Deadweight Debt / Nợ "Trắng"
Là khoản nợ không được bảo lãnh bằng một tài sản thực nào cả, nợ này được dùng để trả cho các chi tiêu thường xuyên.
Deadweight - Loss / Khoản Mất Trắng; Khoản Tổn Thất Vô Ích
Cụm thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ sự mất mát thặng dư của người tiêu dùng mà người mua phải chịu chứ không phải người sản xuất.
Days To Cover / Thời Gian Short Sale
Đây là chỉ số dùng để đo lường lượng cổ phiếu của một công ty đang được mua bán bằng nghiệp vụ short sale, và được tính bằng số ngày cần thiết để hoàn thành tất cả các vụ short sale trên thị trường. Ví dụ: nếu một công ty có số lượng giao dịch trung bình hàng ngày là 1 triệu cổ phiếu và lượng cổ phiếu trong các vụ short sale là 2 triệu thì thời gian hoàn thành là 2 ngày. Thời gian short sale = lượng cổ phiếu short sale/lượng cổ phiếu trung bình giao dịch hàng ngày Tỷ lệ này xét trong chừng mực nào đó là rất có ý nghĩa vì nó đo lường sức mua của thị trường trong tương lai đối với một loại cổ phiếu vì nhà đầu tư short sale sau khi bán cổ phiếu sẽ phải mua lại cổ phiếu vào một thời điểm nào đó trong tương lai để kết thúc các giao dịch của mình. Nếu như giá của cổ phiếu bắt đầu tăng nhanh, các nhà đầu tư short sale sẽ nhanh chóng mua lại cổ phiếu trên thị trường để kết thúc giao dịch của mình. Chính điều này đã tạo ra sức ép đối với cổ phiếu khiến cho giá của nó tiếp tục leo thang từ đó làm gia tăng thiệt hại cho chính các nhà đầu tư. Thời gian shortsale mà càng dài thì những tác động này lại càng rõ nét.
Days Sales Outstanding - DSO / Thời Gian Thu Hồi Tiền Hàng Tồn Đọng
Đây là một chỉ số được tính bằng số ngày trung bình mà một công ty cần để thu hồi lại tiền bán hàng sau khi đã bán được hàng. Nếu như DSO ở mức thấp thì có nghĩa là công ty chỉ cần ít ngày để thu hồi được tiền khách còn nợ. Nếu tỉ lệ này cao thì có nghĩa là công ty chủ yếu là bán chịu cho khách hàng, thời gian nợ dài hơn. DSO được tính dựa trên công thức: (Số nợ có khả năng thu hồi / Tổng tiền bán chịu )x số ngày cho chịu DSO có thể được sử dụng để xác định xem liệu công ty có đang che giấu khả năng bán hàng đáng buồn của mình hay là không thu hồi được tiền về một cách hiệu quả. Đối với phần lớn các doanh nghiệp thì DSO có thể thường xuyên được tính toán theo quý hoặc theo năm. Tuy nhiên thực tế tỉ lệ DSO là một thước đo về hiệu suất thu tiề hơn là thước đo hiệu quả của bản thân quá trình thu hồi nợ. Chỉ số này cho ta một cái nhìn thấu đáo về những thay đổi diễn ra trong việc cân đối tài chính của doanh nghiệp. Nó cho biết liệu sự thay đổi về mặt tài chính là do những biến động tiêu cực hoặc tích cực trong doanh số gây ra hay là do các nhân tố kinh doanh khác như chiết khấu bán hàng, do mùa kinh doanh, thời gian kinh doanh tác động. DSO có thể có chênh lệch rất lớn giữa các thời điểm trong năm. Tốt nhất là nên sử dụng chỉ số này như thước đo hiệu suất của quá trình thu hồi nợ, đo lường độ dài chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường nếu DSO thấp hơn 15 ngày thì có nghĩa là khả năng thu hồi nợ của công ty là khá tốt. Vì tiền là nhân tố rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên sẽ là có lợi nhất cho công ty nếu thu hồi lại các khoản nợ còn đang tồn đọng càng nhanh càng tốt. Bằng cách nhanh chóng "chuyển hàng thành tiền" công ty sẽ có cơ hội để tái sử dụng khoản tiền của mình, thường là vào các mục đích đầu tư và tái sản xuất hàng hoá.
