Embodied Technical Progress / Tiến Bộ Kỹ Thuật Nội Hàm; Tiến Bộ Hàm Chứa Kỹ Thuật
Tiến bộ kỹ thuật mà không thể có được nếu không hàm chứa nguồn vốn mới.Tiến bộ kỹ thuật mà không thể có được nếu không hàm chứa nguồn vốn mới.
Tiến bộ kỹ thuật mà không thể có được nếu không hàm chứa nguồn vốn mới.
Eligible Paper / Giấy Tờ Đủ Tiêu Chuẩn Chiết Khấu
Các tài sản tài chính mà ngân hàng trung ương sẵn sàng mua (tái chiết khấu) hay chấp nhận làm vật thế chấp cho các khoản vay, trong một số trường hợp đặc biệt, và thường là khi giao dịch với các cơ quan đã đựoc định rõ.
Elephants / Nhà Đầu Tư Tổ Chức
Elephants nguyên văn là "con voi", là một từ lóng được sử dụng trong lĩnh vực tài chính,chứng khoán để chỉ các nhà đầu tư tổ chức (chứ không phải là nhà đầu tư cá nhân) như là các quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí, ngân hàng đầu tư, công ty bảo hiểm. Các tổ chức đầu tư này bao giờ cũng tiến hành các giao dịch với khối lượng rất lớn nên có ảnh hưởng mạnh đến thị trường. Người ta ví một công ty như một cái bể bơi, nếu con voi bước vào (khi các tổ chức đầu tư này mua cổ phiếu của công ty) mức nước(giá cổ phiếu) sẽ ngay lập tức dâng lên rõ rệt và ngược lại, khi con voi bước ra(các tổ chức đầu tư tiến hành bán cổ phiếu) lập tức mức nước (giá cổ phiếu) tụt xuống rất mạnh. Ngược lại với các tổ chức đầu tư thì các nhà đầu tư được ví như những con chuột theo nghĩa họ khó có thể gây ảnh hưởng lên giá cổ phiếu. Sở dĩ các "ông voi" có khả năng gây ra sự ảnh hưởng lớn như vậy là vì hai lý do. Thứ nhất, người ta tin rằng, các tổ chức đầu tư bao giờ cũng được dẫn dắt bởi những nhà quản lý tài chính chuyên nghiệp, có kinh nghiệm. Ngoài ra đằng sau các nhà quản lý quĩ này còn là cả một bộ máy các nhà phân tích, tư vấn chuyên nghiệp. Vì vậy mà quyết định của các tổ chức đầu tư thường được đánh giá là có độ chính xác, hợp lý khá cao, kết quả là rất nhiều nhà đầu tư cá nhân thường đầu tư "ăn theo" các "ông voi" này. Thứ hai, các quỹ đầu tư bao giờ cũng giao dịch với khối lượng lớn, vì vậy mỗi khi họ đưa ra một quyết định là cung - cầu trên thị trường ngay lập tức có sự biến động mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu. Tuy nhiên, không phải mọi nhà đầu tư nhỏ đều muốn "ăn theo" các tổ chức đầu tư. Trên thị trường luôn tồn tại những nhà đầu tư "đối nghịch" - contrarian investor - mua / bán ngược chiều với các tổ chức đầu tư. Theo lý luận của họ, khi một cổ phiếu được nhiều tổ chức đầu tư mua vào thì giá của nó có thể đang lên gần đến đỉnh điểm, đó là thời điểm khôn ngoan nhất để bán ra, và ngược lại, họ sẽ mua vào nếu nhiều quĩ đầu tư bán ra.
Electronic Communication Network - ECN / Hệ Thống ECN
Hệ thống điện tử hiển thị và khớp lệnh trên sàn giao dịch và thị trường OTC. Những lệnh này được đặt bởi những người tạo lập thị trường và người giao dịch. Mục đích của nó là nhằm hạn chế vai trò của bên thứ 3 trong việc thực thi các lệnh, cho phép những lệnh như thế được thực thi một phần hoặc toàn bộ. Một hệ thống ECN kết nối các nhà môi giới và nhà giao dịch cá nhân chủ yếu mà nhờ đó, họ có thể giao dịch trực tiếp với nhau mà không cần phải qua một người trung gian. Một ví dụ điển hình của hệ thống ECN là Inet, một công ty thuộc tập đoàn Instinet Group. Inet là sự hợp nhất dòng lệnh của Instinet ECN cũ và Island ECN cũ, được mua vào giữa năm 2002, mang lại cho nó 26% số lượng giao dịch trong các cổ phiếu NASDAQ. Năm 2005, Nasdaq tuyên bố họ mua Instinet Group, và sẽ tích hợp Inet vào trong hoạt động của mình.
