải quyết vấn đề tối ưu hoá. Chẳng hạn, người bán và người mua là hai hình thức đại diện thường gặp trong các mô hình cân bằng cục bộ của một thị trường đơn. Các mô hình kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mô hình cân bằng tổng quát thường dựa trên những cơ sở vi mô, và coi các hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ, hoặc ngân hàng Trung ương là những đại diện chính trong nền kinh tế - Những hình thức đại diện khác nhau như vậy sẽ đóng vai trò làm đa dạng nền kinh tế.

Econometrics / Kinh Tế Lượng

Kinh tế lượng là một ngành khoa học thuộc kinh tế, và phần lý thuyết của nó thường được xem là gần gũi với thống kê toán. Theo tác giả Damodar Gujarati, tác giả của hai cuốn rất nổi tiếng Essentials of Econometrics và Basic Econometrics, thì có thể xem kinh tế lượng một cách "nôm na" là bộ môn khoa học về các hệ thống độ đo và phép đo lường kinh tế. Có một điểm khác biệt là độ bao phủ và mức độ ảnh hưởng trong quan sát của kinh tế lượng vượt ra xa rất nhiều so với những khái niệm đơn thuần như tính toán GDP, thất nghiệp, lạm phát, xuất nhập khẩu. Định nghĩa được sử dụng rộng rãi và có tính mô tả cao hơn có thể được xem xét dưới đây. Kinh tế lượng được định nghĩa như một ngành khoa học xã hội trong đó các công cụ lý thuyết kinh tế, toán học và suy diễn thống kê được ứng dụng để phân tích các hiện tượng kinh tế. Một cách nhìn khác được đưa ra như sau. Kinh tế lượng, với tư cách kết cục của một đánh giá nhất định về vai trò của kinh tế học, bao gồm việc ứng dụng các khái niệm-phương pháp của thống kê toán lên các dữ liệu kinh tế để đưa ra những lập luận ủng hộ có tính thực chứng đối với những mô hình xây dựng trên kinh tế toán. Kinh tế lượng có ý nghĩa cung cấp cả những kết quả tính toán số.

Kỹ thuật lập mô hình kinh tế tìm cahcs gải thích theo thuật ngữ toán học những liên hệ giữa các biến số kinh tế then chốt, như chi tiêu vốn, tiền lương, lãi suất ngân hàng, khuynh hướng dân số, và cả những chính sách tiền tệ và lãi khoa của chính phủ. Một mô hình kinh tế lượng giúp những người lập kế hoạch của doanh nghiệp kiểm tra những giả thuyết khác nhau, nhằm giải thích tại sao nền kinh tế vận hành như vậy, ví dụ, quan hệ giữa Yêu Cầu Dự Trữ Của Ngân Hàng và sự biến động lãi suất ngân hàng. Điều này giúp cho các tổ chức thăm dò những phương án khác nhau trong dự án tăng trưởng kinh doanh. Xem REGRESSION ANALYSIS: TECHNICAL ANALYSIS.

Econometric Model / Mô Hình Kinh Tế Lượng

Một mô hình toán học của một nền kinh tế hay một bộ phận của một nền kinh tế mà các tham số của nó được ước tính bằng phương pháp kinh tế lượng.