Days Sales Of Inventory - DSI / Thời Gian Thanh Lý Hàng Tồn
Đây là thước đo thể hiện khả năng về mặt tài chính của công ty. Chỉ số này cho các nhà đầu tư biết về khoảng thời gian cần thiết để công ty có thể thanh lý được hết số lượng hàng tồn kho của mình ( bao gồm cả hàng hoá còn đang trong quá trình sản xuất). Thông thường nếu chỉ số này ở mức thấp thì có nghĩa là công ty hoạt động khá tốt, tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng chỉ số DSI bình quân là rất khác nhau giữa các ngành. Đôi khi chỉ số này còn được gọi là số ngày lưu thông hàng tồn kho DIO (days inventory outstanding) DSI được tính toán theo công thức sau: DSI = (Giá trị hàng tồn kho / Chi phí bán hàng) x 365 Chỉ số này là một phần của chu trình lưu chuyển tiền mặt_ chu trình biểu hiện quá trình chuyển toàn bộ nguyên vật liệu thô thành tiền. Thời gian thanh toán hàng tồn là bước đầu tiên trong chu trình này. Hai bước tiếp theo của chu trình là thời gian bán hàng (DSO) _đo lường khoảng thời gian công ty có thể nhận được các khoản tiền cho khách chịu, và thời gian thanh toán nợ (DPO)_đo lường thời gian công ty cần để thanh toán các khoản nợ phải trả của công ty. Chu trình lưu chuyển tiền = DSI + DSO - DPO Tuy nhiên những chỉ số này có liên quan gì đến hoạt động kinh doanh của công ty? Nếu như một công ty cung cấp các sản phẩm hàng hoá dịch vụ mà khách hàng cần, công ty đó sẽ nhanh chóng thu lại được tiền. Nhưng nếu công ty không thể hoạch định một cách chính xác sẽ cung cấp cho thị trường những gì, khi đó chu trình lưu chuyển tiền của công ty sẽ bị chậm lại. Ví dụ như nếu công ty có quá nhiều hàng tồn kho và không có khả năng bán được lượng hàng này, có nghĩa là công ty bị đọng vốn và đây rõ ràng là điều mà chẳng ai mong muốn. Để có thể giải phóng nhanh chóng lượng hàng tồn kho, công ty phải chấp nhận giảm giá hàng, thậm chí là bán lỗ. Nếu quá trình thu hồi tiền nợ của công ty diễn ra chậm, điều đó có nghĩa là công ty gặp khó khăn trong việc đòi nợ. Chừng nào khách hàng còn chưa trả nợ thì chừng đó công ty còn chịu thiệt và kế hoạch tái đầu tư còn nằm ngủ yên. Trong khi đó công ty càng trì hoãn việc trả nợ cho nhà cung cấp chừng nào thì càng có lợi chừng đó vì điều này cho phép công ty có thể tận dụng được khoản tiền cho các mục đích khác.
