Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Decile / Thập Phân Vị

Là số liệu mẫu hoặc là số đo vị trí của một phân phối.

Thập Phân Vị (Decile) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Thập Phân Vị (Decile) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

Debt-To-Capital Ratio / Tỷ Lệ Nợ Trên Vốn

Đây là chỉ số đo lường quy mô tài chính của một doanh nghiệp cho biết trong tổng nguồn vốn của nó thì nợ chiếm bao nhiêu phần trăm. Nợ của doanh nghiệp bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Tổng vốn của doanh nghiệp gồm các khoản nợ của doanh nghiệp và vốn chủ sở hữu - hay vốn cổ phần của các cổ đông, bao gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, các khoản lãi phải trả và nợ ròng. Chỉ số này được tính theo công thức sau: Tỷ lệ nợ trên vốn = Nợ / (vốn cổ phần của cổ đông + nợ) Các doanh nghiệp có thể chi trả cho hoạt động của mình thông qua các khoản nợ hoặc phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Chỉ số trên sẽ cho ta một cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, và làm thế nào doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động của nó. Tỷ lệ này mà càng cao thì số nợ trong tổng vốn càng cao từ đó các nhà đầu tư có thể thấy được là doanh nghiệp có sẵn sàng vay nợ hay là sẽ phát hành thêm cổ phiếu để có thêm vốn hoạt động. Doanh nghiệp nào có tỷ lệ nợ trên vốn cao so với mức bình quân ngành thì doanh nghiệp đó có thể có tình hình tài chính không khả quan lắm vì các khoản nợ sẽ làm gia tăng gánh nặng cũng như mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều biến số trong công thức trên. Do đó cần phải xem xét một cách thận trọng các nhân tố được dùng để tính toán tỷ lệ này trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Debt-Service Coverage Ratio - DSCR / Tỉ Lệ Nợ Khả Chi

Trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, đó là khoản tiền mặt hiện có của công ty để chi trả cho các khoản lãi vay và nợ gốc hàng năm, bao gồm cả các khoản chi cho quỹ đầu tư.Trong lĩnh vực tài chính công thì đây là khoản thu nhập cần thiết từ xuất khẩu để chi trả các khoản lãi vay và nợ gốc hàng năm của chính phủ đối với các tổ chức và chính phủ nước ngoài. Về phương diện tài chính tư thì đây là tỉ lệ được các nhân viên tín dụng của ngân hàng sử dụng để tính toán thu nhập từ các khoản cho vay của ngân hàng. Nếu tỉ lệ này lớn hơn 1 thì có nghĩa là tài sản của ngân hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận đủ để chi trả cho các món nợ của ngân hàng đó.  Thông thường tỷ lệ này được tính bởi công thức: DSCR = Thu nhập ròng / tổng nợ      Nếu như tỉ lệ này nhỏ hơn 1 có nghĩa là dòng tiền có các dấu hiệu xấu. Ví dụ tỉ lệ DSCR = 0.95 có nghĩa là thu nhập dòng của doanh nghiệp chỉ có thể trả được 95% số nợ hàng năm của doanh nghiệp. Đối với lĩnh vực tài chính tư nhân thì tỷ lệ này có nghĩa là người đi vay sẽ phải thắt chặt chi tiêu hàng tháng để có thể trả hết số nợ của mình. Thông thường thì người cho vay sẽ không yên tâm nếu có các dấu hiệu bất ổn đối với dòng tiền, tuy nhiên một số người vẫn đồng ý cho vay nếu như người đi vay có thu nhập cao từ các hoạt động khác. Thực tế chẳng có cách nào để nhà đầu tư có thể kiểm soát được tình trạng nợ nần của công ty một cách dễ dàng và nhanh chóng. Tuy nhiên để có những phân tích ban đầu về công ty mà anh ta định đầu tư thì tỉ lệ nợ chính là một cách thức hết sức hiệu quả để cơ bản đánh giá tiềm lực của công ty. Xem xét tình huống hiện tại và quá trình hoạt động theo thời gian, tỉ lệ nợ của công ty có thể cung cấp những dấu hiệu vô cùng giá trị về tình trạng tài chính của công ty, liệu rằng công ty có đang ngập trong nợ nần hay không. Nhận thức được tình huống này có thể giúp cho các quyết đinh của nhà đầu tư có một mức độ an toàn nhất định. Mặc dù tỉ lệ nợ khả chi cung cấp rất ít dấu hiệu về triển vọng tăng trưởng trong  tương lai của công ty song tỉ lệ này lại là một công cụ quan trọng trong đo lường mức độ cân đối về tài chính của doanh nghiệp. Ví dụ như khi tình trạng suy thoái xảy ra hoặc chu kì kinh doanh đang ở trong giai đoạn tụt dốc thì sự cân bằng về mặt tài chính là nhân tố vô cùng quan trọng đối với nhà đầu tư. Nó cho biết liệu công ty có địa vị tài chính đủ mạnh để vượt qua giai đoạn khó khăn này hay không và do đó quyết định đầu tư của họ có đúng đắn hay không.