Ecolabel / Nhãn Sinh Thái

Là sự công bố bằng lời hoặc ký hiệu hoặc sơ đồ nhằm chỉ rõ các thuộc tính môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ. Nói cách khác, nhãn sinh thái cung cấp các thông tin về sản phẩm hoặc dịch vụ trong mối liên hệ với đặc tính môi trường, các khía cạnh môi trường chung và đặc thù của sản phẩm hoặc dịch vụ đó.Mục đích của nhãn sinh thái là khuyến khích việc sản xuất và tiêu dùng những sản phẩm thân thiện với môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội gắn với lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp. Tuy nhiên hiện nay, do sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt, các yếu tố môi trường đang có nguy cơ bị lợi dụng để làm các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế. Năm 1978, Cộng hoà liên bang Đức bắt đầu cuộc vận động về nhãn sinh thái cùng với việc giới thiệu mác “Thiên thần xanh” cho các sản phẩm đã được lựa chọn. Kể từ đó đến nay, hơn 30 quốc gia trên thế giới đã chấp nhận các chương trình tương tự về nhãn sinh thái, trong đó có các nước phát triển như Mỹ, EU, Nhật... và một số nước đang phát triển trong đó có Thái Lan... Các quy định liên quan đến nhãn sinh thái đã được đề cập đến trong luật Môi trường năm 2005.

EC Agricultural Livies / Thuế Nông Nghiệp Của EC

Thuế do các thành viên của cộng đồng châu Âu (EC) đánh vào hàng nông phẩm nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên.

EBIT Margin / Hệ Số Biên Lợi Nhuận Trước Thuế Và Lãi Vay

Hệ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay (thường được biết đến nhiều hơn với cái tên hệ số biên lợi nhuận hoạt động - tiếng Anh: operating profit margin) phản ánh hiệu quả quản lý tất cả chi phí hoạt động, bao gồm giá vốn và chi phí bán hàng, chi phí quản lý của doanh nghiệp.

Easy-Money Policy / Chính Sách Tiền Tệ Dễ Dàng

Chính sách tiền tệ dễ dàng là chính sách tiền tệ trong đó cơ quan tiền tệ trung ương, như Cục dự trữ Liên Bang, tìm kiếm các biện pháp để tạo ra nhiều tiền với tỉ lệ lãi suất thấp. Chính sách tiền tệ dễ dàng được áp dụng nhằm khuyến khích đầu tư và phát triển kinh tế. Tuy nhiên việc này cũng có thể dẫn đến lạm phát. Từ năm 2007 đến nay, Cục dự trữ Liên Bang đã liên tục theo đuổi chính sách tiền tệ dễ dàng nhằm kích thích nền kinh tế và giúp nước Mỹ thoát khỏi nguy cơ suy thoái do cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn gây ra. Trái với Chính sách tiền tệ dễ dàng là Chính sách tiền chặt.

Easy Money / Tiền Dễ Vay

Tình trạng chung của việc vay tiền dễ dàng và rẻ trong hệ thống tài chính.