Day Trading / Giao Dịch Nội Nhật
Giao dịch nội nhật chỉ việc mua bán các công cụ tài chính nội trong một ngày giao dịch, tất cả các thương vụ sẽ được kết thúc trước khi thị trường chứng khoán đóng cửa phiên giao dịch ngày hôm đó. Những người giao dịch chứng khoán tham gia vào thị trường giao dịch nội nhật được gọi là người giao dịch nội nhật - "day trader". Các công cụ tài chính thường được sử dụng trong giao dịch nội nhật là cổ phiếu, quyền chọn cổ phiếu, tiền tệ và các hợp đồng tương lai. Trước đây, giao dịch nội nhật từng được coi là sân chơi riêng của các công ty tài chính và các nhà đầu tư, đầu cơ chuyên nghiệp. Người giao dịch nội nhật thường là nhân viên của các ngân hàng hay các hãng đầu tư, hoạt động như các chuyên gia trong đầu tư chứng khoán và quản lý quĩ. Tuy nhiên, ngày nay, giao dịch nội nhật ngày càng trở nên phổ biến đối với những người kinh doanh chứng khoán phổ thông nhờ vào tiến bộ công nghệ, những thay đổi về luật pháp và sự phổ biến của Internet. Dù được gọi chung là giao dịch nội nhật, nhưng có nhiều kiểu giao dịch nội nhật khác nhau được đề cập tới trong khái niệm này. Một người giao dịch nội nhật không nhất thiết phải tiến hành các hoạt động mua bán rất tích cực. Tùy thuộc vào chiến lược giao dịch mà số lượng giao dịch trong một ngày có thể thay đổi từ vài đến vài trăm. Một số người tập trung vào những giao dịch ngắn, hoặc cực ngắn, trong đó mỗi thương vụ có thể chỉ kéo dài vài giây cho đến vài phút. Họ mua và bán chứng khoán rất nhiều lần trong ngày, với một khối lượng giao dịch ngày khổng lồ và do đó thường được các nhà môi giới chứng khoán cho hưởng mức phí hoa hồng rất ưu đãi. Một số người giao dịch khác lại chỉ tập trung vào các xu hướng lớn. Họ kiên nhẫn hơn và chờ đợi một biến động giá lớn có thể xảy ra trong ngày hôm đó. Họ tiến hành ít giao dịch hơn so với những người giao dịch nói trên. Người giao dịch nội nhật thường sử dụng tiền vay qua đêm để kinh doanh. Ví dụ: một công ty kinh doanh chứng khoán có thể vay tiền từ một ngân hàng của Singapore khi ngân hàng này đóng cửa để tiến hành các giao dịch nội nhật ở Mỹ do sự chênh lệch múi giờ. Hết ngày giao dịch ở Mỹ, công ty này kết thúc các thương vụ, thu lại tiền và thanh toán cho ngân hàng Singapore cũng là lúc ngân hàng này sắp mở cửa ngày hôm sau. Lợi nhuận và rủi ro: Do bản chất của giao dịch nội nhật là lợi dụng vốn và thu lời nhanh, hoạt động này có thể sinh lời rất cao, đem lại tỉ suất lợi nhuận rất tốt cho người giao dịch nội nhật. Một số người giao dịch nội nhật có thể kiếm được hàng triệu USD mỗi năm chỉ từ hoạt động này. Vì khả năng có thể kiếm lời cao như vậy mà những người này đôi khi được những nhà đầu tư khác coi là những "kẻ cướp" hay những "con bạc". Đi kèm với khả năng sinh lời đó thì giao dịch nội nhật cũng có tính rủi ro rất cao, đặc biệt khi mà người giao dịch thiếu tính kỉ luật và quản lý tiền, quản lý rủi ro không tốt. Sự phổ biến của việc sử dụng tiền đi vay để kinh doanh chứng khoán khiến cho sô lãi và lỗ có thể bị nhân lên gấp bội, đồng nghĩa với rủi ro cũng nhân lên như thế. Khi có dấu hiệu cổ phiếu sụt giá người giao dịch phải nhanh chóng bán cổ phiếu đó ra để tránh thua lỗ nặng, số lỗ, đôi khi vượt cả tổng tài sản của anh ta. Ngoài ra, ngay cả khi người giao dịch thu được lợi nhuận từ những giao dịch này đi chăng nữa, thì số lợi nhuận đó chưa chắc đã đủ bù đắp các chi phí giao dịch và lãi vay. Theo thống kê thì 80-90% những người giao dịch nội nhật bị lỗ sau khi trừ chi phí.
Day Cycle / Chu Kỳ Ban Ngày
Day Cycle: Chu kỳ ban ngày.Thuật ngữ này dùng để chỉ chu kỳ tiến hành ban ngày để chuyển bên nợ hay bên có của trung tâm giao hoán thanh toán tự động giữa các hiệp hội giao hoán trong vùng, thường từ 8 giờ sáng đến 1 giờ trưa.
