Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Economy / Nền Kinh Tế

Một nền kinh tế là một hệ thống các hoạt động của con người liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia hoặc một khu vực địa lý nhất định. Cấu thành một nền kinh tế không thể thiếu các cuộc cách mạng về công nghệ, lịch sử văn minh và tổ chức xã hội, cùng với địa lý và sinh thái, ví dụ cụ thể là các vùng với các điều kiện về nông nghiệp và cơ hội khai thác tài nguyên thiên nhiên khác nhau, trong số các nhân tố khác. Nền kinh tế cũng đề cập đến thước đo tăng trưởng sản phẩm của một đất nước hoặc một khu vực. Trong các nền kinh tế hiện địa, có 3 khu vực chính của hoạt động kinh tế, bao gồm: Khu vực cơ bản : Liên quan đến việc khai thác và sản xuất nguyên liệu thô, như ngô-gạo-lúa mì, than đá, gỗ và sắt. Khu vực thứ hai: Liên quan đến việc chuyển đổi nguyên liệu thô hoặc nguyên liệu trung gian thành hàng hóa, ví dụ sử dụng thép để sản xuất ôtô, hoặc sợi bông để làm thành quần áo. Khu vực thứ ba: Liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ tới người tiêu dùng và các ngành kinh doanh, như trông trẻ, rạp chiếu phim hay dịch vụ ngân hàng. Sự phát triển kinh tế qua các thời kì lịch sử Thời cổ đại các nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp, thời kì này hàng hóa được trao đổi với nhau trên thị trường do nhu cầu về nhiều hàng hóa khác nhau của bản thân người sử dụng. Aristotle (384-322 TCN) là người đầu tiên phân biệt sự khác nhau giữa giá trị sửa dụng và giá trị trao đổi của hàng hóa. Thời Trung cổ Vào thời Trung cổ các thương gia như Jakob Fugger (1459-1525) và Giovanni di Bicci de' Medici (1360-1428) đã xây dựng nên những ngân hàng đầu tiên. Các cuộc khám phá ra vùng đất mới của Marco Polo (1254-1324), Christopher Columbus (1451-1506) và Vasco de Gama (1469-1524) đã dẫn tới sự giao lưu về thương mại giữa các lục địa và ra đời nền kinh tế thế giới đầu tiên. Năm 1513 sàn giao dịch chứng khoán đầu tiên ra đời ở Antwerpen. Thời kì đầu của nền kinh tế hiện đạiNhững nước mà Châu Âu xâm chiếm được gọi là thuộc địa, các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Anh và Hà Lan cố gắng kiểm soát thương mại thông qua thuế và lệ phí hải quan nhằm bảo vệ nền kinh tế trong nước. Chủ nghĩa trọng thương ra đời ở thời kì này (thế kỉ 16- 18). Thời kì cách mạng công nghiệp Nhà kinh tế đầu tiên thực thụ là Adam Smith (1723-1790). Ông đã xác định các nhân tố của một nền kinh tế là: sản phẩm được cung cấp với mức giá tự nhiên sinh ra dưới quy luật cạnh tranh - cung và cầu - và sự phân chia lao động. Ông cho rằng động lực cơ bản của thương mại tự do chính là lợi ích cá nhân. Mỹ là mảnh đất trú ngụ của hàng triệu người Châu Âu rời bỏ quê hương với ước vọng phát triển kinh tế và làm giàu. Ở Châu Âu, chủ "nghĩa tư bản hoang dã" bắt đấu thay thế chủ nghĩa trọng thương và dẫn tới phát triển kinh tế. Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Ở Anh quan điểm của Adam Smith trở thành hiện thực trong khi tiết kiệm chi phí sản xuất tối đa dẫn đến nghèo đói, đô thị hóa và bần cùng hóa trong các tầng lớp dân chúng. Karl Marx (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895) đã gọi nền kinh tế là một "hệ thống của chủ nghĩa tư bản." Từ việc khai thác kiệt quệ sức lao động và thiên nhiên nhằm tạo ra giá trị thặng dư, tư bản sẽ tích tụ vốn dẫn đến phá hủy cạnh tranh. Vì vậy chủ nghĩa xã hội sẽ giải phóng nền kinh tế khỏi sự chế ngự của tư bản. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung được thiết lập đầu tiên sau cuộc Cách mạng Nga năm 1917. Sau chiến tranh thế giới thứ II Để xây dựng các nền kinh tế bị phá hủy sau Thế chiến II, những quan điểm mới là cần thiết.  Friedrich August von Hayek (1899-1992) và Milton Friedman (1912-2006) ủng hộ thương mại tự do toàn cầu và được coi là cha để của trường phái Tân tự do. Trái ngược với quan điểm đó John Maynard Keynes (1883-1946) cho rằng nền kinh tế phải được kiểm soát chặt hơn bởi chính phủ. Xã hội ngày nay Toàn cầu hóa đã thúc đẩy nền kinh tế của các quốc giá, và những cuộc tranh luận của Ngân hàng thế giới, Tổ chức thương mại thế giới và những đối tượng có ảnh hưởng lớn khác trong diễn đàn kinh tế thế giới cũng những các cuộc thảo luận về sinh thái và vấn đề phát triển bền vững đã ảnh hưởng đến khái niệm thế nào là một nền kinh tế.

