Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Error Resolution / Giải Quyết Sai Sót

Thuật ngữ này chỉ tiến trình sửa chữa lại các giao dịch gây tranh cãi đối với tài khoản ngân hàng của người sử dụng. Một người tuyên bố rằng ngân quỹ đã bị một người không có thẩm quyền chuyển đi mà chưa có sự đồng ý trước hay giao dịch mua bán đã bị nhập vào không rõ ràng vì sai sót của kế toán ngân hàng thì người này có thể sửa lại sai sót bằng cách báo cho tổ chức giữ lại tài khoản đó. Một khi đã được thông báo, tổ chức tài chính có từ 10 đến 45 ngày để thẩm tra lời khiếu nại và ghi lại bên có số ngân quỹ đã ghi bên nợ vì sai sót.

Thủ tục điều chỉnh các giao dịch tranh chấp đối vời tài khoản ngân hàng của khách hàng theo Quy Định E của Dự trữ Liên bang. Khách hàng than phiền rằng tiền bị lấy ra khỏi tài khoản bởi một Giao Dịch Trái Phép của người khác mà không được thỏa thuận trước, hoặc giao dịch ghi không đủng do lỗi kế toán của ngân hàng, sai sót có thể được điều chỉnh bằng cách thông báo cho định chế tài chính đang nắm giữ tài khoản. Khi gửi thông báo thì các định chế tài chính có từ 10 đến 45 ngày để điều tra khiếu nại, và ghi lại vào các quỹ đã bị ghi nợ do sai sót. Tài khản nợ phải trả của khách hàng theo quy định bị giới hạn là $50 nếu ngân hàng được thông báo sai sót, trái lại có thể sai đến $500.

Error Correction Models (Ecms) / Các Mô Hình Hiệu Chỉnh Sai Số; Các Mô Hình Sửa Chữa Sai Số

Trong phân tích và hồi quy một ECMs kết hợp các sự tác động qua lại ngắn hạn và dài hạn giữa các biến số.

Equivalent Income Scale / Thang/ Hệ Số/ Tỷ Lệ/ Qui Mô Qui Đổi Thu Nhập Tương Đương

Một hệ số bằng số áp dụng đối với mức thu nhập của các gia đình cần có để đạt tới mức sống nhất định.

Equivalent Commodity Scale / Thang/ Hệ Số/ Tỷ Lệ/ Qui Mô Qui Đổi Hàng Hoá Tiêu Dùng Tương Đương

Một hệ số biểu thị bằng số áp dụng cho mức tiêu dùng các hàng hoá nhất định của các giá đình trong các hoàn cảnh khác nhau để chỉ ra mức tiêu dùng mà mỗi gia đình cần có để đạt được mức sống nhất định.

Equivalance Scale / Thang / Hệ Số / Tỷ Lệ / Qui Mô Qui Đổi Mức Sống Tương Đương; Quy Mô Tương Đương

Một hệ số hoặc một "quyền số" được dùng để đánh giá mức thu nhập hoặc tiêu dùng mà các gia đình bắt buộc phải có trong các hoàn cảnh khác nhau để đạt được một "mức sống" nhất định.