Dax / Chỉ Số Dax
DAX 30 (viết tắt của Deutsche Aktien Xchange 30, tiền thân của Deutscher Aktien-Index 30) là một chỉ số thị trường chứng khoán cho các cổ phiếu blue chip bao gồm 30 công ty lớn nhất của Đức giao dịch trên sàn GDCK Frankfurt, căn cứ theo khối lượng giao dịch và giá trị vốn hóa thị trường. Giá được tính theo giá trên hệ thống giao dịch điện tử Xetra. L-DAX (Late-DAX)là một chỉ số phản ánh biến động của chỉ số thị trường DAX 30, được sử dụng trên sàn GDCK Frankfurt (Frankfurt Stock Exchange- FSE) sau khi hệ thống giao dịch điện tử Xetra ngừng hoạt động. Chỉ số L-DAX căn cứ chủ yếu vào giao dịch tại sàn FSE. Nếu chỉ số DAX được tính toán từ 9:00 đến 17:30 thì chỉ số L-DAX được tính từ 17:30 đến 20:00. Eurex- thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai và quyền chọn đặt tại Zurich, Thụy Sĩ với chi nhánh tại Frankfurt, Đức, đưa ra chỉ số DAX cho hợp đồng quyền chọn (ODAX) và hợp đồng tương lai (FDAX) từ 8:00 đến 22:00. Bên cạnh chỉ số DAX 30, còn có chỉ số DAX 100 bao gồm 100 cổ phiếu. Tháng 6 năm 2007, danh sách DAX 30 bao gồm cổ phiếu các công ty sau: AdidasAG Allianz BASF BayerAG BMW Commerzbank Continental AG Daimler AG Deutsche Bank Deutsche Börse Deutsche Lufthansa Deutsche Post Deutsche Postbank Deutsche Telekom E.ON Fresenius Medical Care Henkel Hypo Real Estate Infineon Technologies Linde AG MAN Merck METRO Munich Re (Münchener Rück) RWE SAP Siemens AG ThyssenKrupp TUI Volkswagen
Dawn Raid / Đột Kích
Là việc một công ty hoặc một nhà đầu tư tiến hành mua lại một lượng lớn cổ phiếu của một công ty( gọi là công ty mục tiêu) ngay khi thị trường chứng khoán vừa mới mở cửa. Việc này được tiến hành thông qua các trung gian hoặc công ty môi giới để mọi người không biết ai là người mua thực sự. Vì công ty hay nhà đầu tư này mua một lượng cổ phiếu lớn của công ty mục tiêu tại mức giá thị trường nên chi phí phải bỏ ra để thôn tính công ty mục tiêu có thể thấp hơn rất nhiều so với cái giá mà công ty hay nhà đầu tư đó phải bỏ ra nếu thực hiện việc sáp nhập một cách chính thức. Giống như các cuộc đột kích trong chiến tranh, cuộc đột kích của các công ty thường được thực hiện vào lúc sáng sớm vì vào thời gian này các công ty mục tiêu khó có thể nhận ra họ đang bị tấn công. Và đến khi họ nhận ra điều đó thì đã quá muộn vì nhà đầu tư hoặc các công ty thôn tính đã nắm giữ trong tay số cổ phần áp đảo. Tuy nhiên cũng chỉ có tối đa là 15% số cổ phần của công ty được mua bán theo hình thức này. Vì thế sau khi đã thực hiện thành công cuộc đột kích thì công ty thực hiện hoạt động này chắc chắn sẽ tiến hành tiếp quản công ty và mua toàn bộ số cổ phiếu còn lại để thôn tính hoàn toàn công ty mục tiêu.