Economies Of Scope / Tính Kinh Thế Theo Phạm Vi

Là học thuyết kinh tế phát biểu rằng chi phí sản xuất trung bình sẽ giảm khi doanh nghiệp mở rộng chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà công ty sản xuất ra. Công ty thông thường sẽ mở rộng dây chuyền sản xuất đối với những sản phẩm có liên quan, tận dụng hệ thống phân phối và marketing sẵn có. Ví dụ, McDonals có thể sản xuất bánh Hamburgers và Khoai tây rán với chi phí trung bình nhỏ hơn nếu hai doanh nghiệp khác sản xuất cũng những loại đồ ăn này. Bởi vì McDonals sử dụng cùng một kho chứa hàng, cùng những trang thiết bị chế biến, và những thứ tương tự trong quá trình sản xuất. Một công ty cung cấp dịch vụ điện thoại cũng có thể mở rộng sang cung cấp cả dịch vụ Internet hoặc một công ty sản xuất kem có thể kiêm sản xuất sữa chua. Các công ty cũng có thể đạt được tính kinh tế theo phạm vi thông qua việc sản xuất ra những sản phẩm dường như không có liên quan đến nhau. Ví dụ General Electric sản xuất ra các sản phẩm như động cơ máy bay, trang thiết bị gia đình, trang thiết bị y tế, tuabin gió, và tivi; nhưng công ty này cũng cung cấp các dịch vụ tài chính cho các ngành kinh doanh và sở hữu mạng lưới truyền hình NBC. Các công ty dạng này có thể đạt được tính kinh tế theo phạm vi dựa trên hệ thống quản lí hiệu quả, tài chính linh hoạt, sức mạnh chính trị, hoặc tập trung hoá nghiên cứu sản phẩm và marketing.

Economies Of Scale / Tính Kinh Tế Nhờ Qui Mô; Lợi Thế Kinh Tế Nhờ Quy Mô

Giảm chi phí trung bình của một sản phẩm xét trong dài hạn nhờ tăng sản lượng.