East-West Economic Corridor-Ewec / Hành Lang Kinh Tế Đông Tây

Khái niệm về EWEC được đưa ra tại hội nghị các bộ trưởng lần thứ 8 tại Manila – Philippines vào tháng 10 năm 1998.  Hành lang kinh tế đông tây là : Tuyến hành lang dài 1.450km, đi qua 4 nước, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine (bang Mon) đến cửa khẩu Myawaddy (bang Kayin) ở biên giới Myanmar - Thái Lan. Ở Thái Lan, bắt đầu từ Maesot, chạy qua 7 tỉnh: Tak, Sukhothai, Kalasin, Phitsanulok, Khon Kaen, Yasothon và Mukdahan. Ở Lào, chạy từ tỉnh Savanakhet đến cửa khẩu Dansavanh. Và ở VN, chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua các tỉnh thành Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng. Và quan trọng là nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương với một cự ly không thể ngắn hơn Về mặt địa lý hành lang kinh tế đông tâylà một liên vùng rộng lớn mà tới nay vẫn chưa phânđịnhranh giới rõ ràng: là tuyến hành lang dài 1.450km, đi qua 4 nước, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine (bang Mon) đến cửa khẩu Myawaddy (bang Kayin) ở biên giới Myanmar - Thái Lan. Ở Thái Lan, bắt đầu từ Maesot, chạy qua bảy tỉnh: Tak, Sukhothai, Kalasin, Phitsanulok, Khon Kaen, Yasothon và Mukdahan. Ở Lào, chạy từ tỉnh Savanakhet đến cửa khẩu Dansavanh. Và ở VN, chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua các tỉnh thành Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng.  Và quan trọng là nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương với một cự ly không thể ngắn hơn.  EWEC được thành lập nhằm mục đích gì? Đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa các địa phương của bốn nước dọc theo EWEC. Tạo thuận lợi cho thương mại , đầu tư  và phát triển kinh tế . Giảm chi phí vận tải tại các địa phương dọc theo EWEC, giúp cho việc vận chuyển hàng hóa và hành khách đạt hiệu quả cao hơn. Góp phần xóa đói, giảm nghèo tại các địa phương dọc theo EWEC. Các dự án lớn: Xây dựng tuyến đường bộ Đông-Tây. Xây dựng cảng chung chuyển tại Mawlamyine (hoặc Yangon) và Đà Nẵng. Thuận lợi hóa vận chuyển người và hàng hóa qua biên giới. Phát triển nguồn nhân lực phục vụ giao thông vận tải. Phát triển năng lượng (điện năng). Thúc đẩy thực hiện các hiệp định về trao đổi năng lượng. Phát triển cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc. Phát triển du lịch. Các sáng kiến về hành lang kinh tế: Các sáng kiến của Ban Công tác Phát triển Hành lang Đông-Tây thuộc ủy ban hợp tác kinh tế và công nghiệp ASEAN -METI. Ngoài ra, còn gần 70 dự án/tiểu dự án khác trong các lĩnh vực giao thông vận tải, thông tin liên lạc, du lịch, tạo thuận lợi cho thương mại, nông nghiệp, đầu tư tư nhân và phát triển các khu công nghiệp . Các dự án này cùng với 10 dự án lớn nói trên hợp thành ma trận phát triển. Lợi thế của EWEC: Đây là một vùng có tiềm năng phát triển. Chẳng hạn, miền Trung Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, nằm giữa trục giao thông Bắc - Nam, là cửa ngõ hành lang đường bộ xuyên quốc gia tiến ra biển, có điều kiện phong phú để phát triển du lịch. Trung và Hạ Lào có tiềm năng về đất lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản. Các tỉnh Đông Bắc Thái Lan và của Myanmar có tiềm năng lớn về nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng.  