Exponential / Thuộc Số Mũ, Thuộc Hàm Mũ
Hàm số mũ là một HÀM LUỸ THỪA, thường chỉ sự liên quan giữa biến số độc lập và số e tăng lên một luỹ thừa chứa BIẾN SỐ ĐỘC LẬP khi e = 2,718, và là cơ số của LOGARIT TỰ NHIÊN.
Explosive Cycle / Chu Kỳ Bùng Nổ
Là chu kỳ đặc trưng bởi việc biên độ tăng theo hàm mũ, ví dụ, qua thời gian. Nó được xem như chu kỳ phân kỳ.
Là chu kỳ đặc trưng bởi việc biên độ tăng theo hàm mũ, ví dụ, qua thời gian. Nó được xem như chu kỳ phân kỳ.
Exploitation / Khai Thác; Bóc Lột
Trong kinh tế học, thuật ngữ này có hai nghĩa. Thứ nhất, là việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên hay nhân lực. Thứ hai, một công nhân được gọi là bị bóc lột nếu số tiền chi trả cho công việc đã làm ít hơn giá trị của công việc đó.
Explicit Function / Hàm Hiện
Dạng thông thường nhất của một hàm số trong đó biến số PHỤ THUỘC được viết bên trái của dấu bằng và các BIẾN ĐỘC LẬP viết bên phải, thường để chỉ mối liên hệ nhân quả hoặc xác định.
Explanatory Variable / Biến Giải Thích
Là biến số đóng vai trò trong việc "giải thích" sự biến đổi của một biến độc lập trong phân tích hồi quy, biến số giải thích xuất hiện bên phải của phương trình hồi quy.
Ex-Pit Transaction / Mua Bán Không Chính Thức - Mua Bán Ngoài Thị Trường
Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp mua bán hợp đồng hàng hoá ngoài hiện trường mua bán của thị trường nơi hàng hoá thường được mua bán, và có những thời hạn đã ấn định.
Expense Ratio / Tỉ Lệ Phí Quĩ Của Quĩ Tương Hỗ
Như với bất cứ doanh nghiệp nào, điều hành một quĩ tương hỗ cũng mất những chi phí nhất định, như chi phí giao dịch, chi phí tư vấn đầu tư, chi phí marketing và phân phối. Các chi phí này sau đó đều được chuyển sang cho các nhà đầu tư, chúng được trích ra từ chính tài sản của quĩ và làm giảm thu nhập của các cổ đông quĩ. Các chi phí chính mà quĩ phải bỏ ra gồm có: phí quản lý và chi phí hoạt động. Phí quản lý là số tiền trả cho các nhà các quản lý quĩ. Số phí này thường được tính theo một số phần trăm cố định từ tổng tài sản của quĩ. Phí này còn được gọi là phí duy trì quĩ. Chi phí hoạt động(ở Mỹ còn gọi là phí 12b-1) là các loại phí do quĩ thanh toán từ tài sản của mình để bù đắp cho các chi phí về marketing, bán cổ phiếu quĩ, và đôi khi là cả các chi phí cung cấp dịch vụ cho cổ đông. Tỉ lệ giữa tổng các loại phí nói trên với tổng tài sản của quĩ đươc gọi là tỉ lệ phí quĩ tương hỗ (ER hoặc MER). Tỉ lệ này là một chỉ số quan trọng khi xem xét lựa chọn quĩ đầu tư, vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nhà đầu tư. Tỉ lệ chi phí quĩ tương hỗ trước hết phụ thuộc vào mức độ năng động của quĩ. Các quĩ áp dụng chiến lược đầu tư tích cực(đầu tư chủ động) đương nhiên sẽ tiến hành một khối lượng giao dịch lớn hơn rất nhiều so với các quĩ đầu tư thụ động (kiểu đầu tư chỉ số chứng khoán). Ngoài ra, chiến lược đầu tư tích cực đòi hỏi một khối lượng phân tích, dự báo lớn hơn nhiều. Điều đó khiến cho chi phí hoạt động và quản lý của các quĩ đầu tư tích cực luôn cao hơn. Tỉ lệ phí bình quân của một quĩ đầu tư chứng khoán của Mỹ vào khoảng 1%/năm trong khi tỉ lệ này với các quĩ đầu tư thụ động thấp hơn nhiều: ví dụ, tỉ lệ này của iShares S&P 500 ETF chỉ là 0.4%. Qui mô của quĩ cũng ảnh hưởng khá nhiều đến mức phí này. Khi số lượng thành viên của quĩ càng lớn, qui mô tài sản quĩ càng lớn thì các chi phí càng được dàn mỏng hơn. Do vậy tỉ lệ phí sẽ được hạ xuống đáng kể.