Equity Risk Premium / Phần Bù Rủi Ro Vốn Cổ Phần

Phần tỷ suất sinh lợi vượt trội hơn tỷ suất sinh lợi phi rủi ro mà một chứng khoán riêng lẻ hoặc toàn bộ thị trường có thể đạt được gọi là phần bù rủi ro vốn cổ phần. Phần tỷ suất sinh lợi vượt trội này chính là phần thưởng cho các nhà đầu tư vì họ đã dám chấp nhận một mức rủi ro cao hơn khi đầu tư vào thị trường vốn cổ phần so với đầu tư vào trái phiếu phi rủi ro. Độ lớn của phần bù rất khác nhau bởi vì rủi ro của mỗi chứng khóan riêng biệt hoặc của tòan bộ thị trường chứng khóan luôn khác nhau. Thường thì các khoản đầu tư có rủi ro cao hơn sẽ có phần bù rủi ro cao hơn.Lý do đằng sau phần bù này chính là sự đánh đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Nhà đầu tư chỉ chấp nhận các khoản đầu tư rủi ro hơn khi họ nhận được một tỷ suất sinh lợi cao hơn tương ứng. Tỷ suất sinh lợi phi rủi ro được niêm yết chính là lãi suất trái phiếu chính phủ. Trái phiếu chính phủ được xem là phi rủi ro bởi vì xác suất chính phủ bị mất khả năng thanh tóan cho người nắm giữ trái phiếu là rất thấp, hầu như bằng 0. Mặt khác, một khỏan đầu tư vào cổ phiếu thì có sự đảm bảo thấp hơn, các công ty thường xuyên làm ăn không hiệu quả hoặc là phá sản.Nếu tỷ suất sinh lợi của một cổ phiếu nào đó là 15% và lãi suất phi rủi ro của cùng giai đoạn đó là 7% thì phần bù rủi ro vốn cổ phần của cổ phiếu đó sẽ là 8% cho thời gian đó.

Equity Reit / Vốn Cổ Đông Bất Động Sản

Thuật ngữ này dùng để chỉ cơ quan uỷ thác đầu tư bất động sản giữ vị thế sở hữu bất động sản mà nó đầu tư. Cổ đông trong vốn cổ đông REIT có cổ tức từ lợi nhuận cho thuê nhà cao tầng và có mức thu tăng nếu tài sản được bán để kiếm lời. Ngược lại với cho vay để đầu tư bất động sản.

Equity Of Redemption / Vốn Chuộc Lại

Đây là thuật ngữ chỉ quyền của người vay có thế chấp được chuộc lại tài sản sau khi đã mất khả năng chi trả và để tránh bán đấu giá tài sản bị tịch thu, bằng cách chi trả số vốn còn lại (chưa trả) cộng tiền lãi và các phí khác cho người giữ thế chấp.

Equity Kicker / Ngườl Kích Thích Vốn Đầu Tư

Thuật ngữ dùng để chỉ đóng góp phần sở hữu trong một vụ kinh doanh có liên quan đến số tiền cho vay. Ví dụ, góp vốn trách nhiệm hữu hạn vào bất động sản thế chấp cho người xây cất bất động sản mượn, dưới dạng đồng sở hữu một phần nhỏ trong xây dựng nhà cao tầng có trị giá gia tăng theo thời gian. Khi toà nhà được bán, thành viên góp vốn trách nhiệm hữu hạn sẽ nhận lại được số chi trả cao hơn. Đổi lại việc làm này, người cho vay thường là tính phí lãi suất tiền cho vay thấp hơn lãi suất bình thường. Hợp đồng futures khả hoán và chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán là loại kích thích vốn đầu tư, nó làm cho chứng khoán hấp dẫn người đầu tư.

Equity Interest / Quyền Lợi Trong Vốn Cổ Đông

Thuật ngữ này có nghĩa: Khi được dùng đối với công ty thì nó có nghĩa là chứng khoán thường và bất cứ loại chứng khoán nào có thể chuyển đổi, trao đổi hoặc sử dụng như chứng khoán thường. Khi được dùng trong lĩnh vực dự phần (chung vốn) thì nó có nghĩa là quyền lợi trong số vốn hoặc lời hoặc lỗ trong việc góp vốn.

Equity Funding / Gây Quỹ Vốn Cổ Đông

Đây là loại đầu tư phối hợp giữa hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và quỹ hỗ tương đầu tư. Cổ phần trong quỹ được dùng thế chấp cho số tiền vay để trả phí bảo hiểm, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư về bảo hiểm nhân thọ và có thêm tiềm năng nâng cao đầu tư.

