Extraneous Information / Thông Tin Không Liên Quan
Những thông tin ban đầu (có thể là ước lưọng về tham số trước đó) được kết hợp với thông tin mẫu với mục đích suy luận thống kê hay ước tính tham số trong phân tích hồi quy thường để cải thiện dự báo hay khắc phục những vấn đề như ĐA CỘNG TUYẾN TÍNH.
Externalities / Các Ngoại Hưởng; Các Ngoại Ứng
Được biết đến với những tên khác nhau, như tác động ngoại lai, ảnh hưởng từ bên ngoài, bất lợi từ bên ngoài,ảnh hưởng trào ra bên ngoài và ẢNH HƯỞNG ĐẾN VÙNG LÂN CẬN. Người ta đã phân biệt ngoại ứng biên và ngoại ứng trong biên.
External Reserve / Dự Trữ Ngoại Hối
Thường để chỉ mức nắm giữ các phương tiện thanh toán của một nước được quốc tế chấp nhận, với mục đích trang trải làm thâm hụt ngắn hạn và trung hạn của CÁN CÂN THANH TOÁN VỚI BÊN NGOÀI, đồng thời nhằm mục đích kiểm soát sự thay đổi TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI đồng tiền của nước này.
External Labour Market / Thị Trường Lao Động Bên Ngoài
Một thị trường cho một số người lao động nhất định, hoặc là sẵn ngay hoặc tiềm tàng cho các công việc mới.
External Growth / Tăng Trưởng Ngoại Ứng; Tăng Trưởng Do Bên Ngoài
Sự mở rộng của một hãng được mang lại do SÁP NHẬP hay thu mua.
External Financial Limits / Mức Giới Hạn Nguồn Tài Chính Từ Bên Ngoài
Chính phủ Anh đặt giới hạn đối với các NGUÒN TÀI CHÍNH TỪ BÊN NGOÀI mà các công ty quốc doanh có thể huy động trong nước
External Finance / (Nguồn) Tài Chính Từ Bên Ngoài
Quỹ được huy động bởi các hãng bằng cách phát hành CỔ PHIẾU (vốn cổ phần) hoặc đi vay để tài trợ cho các hoạt động của hãng.
External Economies & Diseconomies Of Scale / Ảnh Hưởng Kinh Tế Và Phi Kinh Tế Từ Bên Ngoài Theo Quy Mô
Những ảnh hưởng có lợi hay có hại mà các hoạt động sản xuất của một hãng này gây ra cho các hoạt động sản xuất của hãng khác.
External Balace / Cân Bằng Đối Ngoại; Cân Bằng Bên Ngoài
Thường được định nghĩa là một tình trạng trong đó CÁN CÂN THANH TOÁN của một nước là CÂN BẰNG, theo nghĩa luồng tiền vào tự định bằng với luồng ra tự định mà không cần điều chỉnh các luồng bổ sung vào hoặc rút ra từ dự trữ NGOẠI HỐI hay dự trữ vàng.
Extendable Bonds / Trái Phiếu Gia Hạn
Trái phiếu gia hạn (extendable bonds): Trong trường hợp không có đủ nguồn tài chính cần thiết để thu hồi trái phiếu khi đến hạn công ty có thể lựa chọn hình thức trì hoãn thời hạn thanh toán mà không cần phải thay đổi chứng khoán hay các điều khoản khác của hợp đồng trái phiếu bằng cách sử dụng trái phiếu gia hạn. Khi đến ngày đáo hạn của trái phiếu, công ty chưa thể trả nợ cho người cầm phiếu, công ty sẽ phát hành một dạng trái phiếu khác, gọi là trái phiếu gia hạn. Loại trái phiếu này coi là "trái phiếu con" phụ thuộc hoàn toàn vào "trái phiếu gốc" mà đã đáo hạn, trên đó không ghi về giá trị của trái phiếu mà chỉ ghi về thời hạn "bổ sung" của trái phiếu để xác nhận quyền kéo dài thời hạn thanh toán trái phiếu của công ty. Lãi suất và các điều khoản khác vẫn không thay đổi và được ghi trên trái phiếu gốc. Việc gia hạn cho trái phiếu xuất phát từ phía công ty nhưng cũng có thể xuất phát từ phía người cầm giữ. Về phía công ty, khi chưa đủ khả năng thu hồi trái phiếu họ sẽ phát hành trái phiếu bổ sung; ngoài ra một lí do quan trọng khác là khi lãi suất vay vốn tăng cao công ty càng muốn và cố kéo dài thời hạn thanh toán hơn. Bởi lẽ khi đã thu hồi trái phiếu, công ty sẽ phải tái phát hành để huy động vốn từ nguồn khác, nếu tại thời điểm trái phiếu đáo hạn lãi suất lên cao thì gây ra bất lợi cho công ty, thay vào đó công ty vẫn duy trì trái phiếu cũ với lãi suất không đổi chắc chắn sẽ có lợi hơn. Chính vì vậy, trái phiếu gia hạn được phát hành phổ biến khi lãi suất trên thị trường đang chiều hướng lên. Về phía người cầm giữ trái phiếu, yêu cầu gia hạn trái phiếu có được thực hiện hay không tùy thuộc vào công ty phát hành. Chủ sở hữu mong muốn được kéo dài thời gian nắm giữ trái phiếu khi thấy hoạt động kinh doanh của công ty ngày càng phát đạt với tâm lí sẽ được hưởng một khoản lãi cố định và an toàn trong một thời gian dài tiếp theo.
