European Central Bank / ECB / Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu
Ngân hàng trung ương Châu Âu là một trong những ngân hàng trung ương quan trọng nhất trên thế giới, chịu tách nhiệm ban hành chính sách tiền tệ cho 15 nước thành viên trong khu vực Châu Âu. Ngân hàng trung ương Châu Âu được thành lập bởi Liên Minh Châu Âu (EU) vào năm 1998, trụ sở ở Frankfurt, Đức. ECB có độc quyền ấn định các mức lãi suất cho khu vực Châu Âu. Mục tiêu cơ bản của ECB là duy trì giá cả ổn định trong khu vực Châu Âu, nói cách khác là kiềm chế lạm phát. Mục tiêu hiện tại của ECB là giữ tỉ lệ lạm phát gần 2%. ECB còn tiến hành các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối và thúc đẩy hoạt động trôi chảy của hệ thống thanh toán ngân hàng. ECB độc quyền phát hành đồng tiền chung Châu Âu. Các nước thành viên được phép phát hành tiền xu euro nhưng lượng tiền phát hành phải được ECB cho phép trước. Trong chức năng duy trì ổn định của hệ thống tài chính, ECB đã can thiệp vào cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn ở Mỹ 2007, bơm vào hệ thống tài chính hàng tỉ euro. Tháng 12/2007 ECB đã kết hợp với Fed thành lập ra chương trình cho vay Term Auction Facilitynhằm cải thiện tính thanh khoản của đồng đôla trong khu vực Châu Âu và ổn định thị trường tiền tệ.
European Bank For Reconstruction And Development / Ngân Hàng Tái Thiết Và Phát Triển Châu Âu
Được thành lập năm 1991 với số vốn 10 tỷ đơn vị tiền tệ Châu Âu nhằm thúc đẩy sự phát triển ở các nước thuộc khối Đông Âu.
Ngân hàng phát triển được thành lập vào năm 1990 bởi mười hai quốc gia thành viên của cộng đồng Châu Âu, để tái tư bản hóa các quốc gia nằm trong khối Xô Viết trước đây ở Đông và Trung Âu. Các quốc gia đóng góp quỹ bao gồm cả Mỹ và Nhật. Cũng được biết đến như Ngân hàng Phát triển Châu Âu.
European Agricultural Guidance And Guaranted Fund / Quỹ Bảo Đảm Và Hướng Dẫn Nông Nghiệp Châu Âu
Một quỹ đặc biệt của cộng đồng Châu Âu được thành lập năm 1962 nhằm tài trợ vốn cho chính sách nông nghiệp chung của cộng đồng.
Euronext / Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Euronext
Euronext là sàn giao dịch chứng khoán của nhiều nước châu Âu, đặt trụ sở ở Paris và có chi nhánh tại Bỉ, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh. Ngoài vai trò là một thị trường giao dịch cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phái sinh, Euronext còn cung cấp các dịch vụ thanh toán bù trừ và dịch vụ thông tin. Theo con số vào 31/1/2006, tổng giá trị vốn hoá thị trường của các công ty niêm yết trên Euronext là 2900 tỷ USD, đứng thứ 5 toàn cầu. Niêm yết trên Euronext có nhiều công ty thuộc vào nhóm những công ty hàng đầu thế giới như Total, Royal Dutch Shell Amsterdam, France Telecom... Euronext được thành lập ngày 22/9/2000 sau vụ sáp nhập của Amsterdam Stock Exchange, Brussels Stock Exchange, và Paris Bourse, để tận dụng lợi thế từ sự nhất quán của thị trường tài chính EU. Tháng 12/2001 Euronext mua lại cổ phiếu của Sàn giao dịch hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai London (LIFFE), sàn giao dịch hiện nay vẫn hoạt động dưới sự điều hành của bản thân nó. Năm 2002 tập đoàn này tiếp tục sáp nhập thêm sàn giao dịch chứng khoán Bồ Đào Nha, Bolsa de Valores de Lisboa e Porto (BVLP) sau đó đổi tên sàn này thành Euronext Lisbon. 22/6/2006 Euronext đã ký hợp đồng sáp nhập vào NYSE với giá 10.2 tỷ USD, cho dù đối thủ của NYSE là sàn Deutsche Börse của Đức đã trả Euronext 11 tỷ USD. Và vào 28/3/2007 NYSE chính thức thâu tóm thành công Euronext để trở thành sàn giao dịch chứng khoán toàn cầu đầu tiên trên thế giới dưới cái tên mới NYSE Euronext, cho phép giao dịch các loại chứng khoán và công cụ phái sinh trong suốt khoảng thời gian 21 giờ mỗi ngày.