Equity Financing / Huy Động Thêm Vốn Cổ Đông

Thuật ngữ này dùng để chỉ phương pháp tài trợ thêm vốn bằng cách phát hành cổ phần thường hay chứng khoán ưu đãi. Thường thực hiện khi giá chứng khoán cao và khi chỉ cần phát hành cổ phần với số lượng ít nhất cũng đủ có nhiều vốn.

Equity Derivative / Phái Sinh Vốn Sở Hữu

Phái sinh vốn sở hữu là một công cụ phái sinh với tài sản cơ sở dựa trên các cổ phiếu. Gía trị phái vốn sở hữu sẽ dao động theo sự thay đổi trong cổ phiếu của tài sản cơ sở của nó, và thông thường được đo lường bằng giá cổ phiếu. Các nhà đầu tư có thể sử dụng các phái sinh vốn sở hữu để phòng ngừa rủi ro liên quan đến các vị thế cổ phiếu bằng cách thiết lập các giới hạn cho các khoản lỗ xảy ra với bất kỳ vị thế mua hay vị thế bán cổ phần của công ty. Nhà đầu tư nhận được sự bảo đảm này bằng việc trả phí cho các hợp đồng phái sinh. Nếu một nhà đầu tư mua một cổ phiếu, anh ta có thể bảo vệ cổ phiếu của mình chống lại sự sụt gỉam giá trị  bằng việc mua một quyền chọn bán. Mặt khác, nếu nhà đầu tư bán khống chứng khoán, anh ta có thể chống lại sự tăng giá cổ phiếu bằng việc mua một quyền chọn mua. Các quyền chọn là  các phái sinh vốn sở hữuthường thấy nhất bởi vì chúng cho phép người nắm giữ quyền được mua hoặc được bán cổ phiếu với một mức giá đã được quyết định trước. Các phái sinh cổ phiếu phức tạp hơn bao gồm hoán đổi chỉ số cổ phiếu, giao sau chỉ số chứng khoán hoặc giao sau trái phiếu chuyển đổi.

Equity Contract Notes / Giấy Nợ Cho Hợp Đồng Vốn

Thuật ngữ này dùng để chỉ: Giấy nợ hay giấy nợ không có thế chấp bảo đảm (Debenture) do ngân hàng hay công ty chủ quản ngân hàng phát hành, là giấy nợ có thể chuyển đổi sang chứng khoán thường với giá chuyển đổi ấn định vào thời điểm trong tương lai.Nó còn được gọi là giấy nợ vốn. Giấy nợ vốn với điều khoản khả hoán quy định (Mandatory Convertible), quy định nhà phát hành sẽ đổi giấy nợ ra cổ phần chứng khoán thường, có đủ tiêu chuẩn là vốn cấp hai (Tier 2 capital) theo quy định vốn có rủi ro (Risk- based capital) được cơ quan lập pháp ngân hàng chấp nhận.

Equity Commitment Notes / Giấy Nợ Cam Kết Về Vốn

Đây là giấy nợ vốn do ngân hàng hay công ty chủ quản ngân hàng phát hành.Quy định một lúc nào đó sẽ được thu hồi trước ngày đáo hạn bằng số tiền thu được từ số chứng khoán thường mới phát hành. Đây là loại trái phiếu được xem như là nợ trên quan điểm kế toán, nhằm chi trả cho tiền lãi được khấu trừ vào thuế và tính vào tỷ lệ quy định vốn / tài sản của nhà phát hành.