Ex-Stock Dividends / Không Có Cố Tức Bằng Chứng Khoán
Thuật ngữ này được dùng trong khoảng giữa thời điểm bố cáo và chi trả cổ tức. Nhà đầu tư mua cổ phần trong thời khoảng này không được hưởng cổ tức chứng khoán đã bố cáo; thay vào đó, người bán cổ phần lại được hưởng, đây là người sở hữu chứng khoán có thời điểm ghi sổ cuối cùng trước khi khoá sổ và lúc đó chứng khoán sẽ là chứng khoán không cổ tức chứng khoán. Chứng khoán sẽ có lại cổ tức chứng khoán sau thời điểm chi trả.
Ex-Post Monitoring / Theo Dõi Về Trước
Thuật ngữ này được dùng sau khi đo lường số ứng trước tín dụng nhằm đáp ứng các luật lệ về nghiệp vụ ngân hàng. Để đủ tiêu chuẩn có được mức tối đa thấu chi (overdraft cap), ngân hàng phải có hệ thống theo dõi bằng vi tính để kiểm soát việc xuất nhập ngân quỹ trong tài khoản khách hàng.
Export-Led Growth / Tăng Trưởng Dựa Vào Xuất Khẩu
Là sự tăng trưởng được thúc đẩy bởi sự gia tăng hàng xuất khẩu.
Export-Import Tax / Thuế Xuất Khẩu, Thuế Nhập Khẩu
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế đánh vào các hàng hoá mậu dịch, phi mậu dịch được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam. Ðối tượng điều chỉnh của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu là quan hệ thu nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân có hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, kể cả hàng hoá từ thị trường trong nước đưa vào khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong nước; trừ một số trường hợp theo luật định như: hàng vận chuyển quá cảnh, chuyển khẩu, mượn đường viện trợ nhân đạo... Theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hoá mậu dịch mang tính chất gián thu. Còn đối với các loại hàng hoá khác thì tùy theo từng trường hợp mà thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tính chất gián thu hoặc tính chất trực thu. Đối tượng nộp thuế: tất cả các tổ chức, cá nhân trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế và cũng có thể là cá nhân, tổ chức nước ngoàicó hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu. Trường hợp xuất nhập khẩu ủy thác thì tổ chức nhận ủy thác là đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được tính theo công thức sau: THuế XK, NK phải nộp = Số lượng hàng XK, NK × Giá tính thuế × Thuế suất Trong đó: Số lượng hoặc trọng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu căn cứ vào số thực xuất, thực nhập ghi trong tờ khai thuế hải quan. Giá tính thuế: Đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán tài của khẩu xuất, theo hợp đồng. Đối với hàng nhập khẩu là giá mua tại của khẩu nhập khẩu, kể cả phí vận tải, phí bảo hiểm theo hợp đồng. Trong trường hợp hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo phương thức khác hoặc giá ghi trên hợp đồng quá thấp so với giá mua, bán thực tế tại của khẩu thì giá tính thuế là giá do Chính phủ quy định. Thuế suất thuế nhập khẩu gồm thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt. Thuế suất thông thường áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu tùe những nước chưa có thỏa thuận tối huệ quốc trong quan hệ quốc trong quan hệ với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng nhập khẩu từ các nước có thỏa thuận tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ những nước có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt với Việt Nam.