Electronic Business - E-Business / Kinh Doanh Điện Tử
E–Business là thuật ngữ được sử dụng bắt nguồn từ khi các doanh nghiệp tiến hành kinh doanh thông qua các hình thức như gửi email, thương mại điện tử, mua bán, phục vụ khách hàng và cộng tác kinh doanh trên mạng Internet. Tiện ích của việc kinh doanh điện tử này ngày càng được phổ biến rộng rãi và trở thành nhu cầu thiết yếu của của mỗi doanh nghiệp trong xu thế hội nhập và phát triển. Tính nhanh chóng và thuận tiện của việc kinh doanh trên Internet ngày càng được thể hiện khi phần lớn các doanh nghiệp sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hỗ trợ kinh doanh và hoạt động thương mại.
Electronic Broker - E-Broker / Nhà Môi Giới Điện Tử
E-broker là thuật ngữ dùng trong trường hợp những nhà trung gian điện tử thiết lập website thương mại điện tử dưới dạng siêu cửa hàng điện tử cho nhiều nhà cung cấp khác nhau. Và nhà trung gia điện tử đó chỉ thiết lập các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho siêu cửa hàng điện tử, mà không có trách nhiệm về thực hiện đơn hàng và bảo hành.
Elasticity Of Input Substitution / Độ Co Giãn Của Sự Thay Thế Đầu Vào
Một thước đo sự phản ứng của sự kết hợp lao động TỐI ƯU đối với thay đổi giá tương đối của hai đầu vào này (hoặc để chỉ hai yếu tố đầu vào bất kỳ).
Elasticity Of Demand / Độ Co Giãn Của Cầu
Thường dùng để chỉ độ co giãn của cầu theo giá, nhưng cần phải xác định rõ độ ca giãn của cầu nào đang được đề cập đến.
Effort Aversion / Ngán Nỗ Lực; Không Thích Nỗ Lực
Một khái niệm chính thức dùng để biểu thị giả định rằng sự nỗ lực là một biến số có tác động âm trong hàm thỏa dụng của các cá nhân, tức là sự nỗ lực tạo ra trong sự phi thỏa dụng biên.
Efficient Market Hypothesis - EMH / Thuyết Thị Trường Hiệu Quả
EMH là một giả thuyết đầu tư cho rằng nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội vượt trội hơn so với những người khác vì hiệu quả của thị trường chứng khoán sẽ khiến cho giá của các cổ phiếu hiện có trên thị trường luôn gắn kết và cung cấp các thông tin tương thích, tức là mọi người đều có khả năng tiếp cận thông tin như nhau. Theo thuyết này thì các chứng khoán sẽ được mua bán trao đổi ngang giá trên các sàn giao dịch chứng khoán và do đó người chơi sẽ không có cơ hội để mua ép giá cổ phiếu hoặc thổi phồng mức giá khi bán. Điểm mấu chốt của EMH là các nhà đầu tư sẽ không có khả năng thành công trên thị trường chứng khoán nếu chỉ dựa vào việc lựa chọn chính xác loại chứng khoán và định đúng thời gian tiến hành giao dịch, cách duy nhất để có được lợi nhuận cao trên thị trường này là tiến hành các đầu tư có mức độ rủi ro cao hơn. Mặc dù là nền tảng của lý thuyết tài chính hiện đại, EMH vẫn là giả thuyết gây nhiều tranh cãi. Những người ủng hộ thuyết này thì cho rằng việc tìm kiếm các chứng khoán được định giá thấp hơn so với giá trị thực hoặc cố gắng dự đoán các xu hướng biến động trên thị trường thông qua các phân tích cơ sở hoặc phân tích kĩ thuật đều là vô ích. Trong khi đó lại có nhiều học giả đưa ra các bằng chứng nhằm phản bác lại thuyết EMH. Họ viện chứng rằng Warren Buffett_một trong những nhà đầu tư vĩ đại nhất của thế kỉ 20_đã thành công trong suốt thời gian rất dài, mà điều này theo thuyết EMH là không thể. Chính Warren Buffet cũng đã từng nói rằng: "Tôi sẽ là một gã vô công rồi nghề trên đường phố nếu như thị trường này có hiệu quả". Họ cũng đưa ra dẫn chứng là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1987 (trong đó DJIA đã sụt giá tới 20% chỉ trong vòng một ngày), tức là giá chứng khoán có thể