Khu vực đa sắc tộc, có các nền văn hóa đa dạng, phong phú, có nhiều danh thắng, di tích lịch sử nổi tiếng đã được quốc tế công nhận. Hành lang của những địa phương nghèo: Các tỉnh thuộc 4 quốc gia mà hành lang này đi qua đều là những địa phương nghèo. Đơn cử như khu vực từ Đà Nẵng đến Quảng Trị của Việt Nam, vẫn còn là những khu vực trước đây ít được các nhà đầu tư chú ý. Tuy nhiên, trong 5 năm trở lại đây, khu vực này đã được quan tâm nhiều hơn. Bằng chứng là, có nhiều dự án đầu tư lớn đang và sẽ được triển khai tại đây. Khi hành lang này đi vào hoạt động, các địa phương dọc Hành lang sẽ có được cơ hội lớn là liên kết thông qua một trục đường bộ thông suốt. Thông qua các dự án thuộc EWEC, những người dân sống trong vùng hành lang này sẽ có nhiều cơ hội để thay đổi cuộc sống Những dấu hiệu khởi sắc: Ðón đầu EWEC, những năm qua, Việt Nam đã tập trung nguồn lực để thông hầm qua đèo Hải Vân, nâng cấp quốc lộ 9, quốc lộ 1A và hệ thống cảng biển. Ðến nay EWEC đã nối liền với những hải cảng lớn ở miền trung, như cảng Chân Mây (Thừa Thiên - Huế), cảng Tiên Sa, cảng Liên Chiểu (Ðà Nẵng) cho tàu sức chở 50 nghìn DWT, với công suất cụm cảng khoảng sáu triệu tấn/năm. Hệ thống sân bay quốc tế ở Ðà Nẵng, Huế được nâng cấp để đón mỗi năm khoảng tám triệu lượt khách. Cùng đó là hàng loạt các khu kinh tế, khu thương mại mở ra với những chính sách ưu đãi đặc biệt, như Lao Bảo, Chân Mây, Hòa Khánh, Chu Lai, Dung Quất... Trên đất nước Lào, những dự án đầu tư ven EWEC đang được triển khai, hứa hẹn một tương lai sáng sủa và là niềm tự hào của những người dân nơi đây. Khu cửa khẩu Hữu Nghị, nơi có một "Las Vegas" phương Ðông hay Ðen-sa-vẳn, một "thiên đường mua sắm". Thái Lan với hoạt động thương mại và du lịch hướng về phía đông rất mạnh và có chiều sâu ở cả 17 tỉnh Ðông Bắc. Thực tế những năm gần đây, giới doanh nhân Thái đã gặt hái được rất nhiều từ EWEC, thông qua đầu tư vào các tỉnh miền trung Việt Nam và Lào. Điểm yếu: Bản thân EWEC hiện trạng vẫn được coi là một vùng liên nghèo, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém. Tuy nhiên với tiềm năng về địa lý, đất đai, tài nguyên khoáng sản và đặc biệt là tính chất văn hóa đa sắc tộc, khả năng phát triển ở khu vực này vẫn được coi là rất lớn, rất mạnh mẽ và mang tính bền vững cao vì nó thoả mãn các yêu cầu chính trị cho mỗi nước thành viên tham gia. Cho nên dù vẫn nhấn mạnh quan điểm cùng hợp tác, cùng phát triển và cùng thắng, EWEC vẫn ẩn chứa yếu tố cạnh tranh giữa các nước, các địa phương với mục tiêu tận dụng một cách hiệu quả nhất hành lang kinh tế này. Trung Quốc, Nhật Bản cũng muốn khai thác EWEC: Đại diện chính quyền tỉnh Quảng Tây nói rằng Trung Quốc sẽ không bỏ qua cơ hội khai thác tiềm năng thị trường của EWEC, trước hết là thực hiện việc kết nối thị trường này với các khu mậu dịch tự do phía nam Trung Quốc. Từ năm 2005, Vân Nam và Quảng Tây đã chính thức có mặt trên EWEC với việc triển khai thúc đẩy các dự án xây dựng 2 tuyến đường bộ, 2 tuyến đường sắt và 3 cảng biển kết nối với các điểm đến trên EWEC, dự án mở rộng vành đai du lịch vùng tây nam Trung Quốc với các điểm đến trong Tiểu vùng Mekong, các dự án hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật các cửa khẩu nối với các nước GMS.   Giám đốc điều hành cao cấp của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) phụ trách khu vực châu Á, ông Tetsuo Shioguchi xác định để khai thác EWEC tốt, phải có tầm nhìn rộng hơn những gì đang diễn ra ở đây. Chính vì thế Ngân hàng đã ưu tiên cung cấp vốn ODAcho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo của các nước thành viên.