Debtor / Người Nợ/ Bên Nợ/ Con Nợ

Là người đã nhận từ người khác một khoản tiền hoặc tài sản hoặc nghĩa vụ gì đó. Để hoàn trả những thứ đã nhận từ chủ nợ, người nợ phải hứa sẽ hoàn lại khoản trả vào một lúc nào đó trong tương lai. Nếu người nợ không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ của mình vào hạn cuối, những biện pháp nhằm đòi lại số bị nợ sẽ được tiến hành. Đôi khi tài sản, tiền lương, hoặc tài khoản ngân hàng sẽ bị chủ nợ kiểm soát nhằm đảm bảo việc trả nợ của người vay nợ.

Debt/Equity Ratio; D:E / Tỷ Lệ Nợ Trên Vốn Cổ Phần

Debt/Equity Ratio; D:E (DER). Đây là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty được tính bằng cách chia tổng nợ cho vốn cổ phần. Nó cho ta biết về tỉ lệ nợ và cổ phần mà công ty sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Công thức tính:   DER = Tổng nợ / Tổng tài sản   Lưu ý : đôi khi chỉ có các khoản nợ dài hạn mới được dùng để tính chỉ số này chứ không phải tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp.   Thông thường nếu DER ở mức cao có nghĩa là công ty thường thông qua các khoản nợ để chi trả cho các hoạt động của mình. Điều này sẽ dẫn đến thu nhập không ổn định, vì công ty thường phải trả các khoản lãi phát sinh.   Nếu một công ty vay nợ nhiều để chi trả cho mức chi phí hoạt động cao của mình (tức là có tỷ lệ DER cao) thì nó có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn so với việc phát hành cổ phiếu. Và nếu lợi nhuận công ty thu được cao hơn nhiều so với chi phí đi vay thì các cổ đông của công ty cũng sẽ thu được nhiều lợi ích. Tuy nhiên lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư và kinh doanh bằng khoản tiền đi vay có thể sẽ không bù đắp được các chi phí đi vay dẫn tới việc công ty có thể sẽ bị phá sản. Và tất nhiên khi công ty phá sản thì các cổ đông cũng chẳng còn gì. Vì vậy vay nợ hay phát hành thêm cổ phiếu là một bài toán khó đối với các doanh nghiệp, và DER chính là con số thể hiện hiệu quả về mặt tài chính của công ty.   Tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần cũng phụ thuộc nhiều vào ngành, lĩnh vực mà công ty hoạt động. Ví dụ, các ngành cần sử dụng nhiều vốn như sản xuất ôtô thì tỷ lệ DER có xu hướng cao hơn 2, trong khi các công ty máy tính cá nhân thì chỉ có mức DER dưới 0.5%.   Trong nhiều trường hợp, người ta còn sử dụng cả Debt-to-Equity, và viết là D:E. Khi này, người ta biểu đạt theo tỷ lệ sao cho tổng Debt và Equity là 100 (%), chẳng hạn D:E = 40:60, ngụ ý 40% tài sản công ty hình thành từ nguồn vay nợ.