Equity Collar / Vòng Đệm Cổ Phiếu

Vòng đệm cổ phiếu là một kĩ thuật giao dịch cổ phiếu, kết hợp giữa một hợp đồng quyền chọn mua và một hợp đồng quyền chọn bán, giúp nhà đầu tư tạo ra một biên an toàn cho cổ phiếu của mình. Nhà đầu tư, sở hữu một loại cổ phiếu nào đó, có thể tạo ra một  vòng đệm cho nó bằng cách mua một hợp đồng quyền chọn bán với giá thực hiện thấp hơn hoặc bằng giá thị trường, đồng thời bán một hợp đồng quyền chọn mua với giá thực hiện cao hơn giá thị trường vào thời điểm hiện tại. Việc mua hợp đồng quyền chọn bán giúp nhà đầu tư tự bảo vệ mình trước sự giảm giá của cổ phiếu xuống dưới giá thực hiện (giá kích phát). Ngược lại khi nhà đầu tư bán cho một nhà đầu tư khác quyền chọn mua cổ phiếu với mức giá cao hơn cũng có nghĩa là anh ta chấp nhận khả năng buộc phải bán số cổ phiếu đó khi giá thị trường lên đến giá kích phát của hợp đồng quyền chọn mua. Bằng việc tạo ra một vòng đệm, cổ phiếu của nhà đầu tư được giữ an toàn trong một khoảng nhất định chừng nào các hợp đồng quyền chọn còn hiệu lực. Tuỳ vào tình hình thị trường mà phí quyền chọn mua và quyền chọn bán có thể khác nhau, nhưng nhà đầu tư thường cố gắng làm sao để chúng có thể bù đắp được cho nhau. Trong trường hợp đó nhà đầu tư đã tạo ra một vòng đệm an toàn cho cổ phiếu của mình mà không mất một chi phí nào. Người ta gọi đó là một "vòng đệm miễn  phí" - zero cost collar. Ví dụ: Một nhà đầu tư sở hữu 100.000 cổ phiếu X, với giá thị trường hiện tại là $50/cp. Nhà đầu tư không muốn bán cổ phiếu này ngay (cũng có thể là không được phép bán do một qui định nào đó). Để tránh nguy cơ mất giá quá nhiều của cổ phiếu này mà không mất số tiền mua một hợp đồng quyền chọn bán nhà đầu tư đã cùng lúc tham gia vào 2 hợp đồng quyền chọn. Anh ta mua một hợp đồng quyền chọn bán kiểu Châu Âu thanh toán chênh lệch bằng tiền mặt, kì hạn 2 năm từ ngân hàng New York với giá kích phát là $45 đồng thời bán một hợp đồng quyền chọn mua tương tự cho chính ngân hàng đó với giá kích phát $65. Phí quyền chọn của 2 hợp đồng quyền chọn mua vừa đủ bù đắp phí quyền chọn của hợp đồng quyền chọn bán nên nhà đầu tư không mất thêm chi phí gì. Như vậy nhà đầu tư đã tạo ra một vòng đệm giá $45 - $65 cho cổ phiếu của mình. Hãy xem vòng đệm này hoạt động như thế nào: 2 năm sau, khi hợp đồng quyền chọn đến hạn. Nếu giá cổ phiếu giảm xuống 40, thấp hơn giá kích phát của hợp đồng quyền chọn bán, ngân hàng New York sẽ thanh toán cho nhà đầu tư số tiền chênh lệch 45-40 = $5/cp. Như vậy số lỗ của nhà đầu tư bị giới hạn ở mức đúng  50 - 45 =$5/cp Nếu giá cổ phiếu lên đến $75/cp, cao hơn giá kích phát của hợp đồng quyền chọn mua, vậy nhà đầu tư sẽ phải thanh toán chênh lệch 75 - 65 = $15/cp. Nhà đầu tư lúc này sẽ có lãi nhưng mức lãi của anh ta sẽ dừng lại ở đúng 65 - 50 = $15/cp. Trường hợp thứ ba, giá cổ phiếu vẫn nằm trong khoảng ($45 - $65), cả hai hợp đồng quyền chọn sẽ trở thành vô giá trị, và nhà đầu tư vẫn giữ được số cổ phiếu của mình. Trong ví dụ trên, nếu nhà đầu tư không có ý định "đầu tư" lâu dài vào một cổ phiếu mà chỉ muốn giữ cổ phiếu để chờ việc kiếm lời từ việc biến động giá thì anh ta nên sử dụng hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ, hợp đồng cho phép thực hiện trước khi đáo hạn. Vòng đệm cổ phiếu đem lại rất nhiều lợi ích cho nhà đầu tư, anh ta sẽ được bảo vệ trước những biến động xấu của cổ phiếu, trong khi vẫn giữ được số cổ phiếu đó đồng thời không mất một khoản phí nào. Tuy vậy, hạn chế của chiến lược đầu tư này là nhà đầu tư cũng không thể tăng lợi nhuận của mình quá mức giới hạn được, dù cho giá cổ phiếu có tăng đến đâu. Ngoài ra, để áp dụng được chiến lược này thì thị trường chứng khoán phải thực sự phát triển, với nhiều công cụ phái sinh đa dạng (hợp đồng quyền chọn).