Expense Preference / Ưu Tiên Chi Tiêu
Là một khái niệm nói về sự hài lòng của các nhà quản lý đạtđược trong việc chi tiêu cho một số công việc của hãng như chi tiêu cho việc Marketing và cho đôi ngũ nhân viên.
Expenditure-Variation Controls / Kiểm Soát Mức Biến Động Trong Chi Tiêu; Kiểm Soát Sự Thay Đổi Của Chi Tiêu
Điều chỉnh lại sự mất cân bằng kinh doanh bằng cách thay đổi mức và thành phần của ngân sách và bằng cách kiểm soát quy mô và chi phí của tín dụng.
Expenditure-Switching Policies / Các Chính Sách Chuyển Đổi Chi Tiêu
Là một trong các chính sách cần thiết để loại bỏ sự không cân bằng thương mại quốc tế.
Expenditure Tax / Thuế Chi Tiêu
Là loại thuế đánh vào chi tiêu của người tiêu dùng.NÓ là hình thức thay thế cho THUẾ THU NHẬP và có thể được định mức dựa trên cơ sở luỹ tiến.
Expected Value / Giá Trị Kỳ Vọng; Giá Trị Dự Tính
Còn được gọi TRUNG BÌNH, kỳ vọng toán học.Giá trị kỳ vọng của một BIẾN SỐ NGẪU NHIÊN là giá trị trung bình của phân phối của biến ấy.
Expected Utility Theory / Lý Thuyết Độ Thoả Dụng Kỳ Vọng; Thuyết Thoả Dụng Dự Tính
Là thuyết về các hành vi cá nhân trong điều kiện KHÔNG CHẮC CHẮN của VON NEUMANN và MORGENSTERN. Thuyết đưa ra sự mô tả logic rằng mọi người duy lý có thể cư xử như thế nào trong một thế giới không chắc chắn. Phần chính của thuyết này cho thấy rằng một cá nhân có những sở thích thoả mãn một số định đề (thường là về trật tự, tiếp tục và dộc lập) sẽ lựa chọn để tối đa hoá độ thoả dụng dự tính.
Expected Net Returns / Mức Lợi Tức Ròng Kỳ Vọng; Lợi Tức Ròng Dự Tính
Là tổng các thu nhập dự tính trừ đi các chi phí dự tính, tức là lợi nhuận dự tính của một dự án đầu tư.
Expected Inflation / Mức Lạm Phát Kỳ Vọng; Lạm Phát Dự Tính
TỶ LỆ LẠM PHÁT nào đó được dự tính trong tương lai.
Mức Lạm Phát Kỳ Vọng; Lạm Phát Dự Tính (Expected Inflation) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Mức Lạm Phát Kỳ Vọng; Lạm Phát Dự Tính (Expected Inflation) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Expectations, Augmented / Biến Bổ Sung Về Dự Tính
Là các biến đổi đối với một mô hình kinh tế để tính đến hiệu ứng của các dự tính.