Economies Of Scale / Tính Kinh Tế Theo Quy Mô

Tính kinh tế theo quy mô đặc trưng cho một quy trình sản xuất trong đó một sự tăng lên trong số lượng sản phẩm sẽ làm giảm chi phí bình quân trên mỗi sản phẩm sản xuất ra. Ví dụ ta có một dây chuyền sản xuất quần áo. Chi phí dây chuyền máy móc trong một tuần là 100 đơn vị tiền tệ, chi phí phụ trội là 1 đơn vị tiền tệ trên mỗi đơn vị sản phẩm. Nếu như hệ thống sản xuất được 50 sản phẩm một tuần thì chi phí cố định bình quân trên mỗi sản phẩm là (100+50)/50= 3 đơn vị sản phẩm. Tuy nhiên nếu công ty sản xuất được 100 đơn vị một tuần thì chi phí cố định bình quân trên mỗi đơn vị  sản phẩm sẽ giảm xuống chỉ còn (100+100)/100 = 2 đơn vị tiền tệ. Đây là ví dụ điển hình của tính kinh tế theo quy mô. Tất nhiên ví dụ này đã được đơn giản hoá đi nhiều, trên thực tế thì còn rất nhiều các lực cản vô hình trong nền kinh tế khiến cho công ty khó có thể đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô. Tính kinh tế theo quy mô tồn tại ở hầu hết các ngành, có thể phát huy tác dụng ở cả cấp nhà máy và cấp công ty bao gồm nhiều nhà máy. Nó xuất hiện vì các lý do sau đây: Tínhkhông chia nhỏ được của máy  móc và thiết bị, đậc biệt ở những nơi mà một loạt quá trình chế biến được liên kết với nhau. Hiệu quả của công suất lớn đối với nhiều loại thiết bị đầu tư (vd:tầu chở dầu, nồi hơi), cả chi phí khởi động và vận hành đều tăng chậm hơn công suất. Hiệu quả chuyên môn hoá_khi sản lượng lớn hơn, người ta có điều kiện sử dụng lao động chuyên môn và máy móc chuyên dụng Kỹ thuật và tổ chức sản xuất ưu việt khi quy mô tăng lên người ta có thể sử dụng máy tự động thay cho thiết bị vận hành thủ công hoặc thay thế sản xuất đơn chiếc bằng dây chuyền hàng loạt một cách liên tục. Hiệu quả của việc mua nguyên vật liệu va phụ tùng với khối lượng lớn nhờ được hưởng chiết khấu Hiệu quả marketing (hiệu quả tiêu thụ) thu được nhờ biệc sử dụng phương tiện quảng cáo đại chúng và mật độ sử dụng lực lượng bán hàng lớn hơn Hiệu quả tài chính thu được do các công ty lớn có điều kiện gọi vốn với điều kiện thuận lợi (lãi suất, chi phí đi vay thấp hơn) Hiệu quả quản lý thông qua các dãy số thời gian... Khả năng tận dụng tính kinh tế theo quy mô có thể bị hạn chế vì nhiều lý do. Ở một số ngành, bản chất của sản phẩm và quá trình chế biến hay công nghệ có thể làm giảm tính kinh tế theo quy mô ngay khi sản lượng còn ở mức khiêm tốn. Về phía cầu, tổng nhu cầu thị trường có thể không đủ để một công ty đạt được quy mô tối thiểu có hiệu quả hoặc tỷ trọng của công ty quá nhỏ. Nếu người tiêu dùng có nhu cầu về nhiều sản phẩm khác nhau (tính đa dạng của nhu cầu) gây cản trở cho việc tiêu chuẩn hoá và sản xuất trong thời gian dài. Khi kinh tế theo quy mô có ý nghĩa quan trọng với nhiều ngành nó sẽ dẫn tới xu hướng là tập trung hoá người bán ở mức cao. LRAC : Đường chi phí bình quân dài hạn có hình chữ U đặc trưng cho một nhà máy Output: sản lượng đầu ra Average: chi phí bình quân Sản lượng tăng từ Q1 đến Q2 làm chi phí giảm từ C xuống C1. Trong đồ thị trên Q2 là mức sản lượng tối ưu, đạt chi phí bình quân thấp nhất. Sau điểm này tính kinh tế theo quy mô giảm dần và đến một mức nào đó không còn phát huy tác dụng nữa.

Economics / Kinh Tế Học

Kinh tế học là khoa học nghiên cứu về cách thức-phương pháp các xã hội loài người sử dụng, quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn. Trong xã hội, việc sử dụng và phân bổ tài nguyên trong các hoạt động xã hội không chỉ là việc của cơ quan trung ương hay một nơi lập kế hoạch, mà chủ yếu thông qua các hộ gia đình (con người) và các công ty. Như vậy kinh tế học cần nghiên cứu (theo Paul Samuelson và Greg Mankiw): Các cá nhân và tập thể trong xã hội quyết định cách mình làm việc, mua cái gì, tiết kiệm tiền như thế nào, đầu tư tiền cá nhân ra sao. Các cá nhân trong xã hội tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào, chẳng hạn như độ lớn nhu cầu mua và bán cùng một loại hàng hóa để xác định mức giá cân bằng thực hiện giao dịch mua-bán. Các lực lượng tồn tại trong xã hội và các xu hướng diễn biến có thể tác động và gây ảnh hưởng đáng kể lên nền kinh tế như là một chỉnh thể. Những lực lượng và xu hướng ấy có thể là mức tăng thu nhập đầu người bình quân, số người và tỷ lệ người thất nghiệp trong nền kinh tế ở độ tuổi lao động, ảnh hưởng của thâm hụt thương mại lên tốc độ tích lũy sản phẩm xã hội, hay lãi suất phổ biến trong nền kinh tế. Việc quản lý và sử dụng nguồn lực rõ ràng là rất quan trọng, bởi vì chẳng xã hội nào có nguồn lực vô hạn. Điều này theo Mankiw là giống như một gia đình đông con chẳng thể nào chiều nổi "tất cả mọi ý thích của tất cả những đứa con," một nền kinh tế cũng không thể có năng lực thỏa mãn tất cả các nhu cầu của tất cả các cá nhân trong xã hội.