Eurodollar / Eurodollar
Đây là các khoản tiền gửi bằng đôla Mỹ tại các ngân hàng nước ngoài hoặc các chi nhánh của ngân hàng Mỹ tại nước ngoài. Bằng cách này thì những đồng eurodollar có thể tránh được các quy định của cục dự trữ liên bang. Sau chiến tranh thế giới II lượng đôla Mỹ ở nước ngoài tăng lên rất nhanh. Đây là hậu quả của kế hoạch Marshall và việc nhập khẩu quá mức vào Mỹ_thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới sau khi hoà bình được tái thiết ở châu Âu. Chính vì vậy, một lượng lớn đồng đôla Mỹ được nắm giữ bởi các ngân hàng ngoài Mỹ. Một vài quốc gia trong đó có Liên Bang Xô Viết đã có tài khoản đôla tại các ngân hàng của Mỹ và được đảm bảo bằng các giấy chứng nhận. Trong suốt thời kì chiến tranh lạnh, đặc biệt là sau cuộc xâm lược Hungary vào năm 1956, Liên Xô lo sợ rằng tài khoản của mình ở ngân hàng Bắc Mỹ có thể bị phong toả. Do đó họ đã quyết định chuyển một phần tài khoản sang ngân hàng Moscow Narodny_ngân hàng của Liên Xô có sự hỗ trợ của Anh. Sau đó ngân hàng Anh đã gửi số tiền này sang ngân hàng của Mỹ. Như vậy sẽ không có lý do gì để tịch thu số tiền này vì nó thuộc về ngân hàng của Anh chứ không trực tiếp thuộc Liên Xô. Ngày 28 tháng 2 năm 1957 tổng số tiền được chuyển đã lên tới 800.000USD và đây là những đồng eurodollar đầu tiên. Ban đầu các tài khoản tiền gửi bằng đôla hầu hết nằm tại các ngân hàng châu Âu, vì thế mới có tên là Eurodollar. Ngày nay mặc dù các tài khoản này chủ yếu vẫn nằm tại ngân hàng châu Âu song cũng còn được lưu giữ ở các quốc gia khác như Bahamas, Canada, Cayman Islands, Hong Kong, Japan, Netherlands Antilles, Panama, và Singapore. Vì thị trường eurodollar tương đối thông thoáng và không bị ràng buộc bởi các điều luật nên các ngân hàng thường hoạt động với biên lợi nhuận thấp hơn các ngân hàng tại Mỹ. Do đó, thị trường cho đồng eurodollar đã được phát triển mạnh mẽ và là một cách để tránh các chi phí có liên quan đến các trung gian tài chính. Các tài khoản thường từ 1.000.000USD trở lên trong đó chủ yếu là tài khoản của một định chế tài chính gửi tại một tổ chức tài chính khác. Các giao dịch với đồng eurodollar rất phổ biến và linh hoạt, đặc biệt thời hạn có thể từ 1 ngày cho tới 6 tháng, rất hiếm các giao dịch kéo dài tới 5 năm. Mặc dù được nắm giữ ở nhiều nơi trên thế giới song lãi suất của eurodollar chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế của Mỹ. Nhìn chung, khi cục dữ trữ liên bang quản lý chặt hoặc có dấu hiệu sẽ tiến hành quản lý chặt chẽ các tài khoản tiền gửi thì lãi suất eurodollar sẽ tăng, và ngược lại. Thêm vào đó, mức lãi suất này cũng thay đổi tuỳ theo từng thời điểm trong ngày, tuân theo quan hệ cung cầu. Vì vậy nếu sử dụng lãi suất này làm điểm tham chiếu thì sẽ không phù hợp. Thay vào đó có thể sử dụng lãi suất LIBOR và các lãi suất khác.
Eurocurrency Market / Thị Trường Tiền Tệ Châu Âu
Một thị trường quốc tế ở nước ngoài của các đồng tiền của các nước công nghiệp lớn (phương Tây).