hoàn toàn bị bóp méo. Vào năm 1999 giá của các cổ chứng khoán trên sàn NASDAQ bắt đầu tăng nhanh trở lại và không có dấu hiệu cho thấy nó sẽ sụt giảm, các nhà đầu tư bắt đầu nhận ra các chứng khoán này đã bị thổi phồng quá mức. Nhưng cũng chính họ lại tiếp tục mua vào nhiều hơn khiến cho mức giá lại càng tăng cao. Alan Greenspan đã gọi hiện tượng này là "tăng trưởng phi lý" (irrational exuberance). Paul Ormerod đã lý giải rằng điều này xảy ra là do yếu tố tâm lý. Nhận thấy có nhiều người mua vào một loại chứng khoán nào đó, họ sẽ đổ xô đi mua chứng khoán này.Việc các nhà đầu tư đua nhau mua chứng khoán đã tạo ra một cơn sốt trên thị trường khiến cho giá cả ngày càng leo thang thay vì giảm xuống. Những hành vi bất hợp lý này chính là nhân tố khiến cho thuyết EMH bị sai lệch. EMH không có khả năng lý giải sự sụp đổ cũng như phát triển nở rộ của thị trường như đã nói, tuy nhiên các lý thuyết kinh tế học hiện đại lại có thể giải thích được các hành vi trên. Tại sao thị trường lại luôn biến động? Có thể giải thích điều này là do sự tồn tại của hai loại đại lý trong hệ thống thị trường là : "đại lý chính thống" (fundamentalists) và các "đại lý theo phong trào" (chartists)_nhân tố mà các nguyên lý kinh tế học tân cổ điển chưa bao giờ xét tới. Các đại lý chính thống sẽ tiến hành mua bán trên cơ sở mức giá phản ánh giá trị thực tế của chúng. Trong khi đó các đại lý phong trào sẽ phán đoán dựa trên các dữ liệu quá khứ và tin rằng chúng sẽ ảnh hưởng đến giá cả tương lai của tài sản. Sẽ có một bộ phận trên thị trường tin theo đại lý chính thống và bộ phận còn lại theo cách thức của đại lý phong trào. Tỉ lệ này thay đổi ngẫu nhiên và do đó sự biến động của giá cả tài sản trên thị trường chính là sự phản ánh biến động của tỉ lệ này_tỉ lệ đối trọng giữa hai loại đại lý hoạt động trên thị trường. Mục đích chính của thuyết EMH là nhằm giải thích cách thức vận hành thực tế của thị trường tuy nhiên sự đơn giản về mặt toán học của nguyên lý kinh tế học tân cổ điển đã xoá nhoà đi tác dụng của nó. Mặc dù mô hình kinh tế hiện đại còn ít nhiều lộn xộn và chưa được hoàn thiện song nó đã tính đến sự tương tác giữa các mô hình đại lý và có cơ sở thực nghiệm vững chắc hơn.
Efficient Market Hypothesis / Giả Thuyết Về Thị Trường Có Hiệu Quả
Một quan điểm cho rằng giá cổ phiếu trên thị trương chứng khoán là những ước tính tốt nhất về giá trị thực của cổ phiếu vì thị trường chứng khoán có cơ chế định giá tốt nhất.
Efficiency, Efficient Market / Thị Trường Hiệu Quả
Tính hiệu quả của thị trường là khả năng và tốc độ mà tổng thể các thông tin trên thị trường ảnh hưởng tới giá chứng khoán. Một thị trường được coi là hiệu quả khi nó đạt hiệu quả về mặt thông tin, hay nói các khác, giá của các loại tài sản được giao dịch như cổ phiếu,trái phiếu, bất động sản, phản ánh được tất cả các thông tin đã biết trên thị trường. Do vậy, một thị trường hiệu quả sẽ không thiên vị ai, tức là nó không làm ai có lợi hoặc chịu thiệt một cách bất hợp lý so với người khác, theo nghĩa nó phản ánh niềm tin của tất cả các nhà đầu tư về triển vọng thị trường. Giáo sư Eugene Fama của trường đại học Chicago đã có công phát triển khái niệm "thị trường hiệu quả" như một khái niệm mang tính học thuật trong các nghiên cứu của ông vào đầu thập niên 1960 cũng tại trường đại học này. Giả thuyết thị trường hiệu quả được nêu lên rằng nhà đầu tư không thể nào vượt mặt được thị trường bằng cách sử dụng mọi thông tin mà thị trường đã biết, trừ khi nhờ may mắn. Thông tin hay tin tức trong một thị trường hiệu quả được