Equity Carve-Out / Bán Cổ Phần Khơi Mào

Hoạt động bán cổ phần khơi mào, còn gọi là chia tách một phần, xảy ra khi công ty mẹ tiến hành bán ra công chúng lần đầu một lượng nhỏ (dưới 20%) cổ phần của công ty con mà nó nắm hoàn toàn quyền sở hữu. Thương vụ này không chỉ cho phép công ty mẹ huy động được lượng vốn cần thiết mà còn giúp họ giữ lại quyền kiểm soát với công ty con. Thông thường, sau khi bán bớt một phần nhỏ cổ phần của công ty con ra công chúng, công ty mẹ sẽ bán nốt số còn lại vào một thời điểm sau đó. Việc bán khơi mào một lượng cổ phần nhỏ có thể coi là bước khởi đầu cho quá trình chia tách công ty. Các tập đoàn đa ngành khi phát triển đến một mức độ nhất định, hoặc trong những điều kiện kinh tế không thuận lợi có xu hướng sắp xếp lại (streamline) hoạt động của họ cho hợp lý hơn. Một trong các lựa chọn là bán bớt những công ty con phát triển không tốt lắm hoặc ít liên quan đến lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của công ty, thông qua việc phát hành cổ phiếu công ty ra thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, các công ty thường không bán hết ngay 100% số cổ phần của công ty con này ngay sau khi phát hành mà chỉ bán khơi mào một số lượng nhỏ vì một số lý do sau: trước khi phát hành cổ phiếu ra thị trường, các công ty con này thường thuộc quyền sở hữu 100% của công ty mẹ, và ít được thị trường biết đến. Việc bán khơi mào một lượng nhỏ cổ phần ra thị trường chứng khoán giúp công ty con này được các nhà đầu tư quan tâm hơn và nó có thể giúp giá cổ phiếu tăng dần lên sau một thời gian. Như cách một nhà phân tích nói là nó giúp " khai phá giá trị tiềm ẩn của những công ty con", hay đó thực chất là quá trình công ty mẹ marketing cho cổ phiếu trước khi bán nó. Tuy nhiên, không phải mọi cổ phiếu sau khi bán khơi mào đều được bán hết sau đó. Nếu công ty mẹ công bố rõ ràng ý định bán hoàn toàn cổ phần của công ty con trong tương lai thì giá cổ phiếu mới tăng, trường hợp ngược lại cổ phiếu của công ty con này thường không hấp dẫn nhà đầu tư bằng.

