Data Encryption Standard (DES) / Tiêu Chuẩn Xáo Trộn Dữ Liệu
Được ngành tài chánh sử dụng để bảo toàn thông tin giao dịch nhạy cảm, bao gồm số dư tài khoản, mã nhận dạng ngân hàng (cũng được gọi là từ khóa yêu cầu của bên phát hành) và mã truy cập tài khoản của khách hàng. DES là tiêu chuẩn chung được viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia công bố, và cũng được biết đến như thuật toán xáo trộn dữ liệu (DEA) và đã được ngành tài chánh chấp nhận. Xem ALGORITHM; KEY MANAGEMENT, PERSONAL IDENTIFICATION NUMBER.
Data Capture / Thu Dữ Liệu
Thu nhập biên nhận điện tử hối phiếu kinh doanh thẻ ngân hàng thương mại, trực tiếp từ thiết bị điểm bán hoặc đăng ký tiền điện tử của thương nhân. Lấy dữ liệu thẻ ngân hàng sẽ tăng tốc thu tiền cho các tài khoản kinh doanh bán lẻ bằng cách loại bỏ thời gian chuyển thư trong xử lý thẻ ngân hàng.
Daily Interest / Tiền Lãi Hàng Ngày
Tiền lãi có được từ ngày ký gởi đến ngày rút tiền. Ngoài ra, tiền lãi tài khoản ký gởi được phép lãi hàng ngày và ghi có và tài khoản của người ký gởi hàng tháng, hàng quý hoặc các giai đoạn khác. Ví dụ, ký gởi $100 cho một năm (365 ngày) kiếm được tiền lãi ghép hàng ngày là $84 trong 30 ngày, $2.53 trong 90 ngày, $ 5.13 trong 180 ngày và $ 10.67 sau đúng một năm. Xem COMPOUND INTEREST.
Due Diligence / Quá Trình Thẩm Định
Cụm từ đề cập đến quá trình tuyển chọn, đánh giá các cá nhận bằng cách xác minh background của họ. Quá trình này được sử dụng bởi cả Trader và nhà đầu tư riêng lẻ để đánh giá lẫn nhau.
Discount / Chiết Khấu
Ý tưởng trong đó các công cụ ngân hàng có thể được mua với giá được giảm trên mệnh giá, đem lại cơ hội thu lợi nhuận từ việc bán lại công cụ trên thị trường thứ cấp, hoặc từ chênh lệch giá mua so với mệnh giá.
1. Khoản vay ngân hàng với lãi suất đã được khấu trừ từ giá trị bề mặt (mệnh giá) của tín phiếu khi tín dụng được mở rộng .Thường chỉ sử dụng cho các khoản vay kinh doanh đáo hạn ngắn. Bên vay hoàn trả toàn bộ số tiền được ghi trên tín phiếu 2. Chênh lệnh giá giữa giá thị trường hiện tại của trái phiếu và mệnh giá phát biểu, khi giá thị trường thấp hơn. 3. Tỷ lệ chiết khấu của ngân hàng, hoặc giá niêm yết của ngân hàng khi nó chấp nhận thanh toán cho hồi phiếu, sau đó trở thành Giấy chấp nhận của ngân hàng. 4. Phương pháp phát hành trái phiếu của kho bạc Mỹ của Bộ Tài chính thấp hơn mệnh giá, với sự thu hồi mệnh giá khi đáo hạn. Chiết khấu trêntrái phiếu thể hiện tiền lãi. 5. Chênh lệch giá giữa hai đồng tiền, khi một đồng tiền được giao dịch thấp hơn mệnh giá so với đồng tiền khác 6. Phí được ngân hàng tính cho giao dịch và ghi có thẻ tín dụng phải thu đối với tài khoản ngân hàng của thương nhân 7. Chiết khấu tiền mặt khi thương nhân cung cấp khi thanh toàn bằng tiền mặt. Xem DEEP DISCOUNT, MERCHANT DISCOUNT RATE.