Debt Signaling / Tác Động Tín Hiệu Của Nợ

Đây là một lý thuyết phát biểu rằng thị trường thường có những phản ứng tích cực đối với các thông báo về việc vay nợ của doanh nghiệp. Một thông báo về sự phát hành thêm nợ được xem là một thông tin tín hiệu tốt cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư tin tưởng, khi công ty đồng ý gia tăng nợ đồng nghĩa với việc gia tăng các khoản lãi vay phải  trả thì chắc chắn tình hình tài chính của doanh nghiệp đó phải rất ổn định. Và ngược lại một thông báo cắt giảm nợ trong tương lai sẽ tạo ra một tác động tín hiệu xấu cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư bắt đầu nghi ngờ doanh nghiệp không còn đủ khả năng để trả lãi vay nữa và chắc hẳn doanh nghiệp đang rơi vào vị thế tài chính yếu. Nhiều kết quả nghiên cứu thống kê cho thấy, các thông báo về việc gia tăng nợ và các tác động tín hiệu của nó ra thị trường thật sự đã chứng minh được sự tồn tại hợp lý của lý thuyết trên trong thực tế. Về sau lý thuyết này đã được các nhà khởi xướng về lý thuyết thị trường không hiệu quả sử dụng. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một điều: các nhà đầu tư không phải luôn khôn ngoan và sáng suốt, không phải lúc nào họ cũng nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo. Một chính sách gia tăng nợ của công ty có thể lại tạo tác động tín hiệu xấu nếu các nhà đầu tư lo ngại doanh nghiệp đang mắc nợ quá nhiều và có thể mất khả năng thanh toán. Thực hiện một cấu trúc vốn tối ưu trong từng giai đoạn ra sao, quyết định tỷ trọng nợ như thế nào cho hợp lý, làm sao để tác động tín hiệu nợ ra thị trường là tích cực như mong đợi vẫn luôn là một bài toán đau đầu các nhà quản trị.

Debt Servicing Capacity / Khả Năng Thanh Toán

Khả năng thanh toán, khả năng chi trả: là khả năng của người đi vay có thể hoàn trả cả gốc lẫn lãi của một khoản nợ. Đây là một trong những tiêu chí rất quan trọng được sử dụng để đánh giá rủi ro tài chính của một công ty. Liên quan đên trái phiếu đô thị (municipal bond), khả năng thanh toán được hiểu là khả năng của người phát hành (chính quyền bang, thành phố, địa phương) tạo ra đủ nguồn thu thuế để thanh toán tất cả các nghĩa vụ cam kết (toàn bộ số tiền phải trả cho người mua trái phiếu khi đến hạn, gồm cả trái tức). Để đánh giá khả năng thanh toán trong hoàn cảnh này người ta thường xem xét tất cả các yếu tố liên quan đến giá trị tài sản và nguồn thu nhập của người phát hành trái phiếu. Trong lĩnh vực thuế khóa, khả năng thanh toán liên quan trực đến thu nhập của một cá nhân. Trong hoàn cảnh này khả năng thanh toán chính là căn cứ đánh thuế, hay nói cách khác, ai có thu nhập cao hơn thì đóng thuế nhiều hơn. Nguyên lý này được phát triển bởi nhà triết học người Thụy Sĩ  Jean-Jacques Rousseau (1712 - 1778), nhà kinh tế chính trị học người Pháp Jean-Baptiste Say (1767-1832) và nhà kinh tế học người Anh John Stuart Mill (1806-1873). Nguyên lý đánh thuế theo khả năng thanh toán (Ability to pay principle) được coi là nguyên lý đánh thuế công bằng nhất, là đặc trưng của CNXH,  và được sử dụng ở hầu hết các nước phát triển.

Debt Rescheduling / Giãn Nợ

Giãn nợ là việc hoãn lại các khoản nợ phải trả và áp dụng thời gian đáo hạn mới (kéo dài hơn) đối với khoản nợ được hoãn. Giãn nợ là một biện pháp giúp đỡ người vay nợ thoát khỏi gánh nặng nợ trước mắt bằng cách hoãn đòi nợ và trong nhiều trường hợp nghĩa vụ trả nợ cũng sẽ được chủ nợ giảm bớt.

Debt Management / Quản Lý Nợ

Cụm thuật ngữ này được sử dụng thường liên quan đến công nợ, để chỉ các hoạt động của cơ quan cho vay nợ của NGÂN HÀNG trung ương, thay mặt cho cơ quan vay nợ, để điều chỉnh quy mô và cơ cấu các khoản nợ chưa trả.

Debt For Equity Swaps / Hoán Chuyển Nợ Thành Cổ Phần

Kỹ thuật được đề ra để giúp các nước thuộc khối phía Đông và các nước kém phát triển giảm bớt gánh nặng nợ nần bằng cách chuyển đổi các khoản nợ của một hãng hay chính phủ thành vốn cổ phần.

Debt Finance / Tài Trợ Bằng Vay Nợ

Khái niệm này có hai nghĩa riêng biệt nhưng đều liên quan đến việc vay mượn. Khái niệm này để chỉ các công ty đi vay để tài trợ cho các nghiệp vụ của mình. Các chính phủ cũng đi vay để tài trợ cho các hoạt động của mình và để điều chỉnh các hoạt động tổngt thể của nền kinh tế.