East Asia Vision Group / Nhóm Tầm Nhìn Đông Á

Nhóm Tầm nhìn Đông Á được thành lập năm 1999 tại Seoul (Hàn Quốc) và mỗi nước ASEAN+3 (gồm ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) có hai nhà khoa học đại diện. Nhiệm vụ chủ yếu của nhóm là đưa ra chiến lược hợp tác trong khu vực. Tháng 10/2001, Báo cáo "Hướng tới một cộng đồng Đông Á" của nhóm được trình tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 tại Bandar Seri Begawan, Brunei. Bản báo cáo "Hướng tới một cộng đồng Đông Á" gồm 22 đề xuất quan trọng với 57 biện pháp cụ thể cho hợp tác khu vực trong sáu lĩnh vực: kinh tế, tài chính, an ninh chính trị, môi trường, văn hóa xã hội và thể chế nhằm xây dựng một Cộng đồng Đông Á. Điẻm nổi bật trong đề xuất này là hợp tác Đông Á sẽ chú trọng vào phát triển con người, giảm đói nghèo và khoảng cách kinh tế giữa các nước. Đề xuất cũng nhấn mạnh sự phối hợp của các chính phủ trong hợp tác khu vực. Hợp tác kinh tế sẽ là nền tảng và chất xúc tác cho hợp tác trong các lĩnh vực còn lại. Nhóm Tầm nhìn Đông Á cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tính hài hòa của Cộng đồng Đông Á với hệ thống thế giới. Trong hợp tác kinh tế, Báo cáo đưa ra 15 biện pháp cụ thể, trong đó có những đề xuất quan trọng được đưa ra với mục tiêu cuối cùng là thành lập Cộng đồng Kinh tế Đông Á:- Thành lập khu vực mậu dịch tự do Đông Á (EAFTA) và tự do hóa thương mại sớm hơn mục tiêu của APEC,- Thiết lập Ủy ban cấp bộ trưởng nhằm đánh giá phát triển EAFTA,- Hình thành Ủy ban kinh doanh Đông Á,- Khuyến khích hợp tác, phát triển và công nghệ khu vực- Thực hiện một nền kinh tế tri thức và thiết lập một cơ cấu kinh tế vì tương lai. Hợp tác tài chính cũng là một trọng tâm quan trọng trong đề xuất của Nhóm Tầm nhìn Đông Á. Nhóm đề xuất cách tiếp cận từng bước, xoay quanh ba trụ cột chính của hợp tác tài chính là thế chế tín dụng khu vực, cơ chế tỷ giá và cơ chế giám sát với các biện pháp cụ thể: * Thành lập Quỹ tự hợp tác tài chính cho hỗ trợ nội bộ khu vực, ví dụ như Regional Arrangements to Borrow, hoặc Quỹ tiền tệ Đông Á (đặc điểm cơ bản của Quỹ này là bổ trợ cho IMF, chứ không cạnh tranh với IMF như đề xuất Quỹ tiền tệ Châu Á- AMF)* Thực hiện một cơ chế phối hợp tỷ giá nhằm ổn định tài chính và phát triển kinh tế. Theo đánh giá của nhóm, một tỷ giá linh hoạt nhưng ổn định sẽ tốt hơn cho phát triển kinh tế dài han so với một tỷ giá hoàn toàn thả nổi. Do vậy, nhóm cho rằng cơ chế tỷ giá neo theo rổ tiền tệ sẽ phù hợp hơn việc neo vào một đồng tiền duy nhất. Việc phối hợp thực hiện cơ chế tỷ giá này đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ trong các chính sách tài chính và tài khóa. Về dài hạn, nhóm đề xuất Đông Á là khu vực tiền tệ chung, khi các điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội đã chín muồi.* Tăng cường quy trình giám sát khu vực, bổ trợ quá trình giám sát toàn cầu của ÌM và thống nhất với IMF về các biện pháp tư vấn. Năm 2002, Nhóm Tầm nhìn Đông Á (East Asia Vision Group) đã đệ trình một báo cáo đề nghị chuyển ASEAN+3 thành Hội nghị Cấp cao Đông Á. Tháng 12 năm 2005, Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ nhất được tổ chức tại Kuala Lumpur với sự tham gia của không chỉ các nước thành viên ASEAN+3 mà còn của Australia, New Zealand và Ấn Độ. Tháng 1 năm 2007, Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ hai diễn ra tại đảo Sebu (Philippines).

