Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Engineering Method / Phương Pháp Kỹ Thuật

Một phương pháp được dùng trong phương pháp phân tích chi phí thống kê, trong đó những ước tính của người kỹ sư về mối liên hệ đầu vào- đầu ra là cơ sở để tính toán chi phí sản xuất tối thiểu tại các mức sản lượng khác nhau.

Engel's Law / Quy Luật Của Engel

Một "quy luật" tiêu dùng thực nghiệm do Ernst Engel đề xướng. Ý tưởng ở đây là phần thu nhập quốc gia được chi tiêu cho lương thực là một chỉ số tốt về phúc lợi của quốc gia đó.

Engagements / Tuyển Dụng (Hay Thuê Mới)

Một đường biểu thị mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng của một cá nhân về một hàng hoá cụ thể.

Enfranchisement Of The Nomenklatura / Đặc Quyền Của Giới Chức

Một cách tiếp cận không chính thức và không rõ ràng đối với quá trình tư nhân hóa nhanh chóng tài sản nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (và một vài nước khác), qua đó các nhà hoạt động đảng phái trước đây và quan chức nhà nước có thể mua tài sản nhà nước với giá thấp hơn giá thị trường. Thuật ngữ nomenklatura chỉ những người được lựa chọn vào các chức vụ cao, nhưng không phải do công trạng mà do sự phán quyết của đảng cầm quyền.

Energy Intensity / Cường Độ Sử Dụng Năng Lượng

Một chỉ báo về tính hiệu quả trong việc sử dụng năng lượng cơ bản trong sản xuất một đơn vị tổng sản phẩm quốc nội.

Endowment Effect / Hiệu Ứng Hàng Đã Có

Các cá nhân đòi hỏi nhiều hơn để có thể lôi kéo họ từ bỏ một hàng hoá mà họ đã có so với số tiền mà họ sẵn lòng trả để có được hàng hóa tương tự.

Endorsement / Kí Hậu

Kí hậu (trong kinh tế) 1. Là hành động kí của người sở hữu công cụ ghi nợ (người được trả tiền hoặc được hưởng quyền lợi) lên mặt sau của công cụ đó để chuyển quyền hưởng lợi của công cụ này cho một người khác. Kí hậu rất phổ biến đối với hối phiếu, séc hoặc đơn bảo hiểm. Có các hình thức kí hậu sau:1. Kí hậu để trắng (Blank endorsement): Là việc kí hậu không ghi rõ tên của người hưởng quyền lợi, ai cầm công cụ có kí hậu để trắng sẽ trở thành người hưởng lợi.2. Kí hậu theo lệnh (To order endorsement): Ví dụ người kí hậu ghi câu "trả theo lệnh ông X" và kí tên thì người hưởng lợi của công cụ ghi nợ sẽ là ông X hoặc ai đó khác do ông X ra lệnh.3. Kí hậu hạn chế (Restrictive Endorsement): là việc chỉ định đích danh người được hưởng lợi. Ví dụ: người kí hậu ghi "trả cho ông Nguyễn Văn A" thì chỉ có ông A được quyền hưởng lợi và không một ai khác. Ông A cũng không được phép kí hậu để chuyển nhượng quyền lợi tiếp nữa.4. Kí hậu miễn truy đòi (without recourse endorsement): Nếu người kí hậu ghi "Trả theo lệnh ông B, miễn truy đòi" và kí tên thì khi công cụ ghi nợ bị từ chối trả tiền ông B cũng không có quyền truy đòi lại người đã kí hậu trực tiếp cho mình. Trong đời thường còn có việc những người nổi tiếng được các công ty trả tiền để ghi xác nhận lên một sản phẩm nào đó để chứng tỏ chất lượng cho sản phẩm đó. Đây cũng là một hình thức của endorsement.