Dating / Gia Hạn
Gia hạn trong quan hệ tài chính là việc một nhà cung cấp tín dụng cho phép con nợ kéo dài thời hạn thanh toán khoản tín dụng đó. Thời gian gia hạn đó là khoảng thời hạn kéo dài mà nhà cung cấp dành cho khách hàng. Thí dụ, một khách hàng mua hàng hóa chịu với thời hạn thanh thanh toán là 30 ngày, nhưng được người bán cho phép chịu trong 60 ngày nữa, như vậy lúc đó thời hạn tín dụng sẽ là 90 ngày. Lí do để xin gia hạn rất đa dạng và tất nhiên là xuất phát từ phía con nợ. Lí do phổ biến nhất là đến thời hạn thanh toán khoản tín dụng nhưng người đi vay không có khả năng trả nợ. Chủ nợ lúc đó hoàn toàn có quyền thanh lí tài sản của con nợ hoặc tiến hành khiếu kiện; nhưng trong một số trường hợp để giữ mối quan hệ lâu dài hoặc chủ nợ không cần thu hồi khoản nợ ấy ngay lập tức thì họ sẽ gia hạn tín dụng. Lí do thứ hai có thể gặp, trong các ngành có tính thời vụ cao, khi bước vào thời vụ sản xuất, con nợ đã có đủ khả năng thanh toán tín dụng nhưng họ đang cần vốn và nếu không kịp tích vốn thì thời vụ sản xuất sẽ qua đi; chính vì vậy nhà cấp tín dụng sẽ gia hạn cho nhà sản xuất, giúp cho nhà sản xuất có vốn yếu có thể tiếp tục sản xuất. Và tất nhiên khi nhà sản xuất đã có đủ vốn chớp được cơ hội kinh doanh và thu được lợi nhuận cao thì nhà cấp tín dụng cũng được hưởng nhiều lợi ích mà thấy rõ nhất là một khoản lãi suất cao. Việc gia hạn lãi suất thường kéo theo một số thay đổi trong hợp đồng tín dụng. Khi thời hạn thanh toán được cho phép kéo dài thì cũng đồng nghĩa với việc con nợ phải chấp nhận một số điều khoản nặng nề hơn trước, ví dụ như lãi suất cao hơn, hoặc phải có sự đảm bảo về khoản tín dụng đang vay khắt khe hơn...Đó cũng là điều dễ hiểu, bởi lẽ tại thời điểm khoản tín dụng đó đáo hạn nếu lãi suất cho vay trên thị trường cao hơn lãi suất trong hợp đồng cũ thì rõ ràng nhà cấp tín dụng bị thiệt. Nếu họ thu hồi được khoản nợ này thì họ hoàn toàn có thể cho người khác vay lại với lãi suất hiện hành và thu được lợi tức cao hơn. Chính vì vậy khi gia hạn họ cần phải điều chỉnh lãi suất là hoàn toàn hợp lí. Nói đến việc gia hạn tín dụng chúng ta có thể nhắc đến một khái niệm rất thú vị, đó là "nghệ thuật xin gia hạn". Hầu như việc xin gia hạn là rất khó để thành công bởi không hề dễ dàng để thuyết phục chủ nợ tin tưởng thêm một lần nữa và kéo dài thời hạn thanh toán. Tuy nhiên trong lịch sử quan hệ tín dụng đã có nhiều câu chuyện kể về những "vụ xin gia hạn thành công" của những nhân vật nổi tiếng, thậm chí là những nguyên thủ của một quốc gia. Năm 1982, Mexico trở thành một con nợ đang lâm vào tình cảnh khó khăn tài chính do họ vay tiền nước ngoài để tăng tiêu dùng trong nước cho dân chúng.Tổng thống Mexico đã bay sang New York, quy tụ hơn 20 ngân hàng lớn đã cho đất nước của ông vay tiền và tuyên bố như sau: “Thưa các quý vị, chúng tôi đã bị khánh tận. Và quý vị có biết câu ngạn ngữ này không: nếu một người vay của bạn 1.000 đô-la thì đó là vấn đề của anh ta. Nhưng nếu một người vay bạn 10 triệu đô-la, thì đó là vấn nạn của bạn. Vâng, chúng tôi chính là vấn nạn của quý vị. Chúng tôi không thể thanh toán cho quý vị được. Vậy xin quý vị làm ơn đàm phán lại, thay đổi hạn định thanh toán và tiếp tục cấp thêm tín dụng cho chúng tôi”. Và chủ các ngân hàng không còn cách gì hơn là gật đầu chấp nhận, bàn lại một vài phương thức gia hạn tín dụng (thông thường với mức lãi suất cao hơn).