Equity / Vốn Sở Hữu

Equity có thể được hiểu theo các cách sau: 1. Là cổ phần hoặc bất cứ loại chứng khoán nào khác đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông. 2. Trên bảng cân đối Kế toán, Equity là lượng tiền được cổ đông đóng góp cộng với các khoản thu được (hoặc trừ đi khoản bị mất). 3. Trong nghiệp vụ mua bán Chứng khoán, là giá trị của chứng khoán trong tài khoản trừ đi khoản vay từ công ty môi giới. 4. Trong Bất động sản, Equity là sự chênh lệch giữa giá trị hiện tại trên thị trường của tài sản và phần nợ chủ sở hữu loại tàn sản ấy phải trả cho chủ nợ do đã đem tài sản đó đi thế chấp. Vì vậy Equity sẽ là phần chủ sở hữu nhận được sau khi bán đi tài sản đó và trả hết phần nợ thế chấp. Tóm lại, Equity có rất nhiều nghĩa phụ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Nhìn chung có thể hiểu là phần sở hữu của chủ tài sản đối với bất cứ loại tài sản nào sau khi số nợ liên quan đến tài sản đó đã được trả hết. Ví dụ, một chiếc ôtô hay một ngôi nhà không bị mang ra cầm cố, thế chấp hay mang đi trả nợ thì sẽ được coi là Equity của chủ sở hữu nếu anh có thể bán nó lấy tiền. Cổ phần là vốn sở hữu-equity bởi vì nó đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cá nhân trong công ty, nhưng Trái phiếu thì lại được coi là nợ bởi vì nó đại diện cho nghĩa vụ trả nợ của công ty (vì công ty phát hành trái phiếu để huy động vốn cũng chính là nợ chủ sở hữu trái phiếu một khoản tiền hay tài sản nhất định).

Equity có thể được hiểu theo các cách sau: 1. Là cổ phần hoặc bất cứ loại chứng khoán nào khác đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cổ đông. 2. Trên bảng cân đối Kế toán, Equity là lượng tiền được cổ đông đóng góp cộng với các khoản thu được (hoặc trừ đi khoản bị mất). 3. Trong nghiệp vụ mua bán Chứng khoán, là giá trị của chứng khoán trong tài khoản trừ đi khoản vay từ công ty môi giới. 4. Trong Bất động sản, Equity là sự chênh lệch giữa giá trị hiện tại trên thị trường của tài sản và phần nợ chủ sở hữu loại tàn sản ấy phải trả cho chủ nợ do đã đem tài sản đó đi thế chấp. Vì vậy Equity sẽ là phần chủ sở hữu nhận được sau khi bán đi tài sản đó và trả hết phần nợ thế chấp. Tóm lại, Equity có rất nhiều nghĩa phụ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Nhìn chung có thể hiểu là phần sở hữu của chủ tài sản đối với bất cứ loại tài sản nào sau khi số nợ liên quan đến tài sản đó đã được trả hết. Ví dụ, một chiếc ôtô hay một ngôi nhà không bị mang ra cầm cố, thế chấp hay mang đi trả nợ thì sẽ được coi là Equity của chủ sở hữu nếu anh có thể bán nó lấy tiền. Cổ phần là vốn sở hữu-equity bởi vì nó đại diện cho tỷ lệ sở hữu của cá nhân trong công ty, nhưng Trái phiếu thì lại được coi là nợ bởi vì nó đại diện cho nghĩa vụ trả nợ của công ty (vì công ty phát hành trái phiếu để huy động vốn cũng chính là nợ chủ sở hữu trái phiếu một khoản tiền hay tài sản nhất định).

Equities / Cổ Phần

Còn được gọi là cổ phiếu thường, là những cổ phiếu ở dạng vốn phát hành của một công ty.

Equipment Trust Certificate / Chứng Chỉ Uỷ Thác Trang Thiết Bị

Thuật ngữ này dùng để chỉ trái phiếu thường được công ty vận chuyển phát hành như: công ty đường sắt công ty vận chuyển tàu biển, trái phiếu dùng để chi trả cho trang thiết bị mới. Chứng chỉ cho phép trái chủ được quyền đầu tiên đối với trang thiết bị trong trường hợp vốn và lãi không được trả khi đáo hạn. Quyền sở hữu tài sản đối với trang thiết bị được lưu giữ theo tên của người thụ uỷ thường là ngân hàng, cho đến khi trái phiếu được hết.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55