Endorsable Draft / Exchange; Endorse Draft / Hối Phiếu Ký Hậu

1. Ký hậu ( endorse)  được sử dụng trong trường hợp chuyển nhượng quyền sở hữu đối với tài sản ( thường là hối phiếu, vận đơn, cổ phiếu, trái phiếu...).  Tên của người hưởng lợi sẽ được ghi trên mặt sau của những giấy tờ trên như một bằng chứng hợp pháp cho quyền sở hữu tài sản hoặc được hưởng lợi tức từ tài sản đó.  2. Ký hậu hối phiếu ( Endorse draft , Endorsable draft) : Ký hậu là một thủ tục pháp lý dùng để chuyển nhượng hối phiếu. Người hưởng lợi muốn chuyển nhượng hối phiếu cho người khác thì phải ký vào mặt sau của tờ hối phiếu rồi chuyển hối phiếu cho người đó. Người ký hâu không cần phải nêu lý do của sự chuyển nhượng và cũng không cần phải thông báo cho người trả tiền biết về sự chuyển nhựợng đó. Người ký hậu không những đảm bảo rằng người trả tiền hối phiếu có mắc nợ số tiền ghi trên hối phiếu mà còn đảm bảo rằng mình sẽ trả tiền hối phiếu đó cho những người được chuyển nhượng, nếu như người trả tiền từ chối thanh toán hối phiếu đó. 3.Các loại ký hậu: Ký hậu để trắng: là việc ký hậu không chỉ định người được hưởng quyền lợi hối phiếu do thủ tục hối phiếu mang lại. Người nào cầm hối phiếu sẽ trở thành người được hưởng lợi hối phiếu. Ký hậu theo lệnh : là việc ký hậu chỉ định một cách suy đoán ra người hưởng lợi hối phiếu do thủ tục ký hậu đem lại. Người ký hậu chỉ ghi câu: trả theo lệnh ông X và ký tên. Ký hậu hạn chế: là việc ký hậu chỉ định rõ rệt người được hưởng lợi hối phiếu và chỉ người đó mà thôi. Ký hậu miễn truy đòi: là việc ký hậu mà người ký hậu ghi thêm câu “miễn truy đòi” cùng với một trong ba loại ký hậu nêu trên.

Endogenous Variable / Biến Nội Sinh

Một biến số mà giá trị của nó được xác định trong khuôn khổ của một mô hình kinh tế hay kinh tế lượng.

Endogenous Money Supply / Cung Tiền Tệ Nội Sinh

Theo quan điểm này, mức cung tiền được quyết định bởi các tác nhân bên trong nền kinh tế, chẳng hạn như lãi suất và mức độ hoạt động kinh doanh.

Endogenous Income Hypothesis / Giả Thiết Thu Nhập Nội Sinh

Một giả thiết cho rằng độ thoả dụng là một hàm của chi tiêu của tiêu dùng và của cải.

Giả Thiết Thu Nhập Nội Sinh (Endogenous Income Hypothesis) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Giả Thiết Thu Nhập Nội Sinh (Endogenous Income Hypothesis) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Encompassing Test / Phép Kiểm Nghiệm Vây; Phép Kiểm Nghiệm Vòng Biên

Phép kiểm nghiệm không tập trung này dựa trên nguyên tắc cho rằng một mô hình nên có các đặc điểm nổi bật của các mô hình khác nhau và có thể là các mô hình đối nghịch.

Employment Service / Dịch Vụ Việc Làm

Các văn phòng nhà nước hay tư nhân cố gắng sắp xếp những người xin việc vào các chỗ trống hiện có.

Employment Report / Báo Cáo Nhân Dụng

Báo cáo nhân dụng cung cấp thông tin về tỷ lệ thất nghiệp, do các xí nghiệp công nghiệp báo cáo về tạo hoặc thu hẹp việc làm, và xu hướng tiền lương.  Nhìn chung, tỷ lệ nhân dụng càng cao thì nền kinh tế càng khoẻ mạnh, và người tiêu dùng càng tin tưởng trong chi tiêu.