Một thị trường quốc tế ở nước ngoài của các đồng tiền của các nước công nghiệp lớn Phương Tây. Thị trường này mở cửa vào cuối những năm 1950 với danh nghĩa là thị trường đồng đôla Mỹ được giữ trong các ngân hàng ở các trung tâm tài chính của Châu Âu, nhưng từ đó đã được mở rộng để bao quát tất cả các đồng tiền chính và có các địa điểm ở bên ngoài châu Âu như Nam Mỹ, Viễn Đông. Nét nổi bật của thị trường này là việc vay và cho vay một đồng tiền nào đó diễn ra ở bên ngoài quốc gia có đơn vị tiền tệ này. Đồng đôla vẫn là đồng tiền quan trọng nhất, chiếm khoảng 80% các vụ giao dịch, trong khi dó Châu Âu vẫn là trung tâm quan trọng với 40% - 50% công việc kinh doanh. Thị trường này phát triển nhanh chóng kể từ khi bắt đầu hoạt động: tổng doanh số đã tăng từ 20 tỷ đô la năm 1964 lên 4.920 tỷ năm 1989. Rất ít các ngân hàng Châu Âu làm được như vậy, vì thị trường bao gồm chủ yếu các chi nhánh hoặc các bộ phận của các ngân hàng hiện tại, các ngân hàng này có thông tin điện tử với những người tham gia thị trường. Khoảng 70% số giao dịch là giữa các ngân hàng, nên tổng quy mô của thị trường này phóng đại khả năng cho vay của nó tới người vay cuối cùng. Những người gửi tiền và vay tiền trong thị trường này là cùng một chủng loại và gồm các ngân hàng trung ương và các cơ quan tài chính quốc tế, các xí nghiệp công nghiệp và công thương và một vài cá nhân riêng rẽ. Thời hạn vay có thể từ một ngày đến 10 năm và lãi suất được tính theo LIBOR (lãi suất cho vay liên ngân hàng ở London). Chênh lệch giữa lãi suất gửi và vay thấp vì các giao dịch đều có giá trị cao, các khoản chi phí của ngân hàng nhỏ. Từ năm 1968 thị trường tiền tệ Châu Âu đã được bổ sung thêm Thị trường trái khoán Châu Âu, mà giờ đây là bộ phận quan trọng nhất của thị trường cốn quốc tế. Một trái khoán Châu Âu do liên hiệp các ngân hàng quốc tế hay các hãng chứng khoán khác bảo lãnh và được bán ở các nước không phải là nước phát hành ra những đồng tiền đó.
Eurobond / Trái Phiếu Châu Âu
Trái phiếu Châu Âu là trái phiếu được phát hành bởi các chính phủ, tổ chức tài chính, công ty bằng đồng tiền khác với đồng tiền tại nước phát hành.Trái phiếu Châu Âu ghi bằng USD là hình thức phát hành phổ biến. Trong năm 1996, trái phiếu châu Âu ghi bằng USD chiếm 43,78% trên tổng số phát hành. Hầu hết các Eurobond được phát hành bởi những tổ chức có hệ số tín nhiệm cao, ví dụ hệ số AAA và AA chiếm tới gần 80% tổng số các đợt phát hành. Những nhà phát hành Eurobond tích cực nhất là các chính phủ, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng đầu tư Châu Âu và các công ty đa quốc gia.Một số nhà phát hành Eurobond ghi bằng đồng tiền không được sử dụng vào mục đích cuối cùng, mà họ chuyển đổi sang đồng tiền cần thiết khác thông qua nghiệp vụ Swap. Mức lãi suất của Eurobond phụ thuộc vào: điều kiện thị trường và hệ số tín nhiệm của nhà phát hành.Trái phiếu châu Âu được phát hành dưới nhiều dạng khác nhau, bao gồm: Dạng phổ thông nhất là trái phiếu có lãi suất cố định và gốc được thanh toán một lần tại thời điểm đến hạn (gọi là trái phiếu Straights) Trái phiếu có lãi suất thả nổi, tuy mới được áp dụng gần đây nhưng ngày càng được ưa chuộng; đây là trái phiếu châu Âu có mức lãi suất được điều chỉnh định kỳ 3 hay 6 tháng một lần trên cơ sở thay đổi mức lãi suất cơ bản, ví dự lãi suất LIBOR. Các ngân hàng ưu tiên đầu tư phần vốn nhàn rỗi vào các Eurrobond có lãi suất thả nổi. Trái phiếu chuyển đổi: cho phép người nắm giữ trái phiếu quyền chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành, theo mức giá đã được ấn định từ trước, tại một thời điểm nhất định trong tương lai. Một đặc điểm nữa mà Eurobond hấp dẫn người đầu tư là họ không phải trả thuế thu nhập từ lãi suất.
Trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu công ty mệnh giá theo một đồng tiền, không phải là đồng tiền quốc gia của bên phát hành. Những trái phiếu này thường được phát hành dưới hình thức trái phiếu vô danh bởi nhưng doanh nghiệp đoàn quốc tế của các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư bỏ thầu trên những chứng khoán đã chào bán thông qua Nhóm Bỏ Thầu. Trái phiếu Châu Âu có thể được phát hành theo hình thức một đồng tiền duy nhất, hình thức đa đồng tiền hoặc một đơn vị tài khoản như Đơn Vị Tiền Tệ Châu Âu. Là nguồn vốn quan trọng cho các công ty đa quốc gia, nhưng trái phiếu Châu Âu được thanh toán và thỏa thuận thông qua Euroclear và Cedel, hai cơ quan thanh toán bù trừ do ngân hàng sở hữu. Vay tiền trong thị trường trái Châu Âu thường có thể nhận được nguồn tài chính với mực lãi suất thấp hơn. Xem SAMURAI BOND; YANKEE BOND; YEN BOND.
Eurobond / Trái Phiếu Phát Hành Bằng Ngoại Tệ
Eurobond là loại trái phiếu được phát hành bằng một đồng tiền khác với đồng nội tệ hay khác với đồng tiền của nước mà tại đó nó được phát hành. Thông thường eurobond do các tập đoàn quốc tế phát hành và được phân loại theo đồng tiền mà nó ghi mệnh giá. Ví dụ: một công ty tại Mỹ muốn phát hành trái phiếu sang Pháp, bằng đồng Franc. Trái phiếu đó chính là một loại eurobond. Lý do các công ty lớn phát hành eurobond rất đa dạng, nhưng chủ yếu là để tìm nguồn vốn với chi phí thấp hơn, hoặc để thoát khỏi những qui định ràng buộc phát hành trái phiếu của quốc gia họ. Eurobond là công cụ tài chính hết sức hấp dẫn với các công ty phát hành vì nó cho phép họ có khả năng linh hoạt trong việc lựa chọn quốc gia, lựa chọn đồng tiền mà nó muốn phát hành. Các nhà đầu tư cũng ưa chuộng loại trái phiếu này vì nó thường có mệnh giá thấp và tính thanh khoản cao. Dưới đây là một số loại Eurobond phổ biến trên thị trường tài chính quốc tế: Eurodollar bond, loại trái phiếu ghi mệnh giá bằng USD, do một công ty ngoài nước Mỹ phát hành và do một công ty khác ngoài cả 2 quốc gia trên nắm giữ. Cụm từ này xuất phát từ thuật ngữ Eurodollar, chỉ lượng USD do các ngân hàng trung ương ngoài FED nắm giữ. Đó là một nguồn huy động vốn quan trọng của các tập đoàn đa quốc gia và chính phủ các nước khác Mỹ.Ví dụ: trái phiếu ghi mệnh giá USD do một công ty Nhật phát hành, được một công ty Australia nắm giữ thì gọi là Eurodollar bond. Ưu điểm của Eurodollar bond chính là ở chỗ nó chịu rất ít qui định ràng buộc, không phải đăng kí với Uỷ ban Chứng khoán và Ngoại hối Hoa Kỳ, và có thể được phát hành với lãi suất thấp hơn trái phiếu phát hành tại Mỹ. Bulldog bond, trái phiếu ghi mệnh giá bằng đồng Bảng Anh do một công ty ngoài Anh Quốc phát hành trên thị trường London. Sở dĩ nó có tên như vậy vì Bull dog (chó Bull) chính là biểu tượng của nước Anh. Samurai bond, gắn với biểu tượng của nước Nhật, là trái phiếu ghi mệnh giá bằng đồng Yen do một công ty ngoài Nhật phát hành trên thị trường Tokyo.