Depository Trust & Clearing Corporation - DTC/DTCC / Công Ty Ủy Thác Và Thanh Toán Bù Trừ Chứng Khoán Lưu Ký
DTCC cung cấp các dịch vụ thanh toán bù trừ, đối chiếu số liệu và thông tin về các công cụ vốn, trái phiếu, chứng khoán, thị trường tiền tệ và các sản phẩm phái sinh OTC. Cơ quan trung gian này được sử dụng trong các chương trình phát hành giành riêng để chuyển nhượng/chuyển giao tài sản từ Nhà đầu tư cho Trader.
Dynamic Theories Of Comparative Advantage / Các Lý Thuyết Động Về Lợi Thế So Sánh
Các lý thuyết mới về thương mại quốc tế, nhấn mạnh vai trò của tính rõ ràng và sự truyền bá thônh tin trong việc giải thích hình thái thương mại quốc tế và sản xuất.
Dynamic Programming / Quy Hoạch Động
Một tập hợp các kỹ thuật toán học để giải các loại bài toán chuỗi ra quyết định.
Dynamic General Equilibrium; Dge / Cân Bằng Tổng Quát Động
Đây là một khái niệm hiện đại trong việc nghiên cứu phương pháp Cân bằng Tổng quát động cho các nền kinh tế tổng thể. Phương pháp này ngày càng có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong quan hệ kinh tế quốc tế hội nhập, và các nền kinh tế ngày càng mở hơn, đón các sốc ngoại sinh đến từ khắp các nơi trên thế giới. Ngày nay, kinh tế học vĩ mô (macroeconomics) ngày càng nỗ lực tìm kiếm khả năng giải thích tổng thể cả nền kinh tế dựa trên những kết nối với nền tảng của kinh tế học vi mô (microeconomics). Đây là hướng tư duy hoàn toàn mới, và phần nhiều là sự tương phản, so với phương pháp đã trở thành truyền thống của John Maynard Keynes (sau Treatise on Money; 1930 và General Theory; 1936). Hệ thống Keynesian chủ yếu dựa trên tổng quát hóa các quan hệ giữa các biến gộp vĩ mô (aggregate) nhất của nền kinh tế. Phương pháp hiện tại, tổng quát, mạch lạc và hiệu quả hơn rất nhiều, sử dụng các hệ thống cân bằng tổng quát động (DGE systems). Hệ thống DGE phản ánh nội dung quan trọng nhất (xảy ra ở giao dịch vi mô, trong cấu trúc vi mô) đó là các quyết định có tính cán cân, tổng hợp nhiều giao dịch, của các cá nhân cư xử hợp lý (rational individual) đứng trước các biến số kinh tế, trong mối liên hệ giữa hiện tại và tương lai. Tại sao là giao dịch vi mô và trong cấu trúc vi mô? Đó là vì các quyết định cá nhân đơn lẻ này được thực hiện và hỗ trợ thông qua các thị trường, và chính chúng đã làm sinh ra toàn bộ nền kinh tế với tư cách một chỉnh thể vĩ mô. Trong các hệ thống DGE, nền kinh tế được xét như luôn nằm ở trạng thái cân bằng nào đó, với ý nghĩa như sau. Mỗi khi xuất hiện thông tin, con người quyết định theo cách tối ưu cho lợi ích của mình, và vì thế, nếu mắc sai lầm, đó là sai lầm nhất thời (không có tính vĩnh viễn, không lặp đi lặp lại -- non-persistent mistake). Cân bằng này cũng phản ánh một khái niệm khác, đó là, hành vi của con người trong cấu trúc vi mô được xem như về cơ bản là "ứng xử hợp lý". Những sai lệch hành vi kinh tế khi xảy ra được gán cho khái niệm "thiếu hụt thông tin" (informational gap). Một trong những thiếu hụt thông tin đặc trưng của kinh tế vĩ mô là các sốc đối với nền kinh tế, mà thực chất là các thông tin về biến đổi đột ngột, con người bên trong không nhận thức hay dự liệu được trước khi xảy ra (ex ante). Theo DGE, nền kinh tế luôn trong trạng thái gọi là cân bằng ngắn hạn, hoặc còn có thể hiểu là cân bằng tức thời. Cân bằng dài hạn là một "đặc tính toán học" của mô hình kinh tế vĩ mô và chỉ đạt được khi mà tất cả các sốc trong quá khứ đã được phản ánh vào hệ thống động học DGE theo thời gian, và giúp hình thành một trạng thái vững chắc trong tương lai.