Tài Trợ Bằng Vay Nợ (Debt Finance) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tài Trợ Bằng Vay Nợ (Debt Finance) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Debt Crisis / Khủng Hoảng Nợ

Khủng hoảng nợ nhằm ám chỉ cuộc khủng hoảng nợ ở Châu Mỹ Latinh thời kì đầu những năm 1980 (và một số nước còn bắt đầu từ những năm 1970), thường được biết đến cái tên Thế Kỉ Mất Mát (Lost Decade), khi đó các quốc gia trong khu vực này rơi vào cảnh nợ nước ngoài vượt quá khả năng kiếm tiền và không còn khả năng trả nợ. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ này là do vào những năm 60, 70, các nước Châu Mỹ Latinh như Brazil, Argentina và Mexico vay mượn một số tiền lớn từ các nhà cho vay tín dụng quốc tế để thực hiện công nghiệp hóa, đặc biệt là đầu tư vào các chương trình cải thiện và xây dựng cơ sở hạ tầng. Những nước này thời đó có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh vì vậy các nhà cho vay tín dụng rất tin tưởng vào khả năng trả nợ. Giữa năm 1975 và 1982, Châu Mỹ Latinh nợ các ngân hàng thương mại tăng với tốc độ tích lũy 20,4%/năm. Vay mượn tràn lan khiến Mỹ latinh bị nợ nhiều gấp 4 lần từ 75 tỉ đôla vào 1975 đến hơn 315 tỉ đôla vào năm 1983, chiếm tới 50% tổng thu nhập quốc nội của khu vực. Khi nền kinh tế thế giới bước vào thời kì suy thoái thập kỉ 70 và 80, giá dầu tăng đột biến, tạo ra một điểm phá đối với hầu hết các nền kinh tế trong khu vực. Các nước đang phát triển còn nhận thấy việc thiếu trầm trọng về tính lỏng. Các nước xuất khẩu dầu lửa - có lượng tiền mặt dồi dào sau khi giá dầu tăng năm 73-74 - đã đầu tư tiền của mình vào các ngân hàng quốc tế, điều đó tạo ra một phần vốn mà các ngân hàng sử dụng để cho các nước Mỹ Latinh vay. Khi lãi suất gia tăng ở Mỹ và Châu Âu năm 1979, các khoản nợ phải trả cũng tăng cao hơn khiến việc trả nợ đối với các nước vay mượn trở nên khó khăn. Trong khi tổng số nợ tích lũy dâng lên ngập đầu qua các năm, cuộc khủng hoảng bắt đầu khi các thị trường vốn quốc tế nhận ra rằng Châu Mỹ Latinh không có khả năng trả nợ. Điều này xảy ra vào tháng 8 năm 1982 khi Bộ trưởng tài chính Mexico Jesus Silva-Herzog tuyên bố rằng nước này không có khả năng trả nợ. Bị tỉnh giấc bởi tuyên bố vỡ nợ của Mexico, hầu hết các ngân hàng thương mại giảm mạnh hoặc ngừng hẳn việc cho các nước Mỹ Latinh vay. Bởi vì hầu hết các khoản vay của Mỹ Latin và vay ngắn hạn, cuộc khủng hoảng xảy ra khi các khoản vay tiếp tục của họ bị từ chối. Hàng tỉ đôla được vay trước đó giờ đã đến hạn, và các nước này có lẽ đã trả được nếu họ tiếp tục được vay thêm để đập vào. Để đối phó với cuộc khủng hoảng, hầu hết các nước Mỹ Latinh đã từ bỏ chiến lược Công Nghiệp Hóa Thay Thế Nhập Khẩu và thay vào đó bằng chiến lược Công Nghiệp Hóa Hướng Ra Xuất Khẩu. Các nguồn vốn rất khổng lồ chảy ra bên ngoài đặc biệt là chảy sang Mỹ, đã được sử dụng để làm tỉ giá hối đoái giảm, từ đó làm tăng tỉ suất lợi nhuận thực tế.

Debt / Nợ

Trách nhiệm hoặc khoản tiền nợ nảy sinh do vay mượn về tài chính hay nhận các hàng hoá hoặc dịch vụ dưới dạng tín dụng tức là sẽ trả sau.