Dated Securities / Chứng Khoán Ghi Ngày Hoàn Trả
Các chứng khoán đựoc ghi thành chứng khoán hoàn trả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn tuỳ thuộc vào thời gian đáo hạn
Dated Date / Ngày Ghi Sổ
Dated Date có nghĩa là: Ngày ghi sổ.Ngày đã ghi sổ hay ngày bắt đầu tính lãi là ngày tháng theo đó lãi tích luỹ được tính trên trái phiếu mới hay các phương thức nợ khác. Người mua trả cho nhà phát hành một số tương đương với lãi suất tích luỹ kể từ ngày đã ghi sổ đến ngày thanh toán trái phiếu. Tiền chi trả lãi suất đầu tiên của trái phiếu được làm lại cho người mua.
Date Of Record / Ngày Báo Sổ
Date Of Record có nghĩa là: Ngày báo sổ.Ngày báo sổ là ngày tháng mà cổ đông muốn được hưởng cổ tức phải sở hữu chính thức cổ phiếu.Thí dụ, Hội đồng quản trị công ty tuyên bố có cổ tức và ngày 1/11 và trả ngày1/12 đối với cổ đông được báo sổ ngày 15/11. Sau ngày báo sổ, chứng khoán không có cổ tức (Ex-dividend).
Data Encryption Standard (Des) / Tiêu Chuẩn Mã Hoá Dữ Kiện
Data Encryption Standard (DES) có nghĩa là: Tiêu chuẩn mã hoá dữ kiện.Tiêu chuẩn mã hoá dữ kiện là tiêu chuẩn được ngành tài chính thừa nhận nhằm bảo vệ các thông tin giao dịch mua bán bảo mật (sensitive transaction information) bao gồm: số cân đối tài khoản, mã số chứng minh ngân hàng (còn gọi là khoá số của nhà phát hành) và mã số mở tài khoản của người sử dụng (consumer account access codes). DES là tiêu chuẩn chung do Nation Institute of Standards and Technology phát hành và cũng được biết dưới tên DEA (Data Encryption Algorithm) và được ngành tài chính chấp nhận.
Data Capture / Hệ Thống Thu Dữ Kiện
Data Capture có nghĩa là: Hệ thống thu dữ kiện.Hệ thống thu dữ kiện là hệ thống điện tử thu hồi phiếu bán thẻ ngân hàng thương mại nhận trực tiếp từ hệ thống chi trả mua bán lẻ của thương buôn hay máy đăng ký tiền mặt điện tử (Electronic cash register). Hệ thống thu dữ kiện của ngân hàng còn được gọi là Draft Capture (hệ thống thu hồi phiếu) làm tăng tốc độ thu quỹ cho các ngân hàng thương nghiệp xử lý thẻ và các tài khoản thương nghiệp của họ bằng cách loại bỏ thời gian trôi nổi của thư tín trong việc xử lý phiếu ghi thẻ ngân hàng.