Dutch Disease / Căn Bệnh Hà Lan
Đấu giá kiểu Hà Lan là một kiểu đấu giá trong đó người điều khiển cuộc đấu giá đưa ra giá rất cao, sau đó giá này sẽ hạ xuống dần cho đến khi người tham dự chấp nhận mức giá ấy. Đấu giá Kiểu Hà Lan còn được gọi là Đấu giá giảm dần (descending price auction) và thường được các công ty phát hành tổ chức để bán cổ phiếu. Đấu giá kiểu Hà Lan cũng được áp dụng đối với IPO của Vietcombank. Cái tên Đấu giá kiểu Hà Lan được đặt sau những vụ đấu giá củ hoa tuylip nổi tiếng ở Hà Lan vào thế kỉ thứ 17. Đấu giá kiểu Hà Lan dựa trên hệ thống định giá đưa ra bởi nhà kinh tế đoạt giải Nobel William Vickrey.
Dutch Auction / Đấu Giá Hà Lan
Đấu giá kiểu Hà Lan là một kiểu đấu giá trong đó người điều khiển cuộc đấu giá đưa ra giá rất cao, sau đó giá này sẽ hạ xuống dần cho đến khi người tham dự chấp nhận mức giá ấy. Đấu giá Kiểu Hà Lan còn được gọi là Đấu giá giảm dần (descending price auction) và thường được các công ty phát hành tổ chức để bán cổ phiếu. Đấu giá kiểu Hà Lan cũng được áp dụng đối với IPO của Vietcombank. Cái tên Đấu giá kiểu Hà Lan được đặt sau những vụ đấu giá củ hoa tuylip nổi tiếng ở Hà Lan vào thế kỉ thứ 17. Đấu giá kiểu Hà Lan dựa trên hệ thống định giá đưa ra bởi nhà kinh tế đoạt giải Nobel William Vickrey.
Durbin- Watson / Số Thống Kê (D Hoặc D.W.)
Phân tích liên thời gian về hệ thống kinh tế. Nền kinh tế có thể đi từ một điểm cân bằng này sang điểm cân bằng khác (tức là hai điểm cân bằng so sánh tĩnh) hoặc có thể liên tục không đạt đến điểm cân bằng tĩnh nào.
Durbin H - Statistic / Số Thống Kê Durbin - H
Số thống kê dự báo bài toán tương quan chuỗi hay các hệ số sai số trong phép hồi quy, bao gồm một biến nội sinh trễ hoãn trong trường hợp số thống kê Durbin - Watson-d thông dụng hơn không thể áp dụng được.
Duration Of Unemployment / Thời Gian Thất Nghiệp
Khoảng thời gian trung bình mà một cá nhân trải qua khi đăng ký thất nghiệp.
Duopsony / Lưỡng Độc Quyền Mua
Một thị trường chỉ có hai người mua cùng một loại sản phẩm hay dịch vụ đem trao đổi.
Duopoly / Lưỡng Độc Quyền Bán
Một cơ cấu thị trường chỉ có 2 hãng. Các mô hình lý giải có ý giải thích sự xác định sản lượng và giá cả trên cơ cấu thị trường này đặt cơ sở phân tích của mình lên những giả định xem xét đến việc đưa ra quyết định trong đó có sự phụ thuộc lẫn nhau được thấy rõ.