Một ngành nghiên cứu về cách thức con người tự tổ chức để giải quyết vấn đề cơ bản về sự khan hiếm.

Economic Welfare / Phúc Lợi Kinh Tế

Phần phúc lợi của con người xuất phts từ việc tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ.

Phúc Lợi Kinh Tế (Economic Welfare) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Economic Theory Of Polities / Lý Thuyết Chính Trị Dựa Trên Kinh Tế

Một mô hình về hành vi chính trị giả định rằng là cử tri là những người tối đa hoá độ thỏa dụng và các đảng phái chính trị là những tổ chức tối đa phiếu bầu.

Economic Surplus / Thặng Dư Kinh Tế

Chênh lệc giữa sản lượng của một nền kinh tế và chi phí cần thiết để sản xuất ra sản lượng đó, mà chi phí cần thiết là tiền công, khấu hao vốn, chi phí nguyên vật liệu.

Thặng Dư Kinh Tế (Economic Surplus) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Economic Stimulus Package / Gói Kích Thích Kinh Tế

Trong giai đoạn suy thoái này, chúng ta được nghe nhắc nhiều tới thuật ngữ Gói kích thích kinh tế các Chính phủ mà điển hình là Hoa Kỳ. Các gói kích thích kinh tế lớn nhất thế giới đã được nước này lựa chọn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn từ năm 2007. Vậy Gói kích thích kinh tế là gì?- Đó là thuật ngữ dùng để chỉ các chính sách tài khoá nhằm trợ giúp hoặc hồi phục nền kinh tế trong suy thoái. Các gói kích thích được dùng để vực dậy hoạt động kinh tế trong thời kỳ kinh tế suy yếu qua cách làm tăng tổng cầu. Cách thức này thực hiện dựa trên lý thuyết cho rằng nếu hàng hoá và dịch vụ được mua nhiều hơn, tiền thuế hoàn lại cho người dân sẽ được sử dụng để mua sắm thì cầu sẽ không giảm xuống, các doanh nghiệp sẽ không phải sa thải công nhân, như vậy cầu sẽ ngừng giảm và kinh tế sẽ không tiếp tục suy thoái.

Economic Sciences / Khoa Học Kinh Tế

Khoa học kinh tế, còn gọi tắt là kinh tế học, là môn khoa học xã hội nghiên cứu sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ hàng hóa. Kinh tế học có hai nhánh chính: kinh tế học vi mô, nghiên cứu các hoạt động kinh tế riêng lẻ (hộ gia đình cơ sở thương mại), và kinh tế học vĩ mô, nghiên cứu các hoạt động kinh tế trong một thể thống nhất (cung cầu, hàng hóa, tiền tệ, vốn). Mục đích chung của khoa học kinh tế là tìm ra quy luật chủ quan chung chi phối quá trình hoạt động kinh tế của xã hội. Hoặc một định nghĩa khác: Kinh tế học là ngành khoa học xã hội nghiên cứu về kinh tế. Kinh tế học quan tâm đến các vấn đề như sản xuất và tiêu thụ thông qua những biến cố có thể đo lường được. Nó bao gồm việc phân tích quá trình sản xuất, phân phối, buôn bán và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Kinh tế học được miêu tả là thực chứng khi nó nhằm mục đích giả thích các hậu quả từ những lựa chọn khác nhau dựa trên một tập hợp các giả định hay các quan sát và được gọi là chuẩn tắc khi nó nhằm đưa ra lời khuyên cần phải làm gì. Theo cách này, kinh tế học được chia thành kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc.

Economic Rent / Tiền Thuê Kinh Tế, Tô Kinh Tế, Đặc Lợi Kinh Tế

Khoản tri trả cho một yếu tố sản xuất vượt mức cần thiết để giữ yếu tố đó ở mức sử dụng hiện tại.