Expectations Theory / Lý Thuyết Kì Vọng
Đây là môt lý thuyết cho rằng lãi suất ngắn hạn có thể đóng vai trò như một nhân tố dự đoán lãi suất dài hạn. Lý thuyết này đã giải thích sự hình thành của đường sinh lợi (yield curve), hay chính là cấu trúc của lãi suất. Các động lực quyết định hình dạng của đường sinh lợi từng là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi giữa các nhà kinh tế học và các học giả trong nhiều năm. Nhà kinh tế học người Mỹ Irving Fisher là người đã hoàn thiện lý thuyết kì vọng, đưa ra lời giải thích rõ ràng hơn về hình dạng của đường sinh lợi. Theo lý thuyết này, lãi suất dài hạn sẽ được quyết định bởi chính kì vọng của các nhà đầu tư về lãi suất ngắn hạn. Về mặt toán học, lý thuyết này được thể hiện như sau: (1 + R2)2 = (1 + R1) x (1 + E(R1)) Trong đó: R2 = lãi suất chứng khoán kì hạn 2 năm R1 = lãi suất chứng khoán kì hạn 1 năm E(R1) = lãi suất kì vọng đối với chứng khoán thời hạn 1 năm, tính từ thời điểm hiện tại Vế bên trái của phương trình là lượng tiền mà các nhà đầu tư sẽ thu về trên mỗi đồng vốn bỏ ra sau thời hạn đầu tư là 2 năm, nếu đầu tư vào chứng khoán kì hạn 2 năm. Vế phải của phương trình chính là lượng tiền mà anh ta kì vọng sẽ thu được sau 2 năm nếu tiến hành đầu tư vào các các tài sản tài chính có thời gian đáo hạn là 1 năm. Chính sự cạnh tranh là nhân tố khiến cho hai vế cân bằng nhau. Lý thuyết này có thể dễ dàng khái quát hóa cho bất kì một thời hạn đầu tư nào. Và mặc dù các chứng khoán có kì hạn rất khác nhau nhưng lý thuyết này bao giờ cũng giải thích sự tồn tại của lãi suất dài hạn dựa trên các kì vọng về lãi suất ngắn hạn của các nhà đầu tư. Lý thuyết kì vọng về lãi suất đã trở thành cơ sở lý thuyết để giải thích cho việc sử dụng đường sinh lợi như một công cụ phân tích của các chuyên gia phân tích kinh tế và tài chính. Ví dụ, nếu đường cong sinh lợi là đường dốc lên, đó là dấu hiệu cho thấy thị trường đang kì vọng rằng lãi suất ngắn hạn sẽ tăng. Vì việc tăng lãi suất chỉ xảy ra trong thời kì kinh tế phát triển (Expansion) nên một đường sinh lợi đi lên cho thấy thị trường đang kì vọng rằng các hoạt động kinh tế sẽ tiếp tục mở rộng hơn nữa. Các chuyên gia phân tích tài chính đôi khi sử dụng phương trình này để đưa ra những dự đoán về biến động của lãi suất trên thị trường trong tương lai, do đó phương trình còn được viết lại dưới dạng: E(R1) = [(1 + R2)2 / (1 + R1)] - 1 Như vậy lãi suất ngắn hạn mà thị trường kì vọng cho giai đoạn tới có thể tính toán, dự đoán được dựa trên lãi suất của ngày hôm nay. Trên thực tế, người ta thấy rằng lý thuyết này thường thổi phồng mức lãi suất ngắn hạn trong tương lai. Nguyên nhân có thể do việc nắm giữ các chứng khoán có thời hạn dài là rủi ro hơn bởi những biến động về lãi suất trên thị trường có thể sẽ ảnh hưởng đến mức sinh lợi của chứng khoán đó.
Expectations Lag / Độ Trễ Kỳ Vọng; Độ Trễ Dự Tính
Độ trễ trong việc xem xét lại giá trị kỳ vọng của một biến số do các thay đổi trong giá trị hiện tại của nó. Độ trễ dự tính thường được giải thích bằng GIẢ THIẾT KỲ VỌNG PHỎNG THEO.
Expectations / Kỳ Vọng; Dự Tính
Là các quan điểm hay sự tin tưởng vào các giá trị tương lai của các biến số kinh tế.
Expectation / Kỳ Vọng
Kỳ vọng còn gọi là kỳ vọng toán học. Đây là một khái niệm thống kê, thường ám chỉ mức trung bình, và có ký hiệu là E(X). Kỳ vọng được tính bằng công thức: E(X)=Xip(Xi) Kỳ vọng được sử dụng rất phổ biến cho việc phân tích kinh doanh và đầu tư chứng khoán. Khi áp dụng cho tính toán các đại lượng thống kê, E(X) trở thành thống kê ước lượng cho các giá trị trong tương lai, và được hiệu chỉnh theo mục tiêu sử dụng. Tài liệu có thể tham khảo tốt là cuốn Probability của tác giả A. Shiryaev, một nhà toán học xuất sắc của Steklov Institute of Mathematics, ĐHTH Lomonosov Moscow (MGU). Khái niệm kỳ vọng được đưa ra từ thế kỷ 19 do các nhà sinh học và thống kê, từ đó tới nay trở thành khái niệm rất quen thuộc của các thị trường tài chính.