Debt / Khoản Nợ

Là lượng tiền mà một cá nhân hoặc một công ty nợ một cá nhân hoặc một tổ chức khác. Các khoản nợ phát sinh từ việc vay tiền để mua hàng hóa dịch vụ hoặc các tài sản tài chính khác. Một khoản nợ được tạo ra khi một người cho vay đồng ý cho người đi vay vay một lượng tài sản nhất định. Trong xã hội ngày nay người cho vay thường yêu cầu người đi vay trả lãi trong thời gian vay. Có rất nhiều loại nợ khác nhau trong đó bao gồm khoản nợ bằng tiền, bằng trái phiếu hoặc bằng kì phiếu. Nợ, đặc biệt là các khoản nợ lớn có thể được thực hiện thông qua thế chấp hoặc bảo đảm bằng chính tài sản của người đi vay và do vậy mà chủ nợ sẽ có quyền đối với tài sản đó trong trường hợp người đi vay không có khả năng trả nợ. Nợ tiền là hình thức nợ phổ biến nhất trong đó người cho vay cam kết sẽ cho vay một lượng tiền nhất định trong một khoảng thời gian cố đinh, và sẽ được hoàn trả vào một ngày xác định. Lãi đối với các khoản vay được tính bằng tỉ lệ phần trăm của khoản nợ ban đầu, thời gian tính là theo năm. Trái phiếu là một loại chứng khoán nợ được phát hành bởi một số cơ quan nhất định như là các công ty hoặc chính phủ. Người nắm giữ trái phiếu sẽ được nhận lại số tiền ban đầu cho vay cũng như tiền lãi trong khoản thời gian cho vay. Khi một công ty cần vay tiền họ sẽ phát hành trái phiếu cho các nhà đầu tư tại các thị trường. Trái phiếu thường có một thời hạn nhất định, thường tính bằng năm. Đến ngày trái phiếu đáo hạn thì người nắm giữ trái phiếu sẽ đựơc hoàn trả đầy đủ số tiền. Lãi suất có thể được trả vào cuối kì hạn hoặc trả theo định kì cho tới khi trái phiếu đáo hạn. Trái phiếu thường được mua bán ở thị trường trái phiếu và được sử dụng rộng rãi như là một công cụ an toàn hơn so với cổ phiếu.

Debreu Gerard / (1921- 2004)

Nhà kinh tế toán học người Mỹ gốc, Pháp, người giành giải Nobel về kinh tế học năm 1983 nhờ công trình nghiên cứu về thuyết "Cân bằng tổng thể". Debreu đã xem xét chi tiết vấn đề mà SMITH và WALRAS nêu ra, cụ thể là một hệ thống thị trường phi tập trung có thể đem lại sự phối hợp mong muốn của các kế hoạch cá nhân như thếnào. Trong nghiên cứu cùng với ARROW, ông đã chứng minh được sự tồn tại của các giá cả tạo ra cân bằng, bằng cách đó khẳng định logic trong quan điểm của SMITH - WALRAS. Debreu đã trả lưòi được 2 vấn đề tiếp theo trong lĩnh vực này. Thứ nhấtt ông xác định được các điều kiện mà BÀN TAY VÔ HÌNH của NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG sẽ đảm bảo HIỆU QUẢ PHÂN PHỐI. Thứ hai, ông đã phân tích vấn đề ổn định cân bằng của một nền kinh tế thị trường để chỉ ra rằng trong các nền kinh tế lớn có nhiều tác nhân thị trường thì cân bằng thị trường có thể ổn định được. Cuốn sách chính của ông HỌC THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ (1959) gây được tiếng vang lớn vì tính toàn thể và cách tiếp cận phân tích vấn đề. Đối với Debreu, một mô hình cân bằng tổng thể như thế có thể hoà nhập với lý thuyết phân bổ, lý thuyết về vốn và lý thuyết hành vi trong điều kiện không chắc chắn.