Earnings Surprise / Độ Chênh Thu Nhập Cổ Phiếu

Độ chênh thu nhập cổ phiếu là mức chênh lệch giữa con số thu nhập trên đầu cổ phiếu, được báo cáo hàng quý hoặc hàng năm của một công ty, so với con số dự báo thống nhất của các nhà phân tích trên thị trường chứng khoán. Thu nhập của một công ty là một chỉ số rất quan trọng trong các phân tích đánh giá (ví dụ để tính P/E chẳng hạn), do vậy nó thường được các nhà phân tích và các nhà đầu tư theo dõi rất sát sao. Trước mỗi quí hay mỗi năm tài chính, các nhà phân tích thường sử dụng các biện pháp tính toán, các biểu mẫu phân tích, các thông tin cơ bản của công ty để đưa ra con số ước tính cho kì tiếp theo. Một con số thống nhất dựa trên sự kết hợp những đánh giá khác nhau của nhiều nhà phân tích sẽ được công bố và coi là một chỉ dẫn quan trọng với thị trường. Khi người ta nói kết quả kinh doanh của một công ty hụt dự đoán (missed estimates) hoặc vượt dự đoán (beaten estimates) thì con số dự đoán được đề cập ở đây chính là con số dự đoán thống nhất của các nhà phân tích trên thị trường. Ví dụ: có 3 nhà phân tích uy tín là X, Y, Z lần lượt đưa ra dự đoán về thu nhập của cổ phiếu công ty FPT năm 2007, lần lượt là 10.000/cp, 14.000/cp, 15.000/cp. Tổng hợp 3 con số dự đoán này, người ta tính ra số ước tính chung là (10 + 14 + 15)/3 = 13.000/cp. Kết thúc năm 2007, FPT làm ăn rất tốt và đạt được mức thu nhập trên đầu cổ phiếu là 20.000/cp. Khi đó 7.000 chính là độ chênh của thu nhập cổ phiếu FPT so với con số dự đoán. Trên thực tế, dù có sử dụng nhiều phương pháp phân tích, dự báo thì những con số dự báo cũng chỉ là những ước tính, có độ chính xác không cao lắm. Điều này khiến các chuyên gia nghiên cứu thị trường chứng khoán cho rằng, thị trường không hoạt động hiệu quả như người ta tưởng, vì tính hiệu quả của thị trường lại bị chi phối bởi những con số ước tính không chính xác lắm, khi chúng căn cứ theo hàng loạt các sự kiện trong tương lai. Điều này giải thích tại sao giá cổ phiếu của một công ty lại nhanh chóng bị điều chỉnh theo những thông tin mới được cung cấp về doanh thu và thu nhập, khi mà những con số này khác với số ước tính. Khi có thông tin về việc thu nhập thực tế cao hơn hoặc thấp hơn so với con số ước tính thì giá cổ phiếu ngay lập tức bị ảnh hưởng. Nếu độ chênh thu nhập cổ phiếu dương thì giá cổ phiếu tăng và ngược lại, khi độ chênh này âm thì giá giảm. Nhưng không phải độ chênh thu nhập cổ phiếu càng dương cao càng tốt vì nếu độ chênh thu nhập dự đoán quá cao, thì thị trường có thể nhìn nhận cổ.

Earnings Per Share Growth Rate / Tỷ Lệ Tăng Trưởng Thu Nhập Trên Cổ Phiếu

Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu cho biết mức tăng trưởng tương đối thu nhập trên cổ phiếu (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp thu nhập trên cổ phiếu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu là không xác định. Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu như sau: Trong đó EPS0 là thu nhập trên cổ phiếu của kỳ hiện tại. EPSi là thu nhập trên cổ phiếu của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. EPS được sử dụng là EPS cơ bản (trong một số trường hợp nhất định nếu đủ dữ liệu có thể thay EPS cơ bản bởi EPS điều chỉnh, hoặc nếu thiếu dữ liệu có thể thay EPS cơ bản bằng EPS pha loãng). Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu được sử dụng trong đánh giá thị giá của doanh nghiệp, tỷ lệ này cao thì doanh nghiệp cũng được đánh giá cao và ngược lại. Tùy vào xu hướng của tỷ lệ tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu mà mức tăng trưởng được đánh giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc. Những doanh nghiệp có mức tăng trưởng thu nhập trên cổ phiếu ổn định ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm.