E-Tranferring / Chuyển Tiền Điện Tử
Bạn có thể dùng điện thoại hoặc máy tính để uỷ thác việc chuyển tiền giữa các tài khoản của bạn hoặc để chuyển các khoản tiền từ tài khoản của mình phục vụ việc thanh toán hoá đơn. Các ví dụ về chuyển tiền điện tử là gửi tiền lương và thanh toán an toàn xã hội. Ngày càng nhiều các quỹ đầu tư tương hỗ, công ty môi giới, ngân hàng, công ty tiện ích và doanh nghiệp bán lẻ phát triển thêm các công cụ điện tử cho bạn sử dụng.
E-Stockbroker / Môi Giới Chứng Khoán Trên Mạng
Môi giới chứng khoán trên mạng là một nghề khá đặc biệt đem lại lợi nhuận lớn không kém gì đầu tư chứng khoán, trong khi không cần phải có vốn lớn. Đây là nghề đòi hỏi trí tuệ và sự nghiên cứu đặc biệt của các nhà môi giới có kiến thức về thị trường tài chính, đồng thời phải có khả năng thuyết phục khách hàng. Thành công của những nhà môi giới chứng khoán trên mạng trong những năm qua đã giúp thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thị trường chứng khoán thế giới. Họ là những người ngồi trước máy tính, tận dụng ưu thế của công nghệ thông tin và hệ thống giao dịch chứng khoán điện tử để giúp khách hàng đặt lệnh mua bán chứng khoán. Những nhà đầu tư gọi họ bằng cái tên “e-customer’s man” hay “e-stockbroker”. Cũng như những nhà môi giới chứng khoán thông thường, các e-stockbroker đại diện cho khách hàng để thu xếp giao dịch rồi sau đó hưởng hoa hồng. Người môi giới trên mạng không mua bán chứng khoán cho mình, họ chỉ là người nối kết và giúp thực hiện yêu cầu của nhà đầu tư. Chứng khoán và tiền được chuyển dịch qua lại từ khách bán sang khách mua. Trong quá trình đó, nhà môi giới không đứng tên chứng khoán. Khi cung cấp những lời hướng dẫn hoặc tư vấn cho khách hàng qua mạng trong việc đầu tư chứng khoán hoặc liên quan đến việc mua bán cổ phiếu niêm yết, vai trò của một nhà môi giới là rất quan trọng. Đầu tiên, các e-stockbroker phải gửi thông báo cho khách hàng về dịch vụ nhận lệnh qua mạng Internet, trong thông báo đó họ nêu rõ địa vị pháp lý của mình và các dịch vụ mà mình được phép tiến hành. Nếu các e-stockbroker không phải là người quản lý hay bảo quản tài khoản của khách hàng, họ sẽ nêu rõ các thông tin về mình nhằm đảm bảo các chức năng hoạt động cho tài khoản của khách hàng. Trước khi thực hiện các dịch vụ đầu tiên qua mạng Internet, các e-stockbroker sẽ: Đảm bảo lời mời chào của họ trong trường hợp gửi đến các nhà đầu tư cư trú ở nước ngoài tuân thủ đúng các quy định luật pháp của nước đó. Trước khi nhận lệnh của một khách hàng hoàn toàn mới đối với mình, các e-stockbroker phải yêu cầu khách hàng gửi cho mình một bản sao hộ chiếu hay chứng minh thư, bản kê khai ngân hàng và một giấy chứng nhận về nơi cư trú. Ghi rõ ràng, cụ thể trong hợp đồng dịch vụ với khách hàng các phương thức công nhận chứng cứ riêng đối với việc nhận lệnh mua, bán chứng khoán qua Internet. Đảm bảo rằng khách hàng của mình sẽ nhận được thông tin một cách có hệ thống qua hình thức truy cập Internet hay qua thư bảo đảm. Các e-stockbroker còn đảm bảo rằng khách hàng sẽ nhận được thông tin khi các giao dịch chứng khoán diễn ra khác với các giao dịch mà họ vẫn thường xuyên thực hiện. Khi các e-stockbroker là người quản lý tài khoản, họ phải có hệ thống kiểm soát tự động đối với các tài khoản của khách hàng. Trong trường hợp không đủ khả năng kiểm soát mọi tài khoản, hệ thống này phải đảm bảo sự phong tỏa các lệnh vào mạng, thông báo cho khách hàng qua hệ thống màn hình và mời họ cùng giải quyết tình hình. Ngoài ra, pháp luật cũng yêu cầu các e-stockbroker phải trang bị hệ thống kiểm tra tự động sự liên kết giữa các lệnh đặt mua và bán. Một