Economic Rent / Tô Kinh Tế

Là khoản tiền mà người chủ sở hữu của các yếu tố sản xuất phải nhận được để cho vay các yếu tố sản xuất ấy. Các yếu tố sản xuất bao gồm: lao động, vốn và đất đai. Ở khía cạnh lao động, đây là khoản tiền được dành lại cho cá nhân, là khoản tối thiểu mà cá nhân nhận được để có thể làm việc. Riêng khía cạnh vốn và đất đai, economic rent là khoản tiền cần thiết để cân bằng vốn khi cả nguồn đất đai và nguồn vốn được dùng cho bất cứ mục đích đã được đặt trước.

Economic Policy / Chính Sách Kinh Tế

Sự điều hành của nhà nước đối với nền kinh tế của một quốc gia.

Phát biểu các mục tiêu và các phương pháp đạt các mục tiêu này (công cụ chính sách) của chính phủ, đảng chính trị, giới doanh nghiệp… Một số thí dụ về mục tiêu kinh tế của chính phủ là: duy trì sự toàn dụng, đạt tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao, giảm bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng phát triển vùng, và duy trì ổn định giá. Các công cụ chính sách bao gồm chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và tài chính, các kiểm soát của luật pháp (kiểm soát giá và lương, kiểm soát trục lợi)

Economic Planning / Hoạch Định Kinh Tế

Sự phối hợp một các có tổ chức các hoạt động kinh tế.

Nỗ lực (có chủ ý và ý kiến) của chính phủ trong việc hình thành các quyết định về cách thức phân bổ các nhân tố sản xuất cho các nhu cầu sử dụng hay các ngành công nghiệp, từ đó xác định sẽ sản xuất hàng hoá và dịch vụ bao nhiêu trong một hay nhiều thời kỳ

Economic Man / Con Người Kinh Tế

Tên đặt cho "vật được sáng tạo" trong kinh tế học, bằng cách đó, các cá nhân được giả định là cư sử như thể họ tối đa hoá độ thoả dụng, chịu chi phối bởi những ràng buộc, trong đó hiển nhiên nhất là thu nhập.

Economic Liberialism / Chủ Nghĩa Tự Do Kinh Tế

Học thuyết ủng hộ khả năng sử dụng nhiều nhất các thị trường và các tác nhân cạnh tranh để điều phối hoạt động kinh tế.

Economic Development / Phát Triển Kinh Tế

Quá trình cải thiện mức sống và sự sung túc của dân chúng của các nước đang phát triển bằng cách tăng thu nhập trên đầu người.

Phát Triển Kinh Tế (Economic Development) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Economic Co-Operation Administration / Cơ Quan Hợp Tác Kinh Tế

Một cơ quan viện trợ kinh tế, thành lập năm 1948 do Đạo luật Trợ giúp nước ngoài của Mỹ, quản lý kế hoạch Marshall đối với việc phục hồi kinh tế Châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai.

Economic Community / Cộng Đồng Kinh Tế

Một liên minh kinh tế giữa các nước có biểu thuế quan và chính sách thương mại chung đã dỡ bỏ các hạn chế đối với thương mại giữa các nước thành viên.

Liên minh kinh tế các quốc gia tìm cách phối kết các chính sách tài khoá và tiền tệ, như một bước hướng đến một đồng tiền chung. Điều này diễn ra ngoài việc duy trì một biểu thuế quan đối ngại chung, các chính sách thương mại tương tự và dỡ bỏ các ràng buộc về thương mại trong liên minh.

Cộng Đồng Kinh Tế (Economic Community) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Economic Bubble / Bong Bóng Kinh Tế