Earnings Per Share - EPS / Thu Nhập Trên Cổ Phần

Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức: EPS = (Thu nhập ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / lượng cổ phiếu bình quân đang lưu thông Trong việc tính toán EPS, sẽ chính xác hơn nếu ta sử dụng lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kì để tính toán vì lượng cổ phiếu thường xuyên thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên trên thực tế người ta thường hay đơn giản hoá việc tính toán bằng cách sử dụng số cổ phiếu đang lưu hành vào thời điểm cuối kì. Có thể làm giảm EPS dựa trên công thức cũ bằng cách tính thêm cả các cổ phiếu chuyển đổi, các bảo chứng (warrant) vào lượng cổ phiếu đang lưu thông. EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá cổ phiếu. Đây cũng chính là bộ phậnchủ yếu cẩu thành nên tỉ lệ P/E. Ví dụ: giả định rằng một công ty có thu nhập ròng là 25 triệu đôla. Nếu công ty trích 1 triệu đôla để trả cổ tức ưu đãi và có khoảng 10 triệu cổ phần trong nửa năm đầu, có 15 triệu cổ phần trong nửa năm còn lại, khi đó EPS của công ty được tính như sau: EPS = 24 /12.5 = 1.92. Trong đó 24 triệu đôla là số tiền còn lại sau khi chia cổ tức ưu đãi (25-1); 12.5 là bình quân gia quyền của số cổ phiếu lưu hành trên thị trường trong kì tính toán = 0.5 x 10+ 0.5 x 15 = 12.5.Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công thức tính trên. Hai doanh nghiệp có thể có cùng tỉ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần hơn_tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại. Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kĩ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo "chất lượng" của tỉ lệ này. Tốt hơn hết là không nên dựa vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác.

Earnings Momentum / Lợi Nhuận Tăng Tốc

Thuật ngữ này có thể hiểu là kiểu tăng tỷ lệ phát triển trong lợi nhuận mỗi cổ phần (Earnings per Share) từ thời khoảng này đến thời khoảng khác, thường làm cho giá chứng khoán tăng. Ví dụ, một công ty có lợi nhuận cho mỗi cổ phần tăng đến 15% năm này và 35% cho năm kế tiếp tức là có lợi nhuận tăng tốc và sẽ thu thêm được lợi nhuận trong giá chứng khoán đó.

Earnings Function / Hàm Thu Nhập

Mối quan hệ hàm số giữa các mức thu nhập và các yếu tố quyết định chúng.

Earnings Estimate / Earnings Estimate (Doanh Thu Ước Tính)

Những khoản doanh thu dự kiến hàng quý hoặc hàng năm của một công ty nhất định, ví dụ như là ước tính của cá nhân một nhà phân tích thị trường hoặc của công ty nào khác. Doanh thu ước tính được các nhà đầu tư theo dõi chặt chẽ bởi chỉ số này là dấu hiệu quan trọng về triển vọng của công ty trong tương lai, tuy nhiên, ngay cả đến các chuyên gia cũng thường gặp phải khó khăn khi dự đoán con số doanh thu một cách chính xác. Các nhà phân tích thường sử dụng các mô hình dự báo, hướng dẫn quản lý và các thông tin cơ bản của công ty trong kỳ để đưa ra những con số dự kiến chính xác nhất.

Earnings Driff / Khuynh Hướng Tăng Thu Nhập

Tăng thu nhập hàng tuần vượt mức tăng mức lương đã thoả thoả thuận.