Dumping / Bán Phá Giá
Theo cách hiểu giản đơn, bán phá giá là hành động bán một hàng hoá nào đó với mức giá thấp hơn chi phí nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh hoặc giành thêm thị phần. Trong thương mại quốc tế, bán phá giá được hiểu là hàng hoá xuất khẩu được bán sang một nước khác với giá thấp hơn “giá trị bình thường” của nó và gây “tổn hại vật chất” đối với ngành sản xuất nội địa (theo điều VI của GATT). Có thể thấy rằng, việc xác định mức giá bị coi là “phá giá” rất phức tạp, vì nó liên quan đến hàng loạt vấn đề như xác định chi phí sản xuất, xác định mức độ thiệt hại tiềm năng và thực tế. Ở Mỹ bán phá giá được hiểu là việc bán hàng tại thị trường Mỹ với mức giá thấp hơn mức giá hàng hoá so sánh tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu; việc bán các mặt hàng đó gây ra hoặc đe dọa thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất của Mỹ.Đối với Cộng đồng châu âu (EC) thì phá giá liên quan đến bất cứ hàng hoá nhập khẩu nào với giá thấp hơn chi phí. Quy chế chống bán phá giá của EC năm 1996 cho phép áp dụng thuế chống phá giá trong các điều kiện: Thứ nhất, giá hàng hoá bán trên thị trường EC thấp hơn giá trên thị trường của nước sản xuất; Thứ hai, hàng hoá nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa ngành sản xuất của EC như là việc mất thị phần, lợi nhuận, việc làm… Biện pháp bán phá giá có thể được sử dụng với tư cách phản ứng ngắn hạn để đối phó với tình hình suy thoái trong nước, nghĩa là sản lượng dư ra được đổ bán tháo ở nước ngoài; hoặc với tư cách một chiến lược dài hạn để tham nhập thị trường xuất khẩu hoặc đẩy đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường. Khi các công ty bán phá giá đã chiếm được địa vị vững chắc trên thị trường, họ thường tăng giá lên để tạo ra lợi nhuận.Cho dù được vận dụng với mục đích nào thì biện pháp bán phá giá vẫn bị coi là hình thức buôn bán không công bằng và bị các hiệp định thương mại điều chỉnh.
Bán Phá Giá (Dumping) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Dummy Variable / Biến Giả
Một biến nhị phân (có - không) được đưa ra để xem xét những dịch chuyển (dịch chuyển giả) hay thay đổi ngoại sinh của độ dốc (đọ đốc giả) trong mối quan hệ kinh tế lượng.
Due Diligence / Điều Tra Nghiên Cứu Ban Đầu
Điều tra nghiên cứu ban đầu là thuật ngữ dùng để chỉ trách nhiệm mà một người có lý trí cần phải thực hiện trước khi tham gia vào một hợp đồng khế ước hay một giao dịch với một Bên thứ 2. Thuật ngữ cũng nhằm tập trung miêu tả việc điều tra khảo sát hoặc kiểm toán một dự án đầu tư tiềm năng; Điều tra khảo sát phục vụ mục đích xác nhận tất cả các dữ kiện vật chất có liên quan đến một vụ mua bán cụ thể. Due diligence thực chất là cách thức để ngăn ngừa thiệt hại không cần thiết đối với một trong các Bên tham gia giao dịch.
Điều tra nghiên cứu ban đầu là thuật ngữ dùng để chỉ trách nhiệm mà một người có lý trí cần phải thực hiện trước khi tham gia vào một hợp đồng khế ước hay một giao dịch với một Bên thứ 2. Thuật ngữ cũng nhằm tập trung miêu tả việc điều tra khảo sát hoặc kiểm toán một dự án đầu tư tiềm năng; Điều tra khảo sát phục vụ mục đích xác nhận tất cả các dữ kiện vật chất có liên quan đến một vụ mua bán cụ thể. Due diligence thực chất là cách thức để ngăn ngừa thiệt hại không cần thiết đối với một trong các Bên tham gia giao dịch.
Duality / Phương Pháp Đối Ngẫu
Phương phá dẫn xuất các hệ phương trình cầu phái sinh phù hợp với hành vi tối ưu hoá của người tiêu dùng hay sản xuất bằng cách đơn giản là vi phân hóa một hàm thay thế cho việc giải một bài toán tối ưu có ràng buộc.