định nghĩa là bất cứ thông tin nào có thể gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, mà thông tin này không thể nào biết được trong hiện tại và chỉ xuất hiện ngẫu nhiên trong tương lai. Chính những thông tin ngẫu nhiên này sẽ làm cho giá cổ phiếu trong tương lai biến động. Theo giả thuyết này, những thị trường trong đó xuất hiện giao dịch nội gián (insider trading) không thể coi là thị trường hiệu quả được. Không tính các đối tượng tìm cách tối đa hoá lợi nhuận, thì giả thuyết về thị trường hiệu quả đòi hỏi rằng mọi đối tượng phải có kì vọng, dự đoán hợp lý. Điều đó có nghĩa là, cho dù không một ai đúng, thì tính bình quân ra thị trường vẫn đúng và bất cứ khi nào có thông tin mới xuất hiện, các đối tượng sẽ tự động cập nhật lại dự đoán của mình một cách thích hợp. Khi đối mặt với các thông tin mới, mỗi nhà đầu tư sẽ có cách phản ứng khác nhau, tất cả những gì mà giả thuyết thị trường hiệu quả đòi hỏi chỉ là, phản ứng của các nhà đầu tư hoàn toàn ngẫu nhiên, để ảnh hưởng ròng của chúng(sau khi đã bù trừ lẫn nhau) lên giá thị trường không bị nhà đầu tư khai thác để kiếm lợi nhuận cao một cách bất thường, đặc biệt sau khi đã trừ chi phí giao dịch. Do đó, bất cứ ai cũng có thể sai dự đoán sai về thị trường, nhưng do giá cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi cả thị trường nên giá của nó chính là giá thị trường kì vọng, hay nói cách khác, xét trên tổng thể, thì thị trường luôn đúng. Thị trường hiệu quả được phân ra 3 loại: thị trường hiệu quả dạng yếu, dạng trung bình và dạng mạnh. Thị trường hiệu quả dạng yếu: có thể kiếm được thu nhập thặng dư bằng cách sử dụng các chiến lược đầu tư dựa trên nghiên cứu giá cổ phiếu trong giai đoạn trước hoặc các số liệu tài chính khác. Trên lý thuyết, nhà đầu tư giỏi hoàn toàn có thể tìm kiếm lợi nhuận bằng việc nghiên cứu các báo cáo tài chính, và các thông tin liên quan khác. Thị trường hiệu quả dạng trung bình: giá cổ phiếu điều chỉnh trong vòng một thời gian rất nhỏ và mang tính chất công bằng trước những thông tin được công bố rộng rãi trên thị trường. Thị trường hiệu quả mạnh: giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin trên thị trường và không ai có thể kiếm được lợi nhuận thặng dư trong dài hạn. Tuy nhiên, cũng không có gì lạ khi trong một thị trường hiệu quả mạnh một số nhà đầu tư vẫn kiếm được mức lợi nhuận cao hơn thị trường một cách thường xuyên, vì với hàng ngàn quỹ đầu tư khắp toàn cầu thì việc ngẫu nhiên xuất hiện một vài "ngôi sao" là chuyện bình thường. Một thị trường phát triển lành mạnh đòi hỏi trước hết nó phải là một thị trường hiệu quả. Tuy nhiên, trên thị trường chứng khoán có một nhân tố rất quan trọng, không thể bỏ qua, đó là yếu tố tâm lý, nó khiến thị trường có thể hoạt động lệch lạc ngay cả khi đó là một thị trường hiệu quả. Hiện tượng này được giải thích trong một lý thuyết khác, lý thuyết " Hành vi trong tài chính".
Efficiency Wage Theory / Lý Thuyết Tiền Công Hiệu Quả
Theo học thuyết này, sản phẩm biên của người lao động và tiền công mà họ được trả có liên quan với nhau.
Efficiency Units / Đơn Vị Hiệu Quả
Một phương pháp đo lường lực lượng lao động thông qua đầu vào dịch vụ lao động được sử dụng.
Efficiency Coefficient Of Investment / Hệ Số Hiệu Qủa Đầu Tư
Một cụm thuật ngữ được các nhà kinh tế Đông ÂU sử dụng để chỉ tỷ số sản lượng/ vốn gia tăng.
Effective Rate Of Protection / Tỷ Lệ Bảo Hộ Hữu Dụng; Thuế Bảo Hộ Hữu Hiệu
Được định nghĩa là phần giá trị gia tăng, do cơ cấu thuế quan mang lại, là một phần giá trị gia tăng của thương mại tự do.