Debit Card / Thẻ Ghi Nợ

Thẻ ghi nợ là thẻ điện tử do một ngân hàng phát hành cho phép khách hàng có thể rút tiền từ tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc có thể vay với một hạn mức nhất định để chi trả cho các hàng hoá và dịch vụ mà anh ta mua. Về mặt hình thức thì đây là một tấm thẻ bằng nhựa tương tự giống như thẻ tín dụng tuy nhiên chức năng của nó thì lại giống như việc kí một tờ séc vì chủ thẻ có thể rút tiền trực tiếp từ tài khoản của họ. Một số thẻ ghi nợ kiểu này còn được gọi là thẻ séc. Về quy trình sử dụng thẻ như sau : Thẻ ghi nợ của khách hàng sẽ được đưa qua bộ phận đọc thẻ và chủ thẻ thường phải nhập số lượng giao dịch trước khi nhập mã số pin. Thường thì sẽ phải chờ để dịch vụ chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng (Electronic Funds Transfer at Point of Sale) kết nối với hệ thống máy tính ( thường qua đường điện thoại hoặc mobile) để chứng nhận và cho phép thực hiện giao dịch. Lợi ích lớn nhất của loại thẻ này là nó mang tới sự thuận lợi và an toàn. Cùng với việc giúp cho khách hàng có thể rút tiền vào bất cứ lúc nào, thẻ này còn giảm các thủ tục có liên quan đến việc ký séc như phải xuất trình chứng minh thư hay là trả các loại phí có liên quan. Thẻ ghi nợ cũng là một cách thanh toán an toàn hơn do tài khoản của bạn bị mã khoá và chỉ có thể tiếp cận tài khoản này nếu nhập đúng mã số pin, trong khi đó thì séc thì rất dễ bị mất.  Ở nhiều quốc gia thì thẻ ghi nợ được sử dụng rất phổ biến với nhiều mục đích khác nhau. Giống như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ thường được sử dụng vào mục đích mua hàng qua điện thoại hoặc qua mạng. Vào các dịp mua sắm lớn như giáng sinh, vì khối lượng giao dịch rất lớn nên việc sử dụng thẻ ghi nợ là tối ưu để tránh phải xếp hàng chờ quá lâu.

Debenture / Trái Khoán

Trái khoán là một công cụ nợ không được bảo đảm bằng các tài sản hữu hình hoặc kí quỹ nào mà nó chỉ được đảm bảo bằng mức độ tin cậy về khả năng trả nợ hay là uy tín của chính công ty phát hành trái khoán. Cả chính phủ và các doanh nghiệp đều thường xuyên phát hành loại trái khoán này để huy động vốn. Giống với các loại chứng khoán khác, trái khoán được phát hành dưới dạng các tờ trái khoán. Trái khoán không có bất kì một khoản kí quỹ bảo đảm nào. Người mua chứng khoán thường mua trái khoán dựa vào niềm tin của họ về việc người phát hành trái khoán sẽ không vi phạm nghĩa vụ trả nợ của họ. Ví dụ: chính phủ thường phát hành hai loại trái khoán là trái phiếu kho bạc ( treasury bond) và kỳ phiếu kho bạc( treasury bill). Các nhà đầu tư mua hai loai trái phiếu này vì chúng được coi là trái phiếu không chứa đựng rủi ro vì họ sẽ luôn được thanh toán. Cho dù trường hợp xấu nhất có xảy ra thì chính phủ cũng có thể in thêm tiền hoặc tăng thuế để trả nợ.

Debased Coinage / Tiền Kim Loại

Xem coinage, gresham's law, bad money drives out good

Tiền Kim Loại (Debased Coinage) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Tiền Kim Loại (Debased Coinage) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

Dear Money; Tight Money / Tiền "Đắt"

Tiền "đắt" ám chỉ những khoản tiền được vay mượn trong tình huống việc vay tiền hoặc vay nợ trong nước là rất khó khăn. Nếu như may mắn có cơ hội vay được tiền thì lãi suất của khoản tiền vay được thường là rất cao, còn gọi là "tight money." Tình huống này có thể là do việc thắt chặt chính sách tiền tệ, hạn chế lượng cung tiền của một quốc gia dẫn tới việc đẩy lãi suất lên cao theo quy luật cung cầu. Thông thường, các doanh nghiệp sẽ rất khó khăn trong việc huy động vốn suốt thời kỳ tiền vay có lãi suất cao này. Các quốc gia thường áp dụng chính sách hạn chế cung tiền khi có cảnh báo hoặc bằng chứng lạm phát đang leo thang, hoặc nền kinh tế phát triển quá nóng. Việc tăng cao lãi suất theo lộ trình còn giúp nền kinh tế đạt trạng thái "hạ cánh mềm" hoặc "giảm nhiệt an toàn."

Dealer / Người Buôn Bán

dealer ['di:lə(r)] danh từ (1) ~ (in sth) a person who trades in sth: người buôn bán; a used-car dealer: một người buôn bán ô tô cũ; a furniture dealer: một người buôn bán đồ gỗ gia dụng; a dealer in (ie sb who buys and sells) stolen goods: một người mua bán đồ ăn cắp. (2) the person who distributes athe cards in a card-game: người chia bài (3) dealership n (a) the position, business of privileges of a dealer: vị thế làm ăn hay ưu đãi đặc quyền của thương nhân. (b) a company with the authority to trade in sth: một công ty có quyền buôn bán thứ gì.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55