trong những công việc quan trọng khác của các e-stockbroker trước khi thực hiện bất kỳ lệnh nào của khách hàng là phải xác nhận với khách hàng rằng đã nhận được lệnh do khách hàng chuyển đến. Khách hàng được yêu cầu xác định lại quyết định giao dịch của mình và khi đó các e-stockbroker chịu trách nhiệm về việc thực hiện tốt lệnh của khách hàng. Về vấn đế an ninh kỹ thuật, các e-stockbroker phải trang bị hệ thống thông tin hóa và các thiết bị đi kèm (điện thoại, fax...) phù hợp với tầm quan trọng của khách hàng. Đồng thời, các e-stockbroker cũng phải đảm bảo rằng, hệ thống này hoàn toàn an toàn theo đúng các quy định hiện hành về an ninh trong hệ thống giao dịch chứng khoán trực tuyến. Trong trường hợp hoạt động có trục trặc, các e-stockbroker phải thông báo cho khách hàng theo những điều kiện tốt nhất về bản chất và thời gian kéo dài dự kiến của tình hình trục trặc đó. Hợp đồng dịch vụ giữa các e-stockbroker với khách hàng cũng phải nêu rõ các thiết bị đi kèm kết nối từ phía khách hàng trong trường hợp có sự cố lâu dài của hệ thống. E-stockbroker không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng mà phải thường xuyên thu thập và cập nhật thông tin liên lạc đến khách hàng. Nếu khách hàng từ chối việc cung cấp thông tin, các e-stockbroker sẽ cố gắng bằng cách khác thu thập cho được thông tin của khách hàng. Trường hợp thông tin thu thập được từ khách hàng không đủ để đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng hoặc không thể đưa ra những hướng dẫn phù hợp với khách hàng, e-stockbroker phải từ chối việc nhận đăng ký làm khách hàng.
Estimator / Phương Thức Ước Lượng; Ước Lượng
Một công thức hay một quy trình ước lượng các con số thống kê (chẳng hạn như trung bình hay phương sai của một biến số) hoặc các tham số của một phương trình nhân được từ số liệu.
Estimation / Sự Ước Lượng
Sự xác định mang tính định lượng các tham số trong các mô hình kinh tế thông qua các số liệu thông kê.
Estate Economy / Nền Kinh Tế Đồn Điền
Thuật ngữ nói về một khu vực hay toàn bộ nền kinh tế ở một nước chậm phát triển được sử dụng để sản xuất đại quy mô lớn nông sản xuất khẩu, thường do các thế lực nước ngoài sở hữu hoặc quản lý; nền kinh tế này rất phổ biến trong thời kỳ thuộc địa.
Estate Duty / Thuế Di Sản (Thuế Tài Sản Thừa Kế)
Dạng chủ yếu của thuế của cải ở Anh trước khi nó được thay thế bằng thuế CHUYỂN GIAO VỐN năm 1974. Thuế này được dánh giá theo suất luỹ tiến vào các tài sản của người chủ khi người này qua đời. Thuế luỹ tiến được áp dụng cho toàn bộ tài sản chứ không chỉ cho lượng gia tăng của cải.
Establishing A Mutual Fund / Thành Lập Quỹ Tương Hỗ
Các quỹ tương hỗ thường do các công ty đầu tư (gọi là các công ty quỹ tương hỗ), các công ty môi giới và ngân hàng tạo dựng nên. Số lượng quỹ mà các nhà bảo trợ này cung cấp rất đa dạng, từ rất ít như 2, 3 quỹ đến số lượng lớn hơn 150 quỹ. Vào thời điểm công bố, đã từng có lúc có hơn 400 nhóm quản lý quỹ, vận hành nguồn lực của gần 8.000 quỹ. Mỗi quỹ mới đều có một nhà quản lý có trình độ chuyên môn tốt, một mục tiêu đầu tư, một kế hoạch hoặc chương trình đầu tư mà nó sẽ theo đuổi để có thể xây dựng portfolio riêng của quỹ. Các quỹ sẽ tiến hành tiếp thị hoạt động với các nhà đầu tư tiềm năng bằng cách đặt quảng cáo trên các báo tài chính, gửi thư quảng cáo trực tiếp, các thông cáo báo chí và thường là qua sự trợ giúp của các đại diện có đăng ký-những người sẽ thu được phí hoa hồng từ việc môi giới bán cổ phiếu quỹ trong tương lai. Các bước cơ bản khi tạo dựng một quỹ: Quỹ quyết định các phương pháp luận đầu tư - Phát hành bản cáo bạch - Bán cổ phiếu quỹ (còn gọi là chứng chỉ).