Employment Act Of 1946 / Đạo Luật Việc Làm Năm 1946

Tiết một của đạo luật này quy định rằng, trong quyền hạn của mình, chính phủ liên bang Mỹ làm mọi việc để tạo ra và duy trì cơ hội về việc làm, tăng trưởng bền vững và sức mua ổn định cho đồng tiền của Mỹ.

Employee Stock Ownership Plan (ESOP) / Kế Hoạch Sở Hữu Cổ Phần Cho Người Làm

Một kế hoạch cho phép các nhân viên trong các hãng của Mỹ được hưởng lợi nhuân và sự tăng trưởng của doanh nghiệp bằng cách sở hữu các cổ phần trong cổ phần chung của công ty.

Một kế hoạch cho phép các nhân viên trong các hãng của Mỹ được hưởng lợi nhuân và sự tăng trưởng của doanh nghiệp bằng cách sở hữu các cổ phần trong cổ phần chung của công ty.

Employee Stock Option / Quyền Mua Cổ Phiếu Dành Cho Nhân Viên

Quyền mua cổ phiếu là một quyền chọn mua mà một công ty dành cho thành viên công ty đối với cổ phiếu của chính công ty đó như là một hình thức trả thù lao phi tiền mặt. Một số hạn chế đối với quyền chọn này đều nhằm mục đích gắn chặt quyền lợi của những người nắm quyền chọn này với các cổ đông khác của công ty, kích thích họ làm việc tốt hơn, cống hiến nhiều hơn cho công ty. Quyền mua cổ phiếu thường dành cho các nhà quản trị như là một phần trong chế độ lương bổng của họ. Các doanh nghiệp mới thành lập, làm ăn chưa có lãi, có thể sử dụng quyền mua cổ phiếu để trả lương cho nhân viên thay vì sử dụng tiền mặt. Ngoài ra trong một số trường hợp ngoại lệ, quyền mua cổ phiếu cũng có thể được dành cho các đối tác ngoài doanh nghiệp như nhà cung cấp, nhà tư vấn, các luật sư... Quyền mua cổ phiếu cũng giống như các quyền chọn mua khác, trừ một số điểm sau: Thông thường thì giá thực hiện phải được ấn định vào ngày mà công ty dành cho nhân viên quyền mua cổ phiếu này. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều công ty đã tự động lùi thời gian của quyền chọn mua này về một thời điểm trước đó khi giá cổ phiếu thấp hơn, bằng cách này người có quyền chọn mua sẽ đã có lợi ngay khi nhận được quyền. Hoặc theo một cách khác, quyền mua cổ phiếu thường được dành cho các thành viên công ty trước khi công bố một thông tin tốt, có khả năng sẽ đẩy giá cổ phiếu lên. Ví dụ: giá cổ phiếu X hôm nay là $15/cp, cách đây 5 ngày là $12/cp. Hôm nay là ngày công ty trả lương cho CEO của mình bằng quyền chọn mua cổ phiếu, nếu tính theo hiện giá thì công ty chỉ cho anh ta quyền chọn mua với giá $15/cp. Tuy nhiên bằng việc ghi lùi ngày trả quyền chọn về 5 ngày trước, công ty đã cho phép CEO này được mua với giá $12/cp, lãi 3$/cp. Mỗi quyền mua cổ phiếu lại có một khoảng thời gian chặn dưới nhất định, mà sau khoảng thời gian này người nắm quyền mới được phép thực hiện quyền mua của mình. Khoảng thời gian này ngắn dài tuỳ từng công ty, nhưng thường là trên 2 năm. Quyền mua sẽ chỉ có hiệu lực chừng nào người nắm quyền còn là nhân viên của công ty. Vì vậy mà quyền mua cổ phiếu đôi khi được ví von với cái cùm tay bằng vàng (tương tự như cái bắt tay bằng vàng hay cái dù bằng vàng). Nhiều nhân viên sẽ có cảm giác bó buộc trước những thời hạn quá dài như vậy cho dù họ không có ý định rời khỏi công ty. Với các công ty chưa được niêm yết công khai, thì quyền mua cổ phiếu về lý thuyết là không thể thực hiện được (do đó nó không có giá trị gì) cho đến khi công ty bị thâu tómhoặc được niêm yết công khai lần đầu (IPO). Quyền mua cổ phiếu là không thể chuyển nhượng được, trừ trường hợp người hưởng quyền chết, thì vợ hoặc chồng người đó được thừa kế toàn bộ quyền mua cổ phiếu có thể thực hiện (quyền mua đã đến hạn). Việc sử dụng quyền mua cổ phiếu để trả lương cho nhân viên có một số điểm lợi và hại như sau: Lợi: Công ty không phải sử dụng đến tiền mặt để trả lương, trong khi tiền mặt là thứ các công ty rất cần, đặc biệt là giai đoạn đầu Người nắm quyền mua cổ phiếu không phải đóng thuế thu nhập cho đến khi quyền mua được thực hiện, do đó tỉ lệ thuế trên thu nhập giảm đi Khi giá cổ phiếu lên, nhân viên sẽ có động lực làm việc hăng say nhiệt tình hơn Quyền mua cổ phiếu trói chặt quyền lợi của người nắm quyền với công ty, do đó giữ chân được những vị trí quan trọng trong công ty. Hại: Khi giá cổ phiếu giảm, gây tâm lý tiêu cực cho nhân viên nắm quyền mua cổ phiếu Khuyến khích giới lãnh đạo ra quyết định để công ty mua ngược cổ phiếu trên thị trường nhằm nâng giá cổ phiếu lên (vì họ có quyền mua cổ phiếu) thay vì trả cổ tức (vì cổ tức trả trên cổ phiếu, chứ không được trả cho quyền chọn mua), gây thiệt hại cho cổ đông.