Hiện tượng bong bóng kinh tế (đôi khi còn gọi là "bong bóng đầu cơ", "bong bóng thị trường", "bong bóng tài chính" hay "speculative mania") là hiện tượng chỉ tình trạng thị trường trong đó giá hàng hóa hoặc tài sản giao dịch tăng đột biến đến một mức giá vô lý hoặc mức giá không bền vững. Mức giá cao thái quá này của thị trường không hề phản ánh mức độ thỏa dụng hay sức mua của người tiêu dùng theo như các lý thuyết kinh tế thông thường. Bong bóng kinh tế xuất hiện khi có hiện tượng đầu cơ đối với các tài sản cơ sở, làm cho giá bị đẩy lên cao, do vậy càng khuyến khích hoạt động đầu cơ hơn nữa. Theo sau bong bóng kinh tế bao giờ cũng là một cú giảm giá đột ngột, được gọi là sự sụp đổ của thị trường hay "bong bóng vỡ". Cả giai đoạn bong bóng phình to và giai đoạn bong bóng nổ đều là kết quả của hiện tượng "phản ứng thuận chiều", khi đại đa số những người tham gia thị trường đều có phản ứng đồng nhất với nhau. Giá cả trong giai đoạn bong bóng kinh tế bao giờ cũng biến động vô cùng thất thường, hỗn loạn và gần như không thể dự đoán được nếu chỉ căn cứ vào cung, cầu trên thị trường. Cơ chế của bong bóng kinh tế thường được giải thích bằng một lý thuyết có tên là "lý thuyết về kẻ ngốc hơn". Lý thuyết này giải thích hành vi của những người tham gia vào một thị trường với sự lạc quan thái quá (anh ngốc). Những anh ngốc này sẵn sàng mua những hàng hóa được định giá quá cao, với mong đợi sẽ bán được nó cho một tay đầu cơ tham lam khác (kẻ ngốc hơn) ở một mức giá cao hơn nhiều. Bong bóng sẽ tiếp tục phình to thêm chừng nào mà anh chàng ngốc này vẫn còn tìm được một kẻ ngốc hơn mình sẵn sàng mua những hàng hóa đó. Và bong bóng kinh tế sẽ kết thúc khi anh ngốc cuối cùng trở thành "kẻ ngốc nghếch nhất", người trả giá cao nhất cho thứ hàng hóa được định giá quá cao và không tìm được người mua nào khác cho chúng, lúc đó bóng nổ. Các nhà kinh tế học nhìn nhận bong bóng kinh tế như một hiện tượng gây tác động tiêu cực lên nền kinh tế, bởi vì các nguồn lực được phân bổ vào những mục đích không tối ưu. Thêm vào đó, khi bong bóng nổ, nó có thể gây thiệt hại một khối lượng của cải khổng lồ đồng thời kèm theo một giai đoạn bất ổn kinh tế kéo dài. Hậu quả của bong bóng kinh tế không chỉ tàn phá nền kinh tế của một quốc gia, mà ảnh hưởng của nó có khi còn lan ra ngoài biên giới. Một đặc trưng quan trọng của bong bóng kinh tế là ảnh hưởng của nó đến thói quen tiêu dùng. Những người tham gia vào thị trường trong đó các tài sản được định giá quá cao có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, vì họ có cảm giác là họ giàu hơn. Nhiều nhà quan sát lấy thị trường bất động sản ở Anh, Úc, Tây Ban Nha và nhiều vùng của Mỹ trong thời gian gần đây làm ví dụ cho ảnh hưởng này. Ngay cả ở Việt Nam, năm 2006, khi thị trường chứng khoán nóng lên, thị trường bất động sản đang đóng băng bỗng nhiên cũng ấm trở lại. Đến một lúc nào đấy, sớm muộn rồi bong bóng cũng vỡ, những người nắm giữ những tài sản bị định giá quá cao này lại bắt đầu có cảm giác nghèo đi, đồng thời từ bỏ thói quen tiêu dùng tùy tiện của mình, gây cản trở đến tăng trưởng kinh tế, và tệ hơn, làm trầm trọng thêm suy thoái kinh tế. Do đó, một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Ngân hàng Trung ương là phải để mắt đến sự tăng giá bất thường trên các thị trường, đặc biệt là thị trường chứng khoán, để nhanh chóng tiến hành những biện pháp ưu tiên nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ quá mạnh đối với các tài sản tài chính. Khi hiện tượng bong bóng kinh tế diễn ra trên thị trường chứng khoán người ta gọi đó là "bong bóng chứng khoán". Thực ra rất khó phân biệt một bong bóng chứng khoán với một thị trường theo chiều giá lên thông thường, người ta chỉ có thể làm được điều đó khi tất cả đã xảy ra rồi, nếu có sự "nổ bóng" thì đó mới đúng là bong bóng. Điểm lại lịch sử kinh tế thế giới có thể kể ra rất nhiều bong bóng kinh điển như: Vụ đầu cơ hoa Tulip (1637) Vụ công ty South Sea Company (1720) Cuộc Đại Suy Thoái (1929-1933) Bong bóng kinh tế Nhật (thập niên 1980) Bong bóng dotcom (1995 - 2000) Bong bóng Poseidon (1970)

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55