Escrow Account / Tài Khoản Bảo Chứng
Khi đã kết thúc/đóng một cuộc mua bán, bạn có thể có một tài khoản bảo chứng/giữ lại (escrow account hay impound account) với nơi cho vay. Đây là nơi khoản tiền trả hàng tháng, số tiền này có thể nhiều hơn số tiền cần phải trả cho gốc và tiền lời. Khoản trội này được giữ trong tài khoản trên để trả những thứ như thuế nhà và bảo hiểm nhà khi đến kỳ. Nơi cho vay sẽ chi trả các khoản này thay cho người thuê vay.
Escalators / Điều Khoản Di Động Giá
Các điều khoản về phí sinh hoạt trong các ghi thoả thuận thương lượng tập thể. Các điều khoản là một cơ chế điều chỉnh định kỳ mức lương dựa trên những biến động của một chỉ số giá cả nhất định.
Escalation Price / Giá Leo Thang
Giá cả leo thang là thuật ngữ chỉ sự tăng lên đột biến về giá, vượt xa giá trị thực của hàng hóa đó theo thời gian, đặc biệt khi lạm phát xảy ra. Khi có lạm phát, giá sản phẩm tăng do chi phí đầu vào của quá trình sản xuất tăng như: thiết bị máy móc, nhiên liệu, nguyên liệu, giá nhân công..v.v. Giá leo thang gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế:- Làm thiệt hại tới tiêu dùng, giá cả tăng quá cao khiến tiêu dùng giảm, người tiêu dùng bị thiệt hại.- Làm thiệt hại tới sản xuất: Giảm sản xuất do chi phí đầu vào tăng và tiêu dùng giảm.- Làm thiệt hại tới xã hội: giá cả leo thang trong thời kỳ lạm phát gây ảnh hưởng tới nhiều mặt. Sa thải bớt nhân công để giảm chi phí đầu vào làm thất nghiệp tăng. Làm giảm mức sống của người dân do với cùng một số tiền như trước kia họ sẽ mua được ít hàng hóa hơn...v.v.
Errors Variables / Sai Số Trong Biến Số (Hay Sai Số Trong Các Phép Đo)
Một bài toán kinh tế lượng, theo đó các biến giải thích trong phân tích HỒI QUY được đo một cách không hoàn hảo do giá trị thực tế của chúng không thể quan sát được, hay do sự không chính xác khi ghi chép.
Errors And Omisisons - EO / Sai Số Và Bỏ Sót
Bắt nguồn của sự ra đời thuật ngữ này là bởi sự sai số. Nguyên nhân của sai số xuất phát từ việc không thể theo dõi hết được các giao dịch trong và ngoài nước; việc trốn thuế khiến nhiều khoản không được phản ánh vào tài khoản vốn, rồi gian lận kê khai tình hình xuất nhập khẩu để giảm lợi nhuận thực tế; đến việc thanh toán chậm, thanh toán trước trong các giao dịch thương mại (ví dụ trường hợp hàng hóa được nhập khẩu nhưng việc thanh toán lại được hoãn lại chưa thực hiện, tuy nhiêu hàng nhập khẩu được cơ quan hải quan ghi nhận dẫn đến sai số) Theo đó, do rất nhiều vấn đề thống kê nảy sinh khi xử lý số liệu, nên phương trình OR = CA + KA không phải lúc nào cũng cân bằng. Và để xử lý vấn đề này người ta phải thêm vào khoản mục Sai số và bỏ sót (EO) để có thể xử lý các khoản chênh lệch giữa tổng khoản mục có và khoản mục nợ, nếu có.