Effective Rate / Nominal Rate / Lãi Suất Thực Tế / Lãi Suất Danh Nghĩa
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được công bố đối với một khoản vay hoặc một khoản đầu tư. Lãi suất thực tế (lãi suất hiệu quả) là lãi suất mà bạn thực sự thu được từ một khoản đầu tư hoặc phải trả cho một khoản vay sau khi tính đến tác động của lãi suất ghép. Thông thường cái mà chúng ta hay nhìn thấy là lãi suất danh nghĩa, còn lãi suất thực tế sẽ được tính toán từ lãi suất danh nghĩa theo một số phương pháp nhất định. Lãi suất danh nghĩa gắn liền với phương pháp tính lãi đơn giản, còn lãi suất thực tế là kết quả của phương pháp tính lãi ghép. Để có một phép so sánh chính xác giữa hai lãi suất sử dụng với hai kì hạn khác nhau, trước hết bạn phải qui đổi lãi suất danh nghĩa (lãi suất công bố) của cả hai về lãi suất thực tế tương đương để nhìn rõ ảnh hưởng của lãi suất ghép. Lãi suất hiệu quả của một khoản đầu tư bao giờ cũng cao hơn lãi suất công bố nếu nó được gộp lên nhiều lần trong một năm. Khi số chu kì gộp lãi tăng lên thì sự khác biệt giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất hiệu quả sẽ càng rõ rệt. Lãi suất danh nghĩa được chuyển sang lãi suất thực tế theo công thức sau: re = (1 + (r / n))n - 1 trong đó: re : lãi suất thực tếrn : lãi suất danh nghĩan : số chu kì gộp lãi Ví dụ: một trái phiếu có lãi suất danh nghĩa 8%/ năm, thanh toán lãi theo chu kì 6 tháng, thì lãi suất thực tế là re1 = (1 + (8%/2))2 - 1 = 0.0816 ~ 8.16% / năm Cũng với trái phiếu trên khi chu kì trả lãi là 3 tháng thì lãi suất thực tế là: re2 = (1 + (8%/4))4 - 1 = 0.0824 ~ 8.24% / năm 2 kết quả đó cho thấy, trả lãi định kì 3 tháng đem lại thu nhập cho nhà đầu tư cao hơn 6 tháng, vì nó giúp nhà đầu tư tái đầu tư tiền lãi nhanh hơn.
EE Bond / Trái Phiếu EE
Thuộc loại trái phiếu tiết kiệm. Trái phiếu có tên EE được phát hành năm 1980 để thay thế cho trái phiếu có tên E. Trái phiếu EE được bán bằng nửa giá trị bề mặt (có mệnh giá từ 50 - 10 000 đôla), và được bảo đảm sẽ có giá ít nhất bằng giá bề mặt vào lúc đáo hạn, từ 8 - 20 năm phụ thuộc vào ngày phát hành. Trái phiếu điện tử EE được bán trực tiếp thông qua TreasuryDirect đúng bằng giá trị bề mặt (ít nhất là 25 USD), tuy nhiên chúng được bảo đảm sẽ có giá trị ít nhất gấp đôi giá trị bề mặt vào lúc đáo hạn. Trái phiếu EE có lãi suất thay đổi phụ thuộc vào ngày phát hành. Vào tháng 5 năm 2005, EE bond được quy định lãi suất cố định vào thời gian mua. Hiện tại lãi suất là 3,6%. Các trái phiếu phát hành tháng 5 nămm 1997 hoặc muộn hơn được nhận lãi suất hàng tháng, và được tính lãi kép 2 lần một năm, cho đến khi chúng hết hạn (sau 30 năm). Các trái phiếu EE phát hành trước thời gian này có lãi suất tính gộp rất khác nhau, nhưng giống nhau ở điểm đều đáo hạn sau 30 năm. Lãi suất trái phiếu EE được mua từ năm 1989 trở đi được miễn thuế nếu được sử dụng cho chi phí giáo dục, với điều kiện là các chi phí phải trả trong cùng năm với lãi suất được trả.
Edgeworth, Francis Ysidro / (1845-1926)
Giáo sư kinh tế chính trị học ở trường đại học Oxford 1891-1922 và là người theo chủ nghĩa vị lợi, là người phát minh ra công cụ về đường bàng quan và đường hợp đông mà sử dụng trong thuyết hàng đổi hàng. Ông cũng nổi tiếng với công trình về các phương pháp thống kê và đặc biệt là quy luật chung của sai số, chỉ số và hàm số. Ông đã mở rộng QUY LUẬT LỢI TỨC GIẢM DẦN từ nông nghiệp sang chế tạo như một nguyên lý chung.
Economy Of High Wages / Nền Kinh Tế Có Tiền Công Cao
Một nhận định rằng, tiền công cao sẽ dẫn đến năng suất cao; tiền công và sản phẩm lao động biên được coi là có liên hệ thuận với nhau.