Export-Import Bank / Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu
Ngân hàng do chính phủ Mỹ thành lập năm 1937, nhằm thúc đẩy ngoại thương của Mỹ bằng cách cung cấp vốn dưới dạng các khoản tiền cho vay trực tiếp có bảo đảm cho các công ty nước ngoài.
Export Promotion / Khuyến Khích Xuất Khẩu
LÀ sự phát triển của những ngành mà thỉtường chính là ở nước ngoài. Đây là một chiến lược thay thế chính đối với CHIẾN LƯỢC THAY THẾ NHẬP KHẨU ở các nước kém phát triển.
Export Proccessing Zone / Khu Chế Xuất
KCX là một khu công nghiệp tập trung sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ liên quan đến sản xuất và xuất khẩu . KCX là một khu khép kín, có ranh giớI địa lý được xác định, biệt lập vớI các vùng lãnh thổ ngoài KCX bằng hệ thống tường rào. KCX được hưởng chế độ ưu đãi vè nhiều mặt như: nhập khẩu nguyên vật liệu, thuế công ty, được cung cấp cơ sở hạ tầng tốt và các điều kiện khác để ngườI sản xuất kinh doanh tạI đây có lợI nhuận cao nhất. Nhập khẩu tự do nguyên vật liệu và không hạn chế số lượng. Đây là một ưu đãi đặc biệt so với sản xuất trong nước. Mặt khác, các công ty trong KCX cũng không nộp thuế doanh thu,thuế xuất khẩu cho những mặt hàng họ sản xuất và xuất khẩu. Những hãng trong KCX thường được cung cấp thủ tục hải quan nhanh chóng cho việc nhập vật liệu và sản xuất hàng hóa Những hãng trong KCX được sử dụng cơ sở hạ tầng tốt như: giao thông vận tải, bưu điện và bưu chính viễn thông quốc tế. ngoài ra, còn được trợ cấp sử dụng một số yếu tố như: tỷ lệ thuế, điện nước…rất thấp. Sự khác nhau giữa KCN và KCX: Thứ nhất, KCX với mục tiêu thu hút các đơn vị sản xuất sản phẩm xuất khẩu, còn KCN thu hút tất cả các ngành nghề công nghiệp, kể cả các ngành sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Thứ hai, các công ty 100% vốn trong nước có thể được vào KCN, còn KCX chỉ liên kết cới các công ty có vốn nước ngoài. Thứ ba, các công ty sản xuất kinh doanh trong KCN sẽ được hưởng một số ưu đãi nhất định. Trong đó đặc biệt ưu đãi với những hãng sản xuất hàng xuất khẩu.
Export Credit Guarantee Department / Cục Bảo Đảm Tín Dụng Xuất Khẩu
LÀ một tổ chức được chính phủ Anh thành lập năm 1930, đưa ra các hình thức BẢO HIỂM khác nhau nhằm chống lại những rủi ro mà các nhà xuất khẩu Anh phỉa chịu đựng.
Export - Import / Xuất Khẩu- Nhập Khẩu
Nhập khẩu: Đưa hàng hóa sản xuất ngoài nền kinh tế hay ngoài quốc gia, vào trong nền kinh tế hoặc quốc gia đó.Xuất khẩu: Hàng hóa được chuyển từ một quốc gia hay nền kinh tế này, đến quốc gia hay nền kinh tế khác.Ví dụ, hàng hóa được sản xuất tại Mỹ và bán tại Nhật Bản thì ta sẽ nói: hàng hóa được xuất khẩu từ Mỹ sang Nhật Bản hay Nhật Bản nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ.
Export / Xuất Khẩu, Hàng Xuất Khẩu
Một hàng hoá hoặc dịch vụ sản xuất tại một nước được bán và tiêu dùng ở nước khác. Xuất khẩu hữu hình là xuất khẩu hàng hoá, còn xuất khẩu vô hình là xuất khẩu dịch vụ cho người ở nước khác mua.