Emoluments / Khoản Thù Lao; Thù Lao Ngoài Lương Chính

Được định nghĩa là một phần tiền lương của ban quản lý và các lợi ích PHI TIỀN TỆ mà lợi ích này không phải là một phần giá cung cấp của doanh nghiệp (lương chính).

Emissions Trading / Mua Bán Giấy Phép Khí Thải

Là một kế hoạch nhằm tạo ra nguồn động viên để các quốc gia và các ngành công nghiệp giảm bớt lượng khí thải gây ô nhiễm. Trong kế hoạch này, các chính phủ quy định lượng khí thải gây ô nhiễm tối đa mà các ngành kinh doanh có thể thải ra. Các công ty hoặc các ngành công nghiệp phải giữ một số giấy phép nhất định để được phép thải ra một lượng khí thải tương đương. Tổng lượng chất thải tương đương với số giấy phép được cấp không được vượt quá lượng tối đa quy định. Những công ty cần phải thải ra lượng khí thải lớn hơn thì phải mua thêm giấy phép từ những công ty không sử dụng hết số giấy phép. Việc mua bán giấy phép như thế được gọi là kinh doanh giấy phép chất thải. Hành động mua bán như vậy cho phép tổng lượng thải ra luôn ở mức kiểm soát, trong khi đó các công đi lại được phép linh hoạt, các công ty thải ít được thưởng (bằng số tiền bán lại) các công ty thải nhiều (bị phạt bằng số tiền phải trả). Vì vậy theo lí thuyết, đây là một cách giảm thiểu ô nhiễm với chi phí thấp nhất cho xã hội.

Embodied Technical Progress / Khoản Thù Lao; Thù Lao Ngoài Lương Chính

Được định nghĩa là một phần tiền lương của ban quản lý và các lợi ích phi tiền tệ mà lợi ích này không phải là một phần giá cung cấp của doanh nghiệp (lương chính).

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55