Earnings Before Interest, Taxes, Depreciation And Amortization - EBITDA / Thu Nhập Trước Thuế, Trả Lãi Và Khấu Hao

Thông thường thì các nhà đầu tư hay chú ý tới dòng tiền, thu nhập ròng và doanh số như là các thước đo cơ bản về giá trị và sức mạnh của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong những năm gần đây đã xuất hiện một chỉ số mới trong các báo cáo quý và báo cáo kế toán, đó chính là EBITDA. Đây là một chỉ số thể hiện tình hình tài chính của một công ty, được tính bởi công thức: EBITDA = doanh thu  - các khoản chi phí (trừ tiền trả lãi, thuế, khấu hao) EBITDA có thể được sử dụng để phân tích và so sánh mức lãi giữa các công ty hoặc các ngành bởi chỉ số này đã loại bỏ được ảnh hưởng do các quyết định về mặt kế toán và tài chính gây ra. EBITDA ban đầu được sử dụng trong hoạt động sáp nhập, thôn tính vào những năm 80, khi đó chỉ số này chủ yếu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán nợ của một công ty. Sau đó, nó trở nên phổ biến hơn trong các ngành có tài sản giá trị lớn, cần chiết khấu trong thời gian dài. Ngày nay thì EBITDA được sử dụng phổ biến trong rất nhiều công ty, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Một nhầm lẫn thường gặp với  EBITDA đó là người ta nghĩ chỉ số này thể hiện khả năng thu tiền. EBITDA là một chỉ số tốt để đánh giá khả năng sinh lợi nhưng không phải là thước đo đánh giá nguồn tiền. EBITDA cũng không tính đến lượng tiền mặt cần thiết để chi trả các chi phí hoạt động cũng như thay thế các loại thiết bị cũ, mà khoản chi phí này là tương đối lớn. Do đó chỉ số này thường được các công ty sử dụng để đánh bóng hình ảnh của mình, tạo ra một con số kế toán tương đối đẹp về khả năng kiếm lời. Các nhà đầu tư cũng cần phải phân tích kĩ các chỉ số tài chính khác để chắc chắn rằng công ty không cố tình che giấu sự thật nào đó đằng sau EBITDA. Những người khởi xướng ra EBITDA thì cho rằng chỉ số này phản ánh một cách rõ ràng hơn về tình hình hoạt động của công ty vì nó đã loại bỏ các khoản chi phí có thể sẽ che đi những tiến bộ thực sự. Lãi suất_một trong các nhân tố quan trọng trong các quyết định tài chính đã bị bỏ qua. Thuế cũng không được tính đến vì chúng có thể thay đổi rất nhiều phụ thuộc vào các khoản lãi, lỗ trong các kì trước, sự biến động này có thể bóp méo thu nhập ròng thực tế. Cuối cùng,  EBITDA loại bỏ đi yếu tố chủ quan, tuỳ ý trong việc tính khấu hao ví dụ như thời gian hữu ích, giá trị thặng dư, và các phương pháp tính khấu hao khác nhau. Bằng việc loại trừ các yếu tố này EBITDA khiến cho việc so sánh năng lực tài chính giữa các công ty dễ dàng hơn. Chỉ số này cũng rất hữu dụng trong việc đánh giá các công ty có cơ cấu vốn, mức thuế và chính sách khấu hao khác nhau. Đồng thời các nhà đầu tư cũng có thể xác định được lượng tiền mà một công ty mới mở hoặc công ty vừa cơ cấu lại có thể tạo ra trước khi thanh toán cho chủ nợ và cơ quan thuế. Lý do chính EBITDA' được sử dụng phổ biến là chỉ số này cho thấy mức lợi nhuận cao hơn thông thường. Công ty sẽ khiến cho bức tranh tài chính của mình thêm sáng sủa bằng cách đưa thêm chỉ số EBITDA, đánh lạc hướng chú ý của các nhà đầu tư khỏi tỉ lệ nợ và chi phí hoạt động cao.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55