Data / Số Liệu, Dữ Liệu
Các quan sát về độ lớn của các hiện tượng kinh tế như thu nhập quốc dân, thất nghiệp, mức giá bán lẻ…
Số Liệu, Dữ Liệu (Data) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Darvas Box Theory / Lý Thuyết Hộp Darvas
Đây là một chiến lược mua bán được phát triển vào năm 1956 bởi một vũ công có tên là Nicolas Darvas. Kĩ thuật mua bán Darvas chính là việc mua cổ phần khi nó được giao dịch với khối lượng lớn ở mức giá cao trong tuần thứ 52 liên tiếp. Thực chất đây là kĩ thuật phân tích có sử dụng đến các bảng biểu. Darvas theo dõi sự biến động của giá cả, các hành vi trên thị trường, số lượng giao dịch mỗi tuần, đồng thời phân tích các thông tin về giá trần, giá sàn, giá đóng của của cổ phiếu do người môi giới của ông ta cung cấp. Darvas tìm kiếm các cổ phiếu có sự biến động lớn về giá và giao dịch với khối lượng lớn. Khi tin rằng những người mua một loại cổ phiếu nào đó là người nắm chắc thông tin, ông ta cũng sẽ tiến hành mua vào loại cổ phiếu này. Ví dụ, khi đang khiêu vũ ở Calcutta, ông ta nghe thấy một vị bá tước nói rằng cổ phiếu của E. L. Bruce đang tăng mạnh. Giá tăng từ 16 tới 50 trên số lượng giao dịch là 35000 cổ phiếu. Ông ta mua một lượng ở giá 51 và bán khi giá lên tới 171 vào sáu tuần sau. Một chiếc hộp Darvas sẽ được làm khi giá cổ phiếu tăng cao hơn mức kỉ lục của 52 tuần trước, nhưng lại bị giảm về mức xấp xỉ giá kỉ lục ngay sau đó. Nếu như giá giảm nhiều, đây có thể là dấu hiệu bất ổn, ngược lại nếu giảm không nhiều, mức giá này sẽ được sử dụng làm đáy của chiếc hộp, mức giá cao sẽ đóng vai trò là nắp hộp. Thông qua những tính toán khéo léo, Davas đã tạo ra một chiếc hộp cho thấy phạm vi thay đổi và biên độ giao động của giá từ mức cao nhất tới mức thấp nhất, từ đó có thể thấy được loại cổ phiếu nào có thể đem lại mức lợi nhuận cao nhất. Vào năm 1956, Darvas có thể làm một khoản đầu tư trị giá 10.000 $ sinh sôi nảy nở lên tới 2triệu $ trong vòng 18 tháng. Trên đường đi tham dự buổi khiêu vũ của mình, Davas có thể mua một bản copy của tờ The Wall Street Journal and Barron's, tuy nhiên không cần nghiên cứu nhiều, chỉ đơn thuần nhìn vào giá cổ phiếu là ông ta đã có thể đưa ra quyết định đầu tư hay không. Người ta nói rằng việc Darvas kiếm được món hời như vậy không khiến ông ta hạnh phúc bằng việc giúp cho người khác không phải lo lắng nhiều khi tiến hành đầu tư dựa trên lý thuyết của mình. Những người nghi ngờ kĩ thuật mua bán của Darvas thì cho rằng sự thành công của ông ta là do ông ta tiến hành mua bán chứng khoán trong thị trường giá lên (bull market). Họ cũng lý luận rằng nếu như đầu tư trong thị trường giá xuống thì không thể đạt được khoản lợi nhuận lớn như vậy nếu sử dụng kĩ thuật Darvas.
Damped Cycle / Chu Kỳ (Có Biên Độ) Giảm Dần; Chu Kỳ Tắt
Còn gọi là chu kỳ đồng quy. Một trong một loạt các biến động chu kỳ với một biên độ GIẢM DẦN theo thời gian
Damage Cost / Chi Phí Bồi Thường Thiệt Hại; Chi Phí Bù Đắp Thiệt Hại; Chi Phí Thiệt Hại
Là chi phí phải trả cho thiệt hại gây ra, thường là thiệt hại do ô nhiễm
Daisy Chain / Mua Bán Giữa Người Đầu Cơ Giá Thị Trường
Daisy chain - tức mua bán giữa người đầu cơ giá thị trường (market manipulators) để tạo ra một nhu cầu giả tạo về số lượng mua bán như mồi nhử lôi cuốn nhà đầu tư hợp pháp. Khi những người mua bán này tăng giá lên, nhà đầu cơ giá tung những chứng khoán trái phiếu ra, sau đó bỏ mặc cho những nhà đầu tư thiếu cảnh giác ôm số chứng khoán khoán đó vì không có người mua lại.





